1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tổng hợp bài tập kinh tế bảo hiểm

38 993 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Tập Bảo Hiểm
Tác giả Ha Pham
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học DUE Banking
Chuyên ngành Insurance
Thể loại bài tập
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 5,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ha Pham DUE Banking BAN 3015 Insurance 1 BÀI TẬP BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI Bài 1 Có số liệu thống kê 5 năm về tình hình tai nạn giao thông có phát sinh TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba đối với loại xe tải trên 5 tấn như sau Năm Số xe hoạt động (chiếc) Số vụ tai nạn (Vụ) Thiệt hại bình quân một vụ (triệu đồng) 1 1 000 000 11 400 7,5 2 1 100 000 10 600 7,8 3 1 200 000 11 900 7,9 4 1 300 000 13 000 8,7 5 1 400 000 13 700 9,2 Yêu cầu Xác định phí bảo hiểm cho mỗi đầu xe tải cho năm thứ 6 Biết.

Trang 1

Ha Pham - DUE Banking BAN 3015 - Insurance

Thiệt hại bình quân một vụ (triệu đồng)

∑𝑛𝑖=1𝐶𝑖Trong đó:

Si – Số vụ tai nạn có phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe được bảo hiểm bồi thường trong năm i

Ti – Số tiền bồi thường bình quân 1 vụ tai nạn có phát sinh TNDS trong năm i

Ci – Số đầu phương tiện tham gia bảo hiểm TNDS trong năm i

n – Số năm thống kê, thường từ 3 – 5 năm, i = (1, n)

Như vậy, f thực chất là số tiền bồi thường bình quân trong thời kỳ n năm cho mỗi đầu phương tiện tham gia bảo hiểm trong thời kỳ đó

Phí thuần là 0,083555 triệu đồng/ xe hay 83.555 đồng/ xe

Nếu tỉ lệ phụ phí chiếm 20% thì phí thuần f sẽ chiếm 80% trong tổng phí bảo hiểm tính cho mỗi đầu xe Từ đó ta

có phí bảo hiểm năm thứ 6 cho mỗi đầu xe là:

83.555

104.4430,8 0,8

Trang 2

Ha Pham - DUE Banking BAN 3015 - Insurance

2

Bài 2: Ngày 29/09/2013, xe ô tô của ông Hoàng gây tai nạn cho xe của ông Hùng, thiệt hại về người là 20 triệu

đồng, thiệt hại về tài sản là 120 triệu đồng Ông Hoàng đã tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty bảo hiểm Bưu điện Vậy trách nhiệm của công ty bảo hiểm như thế nào? Biết rằng, vào thời điểm xảy ra tai nạn, hạn mức trách nhiệm của công ty bảo hiểm là 100 triệu đồng/vụ đối với tài sản và 100 triệu đồng/người/vụ tai nạn

Giải

• Ông Hoàng phải đền cho ông Hùng tất cả thiệt hại đã gây ra

• Về phía công ty bảo hiểm:

- Vào thời điểm xảy ra tai nạn, hạn mức trách nhiệm của công ty bảo hiểm là 100 triệu đồng/vụ đối với tài sản và

100 triệu đồng/người/vụ tai nạn

- Vậy, Bảo hiểm bưu điện bồi thường cho ông Hoàng 20 triệu đồng về trách nhiệm đối với tài sản và 100 triệu đồng về trách nhiệm đối với con người

Bài 3: Xe B tham gia b ảo hiểm thiệt hại vật chất xe cơ giới tại Bảo Việt với số tiền bảo hiểm 240.000.000 VNĐ

Xe bị lật đổ, thiệt hại và chi phí phát sinh như sau:

 Dự tính chi phí sửa chữa xe: 40.000.000 VNĐ

 Chi phí kéo, cẩu xe: 3.000.000 VNĐ

Yêu cầu: Xác định số tiền bồi thường của người bảo hiểm trong vụ tai nạn trên? Biết rằng: Giá trị xe là 300.000.000 VNĐ và tai nạn xảy ra trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm

Giải

STBT = (40.000.000 + 3.000.000) x (240.000.000/300.000.000) = 34.400.000 VNĐ

Bài 4: Xe ô tô M tham gia bảo hiểm toàn bộ tổng thành thân vỏ xe, tổng thành động cơ và bảo hiểm TNDS của

chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 ở công ty bảo hiểm A từ ngày 1/1/2003 Số tiền bảo hiểm thân vỏ xe bằng 50%

và số tiền bảo hiểm tổng thành động cơ bằng 15% so với giá trị thực tế xe Ngày 5/10/2003, xe bị tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm Tổng thành thân vỏ thiệt hại toàn bộ, tổng thành động cơ hư hỏng thiệt hại 15.000.000 đồng Yêu cầu : Hãy xác định số tiền bồi thường thực tế của công ty bảo hiểm A ?

Biết rằng: Khi tham gia bảo hiểm giá trị thực tế chiếc xe là 400.000.000 đồng và xe còn mới nguyên Tỷ lệ khấu hao của xe là 5% mỗi năm

Giải

Nguyên giá xe M = 400.000.000 đồng

Giá trị xe M ngay trước khi xảy ra tai nạn = 400.000.000 - 400.000.000 x (9 x 5%/12) = 385.000.000 đồng Công ty BH A bồi thường:

- Thiệt hại thân vỏ: 385.000.000 x 50 % = 192.500.000 (đ)

- Thiệt hại động cơ: 15.000.000 đồng < 400.000.000 x 15% = 60.000.000 đồng

Tổng số tiền bồi thường = 192.500.000 + 15.000.000 = 207.500.000 đồng

Trang 3

Ha Pham - DUE Banking BAN 3015 - Insurance

3

Bài 5: Chủ xe ô tô A tham gia bảo hiểm toàn bộ tổng thành thân vỏ xe và bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ

xe đối với người thứ ba tại Công ty bảo hiểm X từ ngày 01/01/2010 Số tiền bảo hiểm thân vỏ xe bằng 51% so với giá trị thực tế của xe Ngày 26/9/2010 xe A đâm va với xe B Theo giám định xe A có lỗi 70% và hư hỏng toàn bộ, giá trị tận thu là 10.000.000 đồng Xe B có lỗi 30%, hư hỏng phải sửa chữa hết 5.000.000 đồng, thiệt hại kinh doanh là 4.000.000 đồng Chủ xe B mua bảo hiểm toàn bộ vật chất thân xe và bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe đối với người thứ ba tại Công ty bảo hiểm Y

Yêu cầu: Hãy xác định số tiền phải bồi thường thực tế của mỗi công ty bảo hiểm và thiệt hại phải tự chịu của mỗi chủ xe?

Biết rằng: Xe A đã sử dụng được 4 năm, khi tham gia bảo hiểm, giá trị toàn bộ thực tế của xe là 540.000.000 đồng Tỷ lệ khấu hao của xe mỗi năm là 5% Các công ty bảo hiểm đều khống chế trách nhiệm của mình ở mức: 50.000.000 đồng tài sản/vụ tai nạn và 50.000.000 đồng/người/vụ tai nạn

- Kinh doanh: 4 triệu đồng

- Trách nhiệm dân sự: 30%  504,69 = 151,41 triệu đồng

B2: Bảo hiểm bồi thường

Xe A: - Vật chất: 504,69  51% = 257,39 (triệu đồng)

- Trách nhiệm dân sự: 6,3 triệu đồng

Xe B: - Vật chất: 5 triệu đồng

- Trách nhiệm dân sự: 50 triệu đồng

B3: Bảo hiểm đòi

Xe A: 151,41  257,39/504,69 = 77,22 (triệu đồng)

Xe B: 70%  5 = 3,5 (triệu đồng)

B4: Bảo hiểm bồi thường thực tế

X bồi thường cho A: 257,39 + 6,3 – 77,22 = 186,47 (triệu đồng)

Y bồi thường cho B: 5 + 50 – 3,5 = 51,5 (triệu đồng)

B5: Thiệt hại thực tế của các chủ xe

Thiệt hại thực tế của xe A: (504,69 + 6,3 + 77,22) – (151,41 + 257,39 + 6,3) = 173,11 (triệu đồng)

Thiệt hại thực tế của xe B: (5 + 4 + 151,41 + 3,5) – (6,3 + 5 + 50) = 102,61 (triệu đồng)

Trang 4

Ha Pham - DUE Banking BAN 3015 - Insurance

1

BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI

I Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba

Phí bảo hiểm (thường do Nhà nước quy định) được tính theo đầu phương tiện Người tham gia

bảo hiểm đóng phí BH TNDS chủ xe cơ giới đối với người thứ ba theo số lượng đầu phương tiện của mình

Mặc khác, các phương tiện khác nhau về chủng loại, về độ lớn có xác suất gây ra tai nạn khác nhau nên phí bảo hiểm được tính riêng cho từng loại phương tiện (hoặc nhóm phương tiện)

Phí bảo hiểm tính cho mỗi đầu phương tiện đối với mỗi loại phương tiện (thường tính theo năm) là:

∑𝑛𝑖=1𝐶𝑖Trong đó:

Si – Số vụ tai nạn có phát sinh trách nhiệm dân sự của chủ xe được bảo hiểm bồi thường trong năm i

Ti – Số tiền bồi thường bình quân 1 vụ tai nạn có phát sinh TNDS trong năm i

Ci – Số đầu phương tiện tham gia bảo hiểm TNDS trong năm i

n – Số năm thống kê, thường từ 3 – 5 năm, i = (1, n)

Như vậy, f thực chất là số tiền bồi thường bình quân trong thời kỳ n năm cho mỗi đầu phương tiện tham gia bảo hiểm trong thời kỳ đó

Số tiền bảo hiểm: - Giới hạn tối đa trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm;

- Thường do Nhà nước quy định

Mức trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm được quy định tại Điều 9 Thông tư BTC quy định Quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành:

22/2016/TT-"Mức trách nhiệm bảo hiểm là số tiền tối đa doanh nghiệp bảo hiểm có thể phải trả đối với thiệt hại về thân thể, tính mạng và tài sản của bên thứ ba và hành khách do xe cơ giới gây ra trong mỗi

vụ tai nạn xảy ra thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm Cụ thể như sau:

Trang 5

Ha Pham - DUE Banking BAN 3015 - Insurance

2

1 Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về người do xe cơ giới gây ra là 100 triệu đồng/1 người/1 vụ tai nạn

2 Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản do xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh,

xe gắn máy và các loại xe cơ giới tương tự (kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật) gây ra là 50 triệu đồng/1 vụ tai nạn

3 Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản do xe ô tô, máy kéo, xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng (kể cả rơ-moóc và sơ mi rơ-moóc được kéo bởi xe ô tô hoặc máy kéo) gây ra là 100 triệu đồng/1 vụ tai nạn

II Bảo hiểm vật chất xe cơ giới

Nguyên tắc bồi thường tổn thất

Trường hợp xe tham gia bảo hiểm bằng hoặc dưới giá trị thực tế:

Số tiền bồi thường = Giá trị thiệt hại thực tế × 𝑆𝑇𝐵𝑇

𝐺𝑇𝐵𝑇

Trường hợp xe tham gia bảo hiểm trên giá trị thực tế:

Theo nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm, để tránh việc “lợi dụng” bảo hiểm, công ty bảo hiểm chỉ chấp nhận STBH nhỏ hơn hoặc bằng GTBH Nếu người tham gia bảo hiểm cố tình tham gia với STBH lớn hơn giá trị bảo hiểm nhằm trục lợi bảo hiểm, HĐBH sẽ không có hiệu lực Tuy nhiên, nếu là vô tình tham gia bảo hiểm trên giá trị, công ty bảo hiểm vẫn bồi thường, nhưng STBT chỉ bằng thiệt hại thực tế và luôn luôn nhỏ hơn hoặc bằng giá trị thực tế của xe

Ví dụ, một chiếc xe Toyota có giá trị thực tế là 200 triệu đồng, nhưng chủ xe lại tham gia bảo hiểm với số tiền là 250 triệu đồng Khi có một tổn thất bộ phận xảy ra, giả sử giá trị thiệt hại là 20 triệu đồng, thì STBT ở đây chỉ là 20 triệu đồng Hoặc nếu tổn thất toàn bộ xảy ra thì STBT lớn nhất chỉ

là 200 triệu đồng

Trong thực tế, cũng có những trường hợp Công ty bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm trên giá trị thực

tế, ví dụ theo “Giá trị thay thế mới” Quay trở lại ví dụ chủ xe có chiếc xe Toyota trị giá 200 triệu

ở trên, chủ xe muốn rằng khi có tổn thất toàn bộ xảy ra, ông ta sẽ có tiền để mua được một chiếc

xe Toyota mới với giá thị trường là 300 triệu đồng, chứ không phải đi tìm mua một chiếc xe cũ tương đương 200 triệu đồng Vì vậy, ông ta mong muốn được tham gia bảo hiểm với số tiền là 300 triệu đồng, để khi có tổn thất toàn bộ xảy ra ông ta sẽ nhận được STBT là 300 triệu đồng Trường hợp này được gọi là bảo hiểm theo “giá trị thay thế mới” Để được công ty bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm theo “giá trị thay thế mới”, chủ xe phải đóng phí bảo hiểm khá cao và các điều kiện bảo hiểm là rất nghiêm ngặt

Trường hợp tổn thất bộ phận:

Trong trường hợp này, chủ xe sẽ được giải quyết bồi thường trên cơ sở nguyên tắc một hoặc nguyên tắc hai nêu trên Tuy nhiên, các công ty bảo hiểm thường giới hạn mức bồi thường đối với tổn thất bộ phận bằng bảng tỉ lệ giá trị tổng thành xe

Trang 6

Ha Pham - DUE Banking BAN 3015 - Insurance

3

- Xác định dựa vào tỷ lệ cơ cấu tổng thành của doanh nghiệp bảo hiểm;

- Bồi thường theo tỷ lệ tham gia bảo hiểm

Ví dụ: xe Toyota Corona 4 chỗ ngồi, giá trị thực tế của xe tại thị trường Việt Nam là 30.000 USD

(tương đương 330.000.000 đồng Việt Nam) Chủ xe tham gia bảo hiểm toàn bộ theo giá trị thực

tế Trong thời hạn bảo hiểm xe bị tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm Thiệt hại tính theo chi phí sửa chữa như sau:

Thân vỏ: 70.000.000 VND

Động cơ: 55.000.000 VND

Theo bảng tỷ lệ giá trị tổng thành xe công ty bảo hiểm quy định: Tỷ lệ tổng thành than vỏ là 53,5%,

tỷ lệ tổng thành động cơ là 15,5% Như vậy trong trường hợp này số tiền tối đa mà công ty bảo hiểm sẽ giải quyết bồi thường cho chủ xe là:

Thân vỏ: 330 x 53,5% = 176,55 triệu đồng, lớn hơn 70 triệu đồng, do đó giải quyết bồi thường là

Bồi thường = STBH – KH – Tận thu

Nguyên tắc tính khấu hao

- Chỉ tính khấu hao khi có tổn thất toàn bộ

- Khấu hao tính đến từng tháng

- Tính giá trị trước khi bị tổn thất:

- Mua bảo hiểm từ ngày 15 trở về đầu tháng: có tính khấu hao

- Mua bảo hiểm từ ngày 16 trở về cuối tháng: không tính khấu hao

- Tai nạn từ ngày 15 trở về đầu tháng: không tính khấu hao;

- Tai nạn từ ngày 16 trở về cuối tháng: có tính khấu hao

Ví dụ: Đầu năm 2006 chủ xe Lê Văn Thắng có chiếc xe Toyota giá trị thực tế 300 triệu đồng tham

gia bảo hiểm toàn bộ vật chất thân xe với số tiền 300 Triệu đồng tại công ty bảo hiểm Bảo Minh

Trang 7

Ha Pham - DUE Banking BAN 3015 - Insurance

4

Hải Dương Ngày 13/07/2006 xe gặp tai nạn bị tổn thất toàn bộ Khi tham gia bảo hiểm, xe đã sử dụng được 5 năm, tỉ lệ khấu hao xe là 5%/năm

1 Thiệt hại của xe sau vụ tai nạn ?

2 Trách nhiệm bồi thường của công ty bảo hiểm đối với chủ xe ?

-

1 Trong trường hợp này số tiền bồi thường của công ty bảo hiểm cho chủ xe được xác định như sau:

- Giá trị ban đầu của xe = (300)/(1– 5% x 5) = 400 triệu đồng

- Giá trị xe tại thời điểm trước khi xảy ra tai nạn = 400 – 400 x (66 tháng x 5%/12) = 290 triệu đồng

2 Như vậy, số tiền bồi thường chủ xe nhận được là 290 triệu đồng

Trong thực tế, các công ty bảo hiểm thường quy định khi giá trị thiệt hại so với giá trị thực tế của

xe bằng hoặc lớn hơn một tỉ lệ nhất định nào đó thì được xem là tổn thất toàn bộ ước tính, tuy nhiên lại giới hạn bởi bảng tỉ lệ cấu thành xe Chúng ta hãy xem xét ví dụ minh hoạ sau

Ví dụ: Năm 2000, chủ xe Hoàng Anh Tuấn có chiếc xe Toyota giá trị thực tế 200 triệu đồng tham gia bảo hiểm toàn bộ với số tiền 200 Triệu đồng tại công ty bảo hiểm PVI Đông Đô, Hà Nội Theo quy định của công ty bảo hiểm PVI, chỉ được coi là tổn thất toàn bộ ước tính khi giá trị thiệt hại bằng hoặc trên 80% giá trị thực tế của xe tính theo bảng tỉ lệ cấu thành xe Trong thời hạn bảo hiểm xe bị tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm, giá trị thiệt hại tính theo chi phí sửa chữa là:

Thân vỏ thiệt hại 100% chi phí sửa chữa 120 triệu đồng

Động cơ thiệt hại 100% chi phí sửa chữa 35 triệu đồng

Hộp số thiệt hại 100% chi phí sửa chữa 15 triệu đồng

Tổng cộng thiệt hại 170 triệu đồng

Giá trị thiệt hại như trên lớn hơn 80% giá trị thực tế của xe (170 triệu đồng/200 triệu đồng = 0.85) Nhưng căn cứ vào bảng tỉ lệ tổng thành giá trị thì thiệt hại thuộc trách nhiệm của công ty bảo hiểm

Trang 8

Ha Pham - DUE Banking BAN 3015 - Insurance

5

- Những bộ phận thay thế mới (Tức là khi tổn thất toàn bộ một bộ phận hay một tổng thành), khi bồi thường phải trừ khấu hao đã sử dụng hoặc chỉ tính giá trị tương đương với giá trị của bộ phận được thay thế ngay trước lúc xảy ra tai nạn

Nếu tổn thất xảy ra trước ngày 16 của tháng, tháng đó không phải tính khấu hao

Còn nếu tổn thất xảy ra từ ngày 16 trở đi thì phải tính khấu hao cho tháng đó

Công ty bảo hiểm sẽ thu hồi những bộ phận được thay thế hoặc đã được bồi thường toàn bộ giá trị

- Trường hợp chủ xe tham gia bảo hiểm một số bộ phận hoặc tổng thành xe, số tiền bồi thường được xác định dựa trên thiệt hại của bộ phận hay tổng thành đó Và số tiền bồi thường cũng thường được giới hạn bởi bảng tỷ lệ giá trị tổng thành xe của bộ phận hay tổng thành tham gia bảo hiểm

- Trường hợp thiệt hại xảy ra có liên quan đến trách nhiệm của người thứ ba, công ty bảo hiểm bồi thường cho chủ xe và yêu cầu chủ xe bảo lưu quyền khiếu nại và chuyển quyền đòi bồi thường cho công ty bảo hiểm kèm theo toàn bộ hồ sơ, chứng từ có liên quan Cụ thể, nếu xe có tham gia bảo hiểm vật chất bị một xe khác có bảo hiểm TNDS đâm va gây thiệt hại thì bôì thường thiệt hại vật chất trước Đối với TNDS chỉ bồi thường phần chênh lệch giữa số tiền bồi thường TNDS và

số tiền thiệt hại vật chất

III Các bước làm bài tập hai xe đâm va cùng có lỗi

Bước 0: Tính nguyên giá (nếu cần)

𝑁𝑔𝑢𝑦ê𝑛 𝑔𝑖á = 𝐺𝑖á 𝑡𝑟ị 𝑏ả𝑜 ℎ𝑖ể𝑚

1 − 𝑆ố 𝑛ă𝑚 đã 𝑏ả𝑜 ℎ𝑖ể𝑚 𝑥 𝑇ỷ 𝑙ệ 𝑘ℎấ𝑢 ℎ𝑎𝑜Tính giá trị xe trước khi bị tổn thất:

Gía trị trước tai nạn = Gía trị bảo hiểm – Nguyên giá x Tỷ lệ khấu hao x 𝑆ố 𝑡ℎá𝑛𝑔 𝑡í𝑛ℎ 𝐾𝐻

12Bước 1: Xác định thiệt hại của các chủ xe

Bảo hiểm đòi = Trách nhiệm dân sự được bên kia trả x 𝑇ℎ𝑖ệ𝑡 ℎạ𝑖 𝑣ậ𝑡 𝑐ℎấ𝑡 đượ𝑐 𝐵𝐻 𝑏ồ𝑖 𝑡ℎườ𝑛𝑔

𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑖ệ𝑡 ℎạ𝑖 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛Bước 4: Xác định số tiền bồi thường thực tế của doanh nghiệp bảo hiểm

Trang 9

Ha Pham - DUE Banking BAN 3015 - Insurance

6

Kết quả B2 – Kết quả B3

Bước 5: Xác định thiệt hại thực tế của các chủ xe

=> Chi: Tổn thất B1 + Bảo hiểm đòi lại

=> Thu: Trách nhiệm dân sự từ bên kia trả + Bồi thường của bảo hiểm B2

=> Thiệt hại = Chi – Thu

BÀI TẬP Bài 1: Có số liệu thống kê 5 năm về tình hình tai nạn giao thông có phát sinh TNDS của chủ xe

cơ giới đối với người thứ ba đối với loại xe tải trên 5 tấn như sau:

Năm Số xe hoạt động

(chiếc)

Số vụ tai nạn (Vụ)

Thiệt hại bình quân một vụ (triệu đồng)

Yêu cầu: Xác định phí bảo hiểm cho mỗi đầu xe tải cho năm thứ 6 Biết rằng phụ phí là 20%

Bài 2: Ngày 29/09/2013, xe ô tô của ông Hoàng gây tai nạn cho xe của ông Hùng, thiệt hại về

người là 20 triệu đồng, thiệt hại về tài sản là 120 triệu đồng Ông Hoàng đã tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba tại công ty bảo hiểm Bưu điện Vậy trách nhiệm của công ty bảo hiểm như thế nào? Biết rằng, vào thời điểm xảy ra tai nạn, hạn mức trách nhiệm của công ty bảo hiểm là 100 triệu đồng/vụ đối với tài sản và 100 triệu đồng/người/vụ tai nạn

Bài 3: Xe B tham gia b ảo hiểm thiệt hại vật chất xe cơ giới tại Bảo Việt với số tiền bảo hiểm

240.000.000 VNĐ Xe bị lật đổ, thiệt hại và chi phí phát sinh như sau:

 Dự tính chi phí sửa chữa xe: 40.000.000 VNĐ

 Chi phí kéo, cẩu xe: 3.000.000 VNĐ

Yêu cầu: Xác định số tiền bồi thường của người bảo hiểm trong vụ tai nạn trên? Biết rằng: Giá trị

xe là 300.000.000 VNĐ và tai nạn xảy ra trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm

Bài 4: Xe ô tô M tham gia bảo hiểm toàn bộ tổng thành thân vỏ xe, tổng thành động cơ và bảo

hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ 3 ở công ty bảo hiểm A từ ngày 1/1/2003 Số tiền bảo hiểm thân vỏ xe bằng 50% và số tiền bảo hiểm tổng thành động cơ bằng 15% so với giá

Trang 10

Ha Pham - DUE Banking BAN 3015 - Insurance

7

trị thực tế xe Ngày 5/10/2003, xe bị tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm Tổng thành thân vỏ thiệt hại toàn bộ, tổng thành động cơ hư hỏng thiệt hại 15.000.000 đồng

Yêu cầu : Hãy xác định số tiền bồi thường thực tế của công ty bảo hiểm A ?

Biết rằng: Khi tham gia bảo hiểm giá trị thực tế chiếc xe là 400.000.000 đồng và xe còn mới nguyên Tỷ lệ khấu hao của xe là 5% mỗi năm

Bài 5: Chủ xe ô tô A tham gia bảo hiểm toàn bộ tổng thành thân vỏ xe và bảo hiểm trách nhiệm

dân sự của chủ xe đối với người thứ ba tại Công ty bảo hiểm X từ ngày 01/01/2010 Số tiền bảo hiểm thân vỏ xe bằng 51% so với giá trị thực tế của xe Ngày 26/9/2010 xe A đâm va với xe B Theo giám định xe A có lỗi 70% và hư hỏng toàn bộ, giá trị tận thu là 10.000.000 đồng Xe B có lỗi 30%, hư hỏng phải sửa chữa hết 5.000.000 đồng, thiệt hại kinh doanh là 4.000.000 đồng Chủ

xe B mua bảo hiểm toàn bộ vật chất thân xe và bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe đối với người thứ ba tại Công ty bảo hiểm Y

Yêu cầu: Hãy xác định số tiền phải bồi thường thực tế của mỗi công ty bảo hiểm và thiệt hại phải

tự chịu của mỗi chủ xe?

Biết rằng: Xe A đã sử dụng được 4 năm, khi tham gia bảo hiểm, giá trị toàn bộ thực tế của xe là 540.000.000 đồng Tỷ lệ khấu hao của xe mỗi năm là 5% Các công ty bảo hiểm đều khống chế trách nhiệm của mình ở mức: 50.000.000 đồng tài sản/vụ tai nạn và 50.000.000 đồng/người/vụ tai nạn

Trang 13

CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM

Các nguyên tắc cơ bản của BH là nền tảng để xây dựng các quy tắc, điều khoản BH đối với từng

nghiệp vụ BH cụ thể

1 Nguyên tắc “Trung thực tuyệt đối” (Utmost good faith)

Người được bảo hiểm và người bảo hiểm đều phải trung thực trong tất cả các nội dung liên quan đến giao kết hợp đồng bảo hiểm (Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải nộp tiền đóng phí bảo hiểm còn doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.)

Về phía người BH (doanh nghiệp BH), sự trung thực tuyệt đối được thể hiện ở việc:

- có trách nhiệm cân nhắc các điều kiện, điều khoản để soạn thảo hợp đồng bảo đảm cho quyền lợi của hai bên

- giải thích rõ ràng, đầy đủ về nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi bên khi ký kết hợp đồng BH, đặc biệt

là các điều khoản loại trừ BH

- trung thực tuyệt đối trong quá trình giải quyết bồi thường, không vì lợi nhuận của doanh nghiệp

BH mà tùy tiện, o ép khách hàng, bồi thường thấp hơn phần trách nhiệm doanh nghiệp BH lẽ ra phải chịu

Về phía người được BH (người tham gia BH), sự trung thực tuyệt đối được thể hiện ở việc:

- khai báo đầy đủ, trung thực về đối tượng BH cho người BH (doanh nghiệp BH) biết trước khi ký kết hợp đồng BH để người BH (doanh nghiệp BH) có thông tin chính xác trong việc đánh giá rủi

sơ sức khoẻ của người trong gia đình,…

Nguyên tắc trung thực tuyệt đối nhằm giảm chi phí điều tra rủi ro và tăng trách nhiệm của Người được bảo hiểm

2 Nguyên tắc “Quyền lợi có thể BH được” (Insurable Interest)

Quan hệ giữa người tham gia bảo hiểm và đối tượng được bảo hiểm trong hợp đồng phải tuân thủ nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm Điều đó có nghĩa rằng, để tham gia bảo hiểm cho một

Trang 14

đối tượng bảo hiểm thì người tham gia phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm đối với đối tượng được bảo hiểm đó Quyền lợi có thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với, hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm

Nguyên tắc này yêu cầu người tham gia bảo hiểm phải có lợi ích tài chính bị tổn thất nếu đối tượng được bảo hiểm gặp rủi ro Nói cách khác, người tham gia bảo hiểm phải có một số quan hệ với đối tượng được bảo hiểm Mối quan hệ có thể biểu hiện qua các quyền được pháp luật công nhận Theo Luật kinh doanh bảo hiểm: Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản; quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm

Nguyên tắc về quyền lợi có thể được bảo hiểm nhằm loại bỏ khả năng bảo hiểm cho tài sản của người khác, hoặc cố tình gây thiệt hại hoặc tổn thất để thu lợi từ một đơn bảo hiểm

Ví dụ:

+ Trong bảo hiểm tài sản, Người mua bảo hiểm có một số liên hệ với đối tượng bảo hiểm được pháp luật công nhận (quyền sở hữu – chủ xe hoặc quyền chiếm hữu – người được chủ xe cho mượn xe) Ví dụ, chủ xe ôtô có thể tham gia bảo hiểm cho chiếc xe của mình hoặc một người đi mượn chiếc xe đó cũng có quyền lợi bảo hiểm đối với đồ vật người đó mượn bởi vì nếu chúng bị mất hoặc bị hư hại, người đó sẽ phải thực hiện thay thế, sửa chữa, đền tiền, hay khôi phục lại

(Quyền chiếm hữu là quyền được nắm giữ, chi phối tài sản của các chủ thể được pháp luật quy định là có quyền chiếm hữu đối với tài sản.)

+ Đối với bảo hiểm nhân thọ: Quyền lợi có thể được bảo hiểm là mối quan hệ giữa bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm Trong đó, rủi ro xảy ra với người được bảo hiểm sẽ gây tổn thất, thiệt hại về tài chính hoặc tinh thần đối với bên mua bảo hiểm Ví dụ, mọi cá nhân đều có quyền lợi bảo hiểm không giới hạn đối với tính mạng của chính mình, do vậy họ có thể bảo hiểm tính mạng của mình với bất cứ giá trị nào mong muốn, miễn là có đủ tiền đóng phí bảo hiểm Quyền lợi bảo hiểm cũng tồn tại đối với cha/mẹ, vợ/chồng, con cái, anh/chị/em của người đó hoặc những người có trách nhiệm nuôi dưỡng hoặc giám hộ hợp pháp của người đó Quyền lợi có thể được bảo hiểm cũng tồn tại đối với bên mua bảo hiểm là tổ chức trong các trường hợp: Một tổ chức mua bảo hiểm cho người lao động đang làm việc cho tổ chức đó; các tổ chức tín dụng, ngân hàng mua bảo hiểm cho những khách hàng vay tiền của ngân hàng, tổ chức tín dụng đó

3 Nguyên tắc “Nguyên nhân gần” (Proximate cause)

Xác định nguyên nhân là vấn đề quan trọng đối với BH Tất cả những đơn BH đều quy định những tổn thất, tổn hại, gây ra bởi hiểm họa nào được BH và những nguyên nhân loại trừ khác Không

có hợp đồng BH nào mà không có những điểm loại trừ Như vậy việc xác định nguyên nhân của tổn thất trở thành nhân tố quyết định việc có bồi thường hay không theo hợp đồng BH đó

Nguyên nhân gần là nguyên nhân chủ động, thực tế, chi phối sự việc dẫn đến tổn thất cho đối tượng được bảo hiểm Nguyên nhân gần không nhất thiết là nguyên nhân đầu tiên hay là nguyên

Trang 15

nhân cuối cùng mà chỉ cần là nguyên nhân chi phối (nguyên nhân chủ động)."Gần" ở đây cần được hiểu là gần nhất về tác động hiệu lực chứ không nhất thiết gần nhất về mặt thời gian

Ví dụ: Tổn thất trực tiếp do cháy - thiệt hại về tài sản do nước hoặc do hóa chất đã được sử dụng

để dập lửa Trong trường hợp này, mặc dù tổn thất phát sinh từ tác động của nước hay hóa chất dập lửa nhưng tổn thất đó bắt đầu bởi cháy, với chuỗi kéo theo là nước và hóa chất Cháy là nguyên nhân có tác động chi phối nhất, tác động có hiệu lực nhất (dù không phải là nguyên nhân gần về mặt thời gian) Như vậy, tổn thất do hóa chất hoặc nước dùng để cứu hỏa cũng sẽ được bảo hiểm trong đơn bảo hiểm cháy căn cứ vào học thuyết nguyên nhân gần

4 Nguyên tắc bồi thường (Indemnity)

Bồi thường được hiểu là sự bù đắp thiệt hại của doanh nghiệp BH khi có rủi ro xảy ra nhằm khắc phục hậu quả cho người tham gia BH Nguyên tắc trong mối liên hệ giữa quyền lợi BH và bồi thường là: Khi có khiếu nại, số tiền bồi thường cho Người được BH không được vượt quá mức độ quyền lợi BH của người đó

Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người BH phải bồi thường một cách chính xác,

đủ để khôi phục vị trí tài chính ban đầu của người được BH như trước khi xảy ra tổn thất Mức bồi thường phải bằng với mức thiệt hại thực tế, không lớn hơn và cũng không nhỏ hơn

Tuy nhiên trên thực tế số tiền bảo hiểm hoặc mức bồi thường có thể thấp hơn một chút so với giá trị tài sản và mức thiệt hại, nhằm gắn trách nhiệm và khuyến khích người được bảo hiểm giữ gìn

và bảo vệ tài sản tốt hơn

Quan trọng hơn, bảo hiểm chỉ đảm bảo cho người tham gia bảo hiểm được bồi thường đúng mức khi bị tổn thất chứ không tạo ra cơ hội để kiếm lời, không thể để cho người tham gia bảo hiểm có được lợi ích không hề có trước khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

Nguyên tắc bồi thường chỉ áp dụng trong bảo hiểm phi nhân thọ (bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự) và ít được áp dụng với bảo hiểm nhân thọ Nguyên tắc về quyền lợi BH cũng như nguyên tắc bồi thường đều dựa vào nhiều vào đánh giá tài chính Do vậy, chúng ta không thể đưa ra được số tiền thiệt hại chính xác khi tính toán tổn thất về tính mạng hoặc sức khỏe con người

Ví dụ: Chủ xe A có chiếc xe Toyota có giá trị thực tế là 500 triệu đồng Chủ xe tham gia bảo hiểm toàn bộ theo giá trị thực tế Trong thời hạn bảo hiểm xe bị tai nạn thuộc phạm vi bảo hiểm Thiệt hại tính theo chi phí sửa chữa bao gồm: Thân vỏ - 115 triệu đồng Theo bảng tỷ lệ giá trị tổng thành xe công ty bảo hiểm quy định: Tỷ lệ tổng thành thân vỏ là 55% Vậy số tiền tối đa công ty bảo hiểm đền bù bảo hiểm ô tô cho chủ xe là: Thân vỏ: 500 x 55% = 275 triệu đồng, lớn hơn 125 triệu đồng Vậy nên đền bù bảo hiểm phần thân vỏ là 125 triệu đồng

Trang 16

- Giới hạn bồi thường (limit of indemnity) hoặc giới hạn trách nhiệm (limit of liability) là số tiền

BH (sum insured) Có nghĩa là số tiền tối đa mà Người BH có thể phải trả cho người-được BH khi xảy ra sự kiện BH

- Bồi thường theo tỷ lệ (average) là phương thức bồi thường công bằng, hợp lý đối với trường hợp Người được BH chỉ tham gia BH một phần giá trị thực tế, hay gọi là BH dưới giá trị (under insurance) Trong trường hợp này, số tiền bồi thường được tính:

S

I =  x L

V

Trong đó: I: số tiền bồi thường, S: số tiền BH, V: giá trị BH, L: thiệt hại thực tế

- Miễn thường là số tiền khiếu nại nhưng không được BH theo đơn BH và Người được BH phải

tự gánh chịu Có hai loại miễn thường: Miễn thường không khấu trừ (franchise) và miễn thường

có khấu trừ (excess) Mục đích của miễn thường là nhằm giảm bớt những khiếu nại của Người được BH đối với những tổn thất nhỏ, tránh cho Người BH phải giải quyết những tổn thất nhỏ, vụn vặt nằm trong khả năng tự gánh chịu của Người được BH

Ví dụ: Một đơn BH với số tiền BH là 1.000.000.000đ, mức miễn thường 2.000.000 đồng (hoặc tỷ lệ miễn thường 2%) Khi có tổn thất xảy ra, trách nhiệm bồi thường trong từng trường hợp có khấu trừ hoặc không khấu trừ như sau:

Tổn thất

Số tiền bồi thường

1.500.000đ (1,5%)

2.000.000đ (2%)

3.000.000đ (3%)

Miễn thường không khấu trừ (franchise) 0 2.000.000đ 3.000.000đ

5 Nguyên tắc “Đóng góp bồi thường” (Contribution)

“Đóng góp bồi thường là quyền của một doanh nghiệp BH được kêu gọi những doanh nghiệp BH trùng khác cùng chia sẻ chi phí bồi thường, tuy nhiên không nhất thiết phải chịu trách nhiệm tương đương với nhau đối với Người được BH”

Nguyên tắc này cho phép chia sẻ toàn bộ tổn thất một cách công bằng và hợp lý Đối với doanh nghiệp BH, nếu đã bồi thường toàn bộ, thì công ty BH có thể thu hồi một tỷ lệ thích

Trang 17

ứng từ các công ty BH trùng khác Đối với Người được BH, nếu chưa được bồi thường đầy

đủ (ít hơn quyền lợi BH), anh ta có quyền khiếu nại đến một số công ty BH khác để đòi bồi thường phần còn lại

Luật pháp quy định các điều kiện trước khi tiến hành đóng góp bồi thường:

- Phải tồn tại ít nhất hai hợp đồng bồi thường

- Các hợp đồng phải có sự trùng lắp về phạm vi BH (không nhất thiết phải hoàn toàn giống nhau): cùng BH một lợi ích chung; cùng một đối tượng BH; cùng một hiểm họa gây nên tổn thất, tổn hại

- Mỗi hợp đồng đều có phát sinh trách nhiệm đối với tổn thất, tổn hại đã xảy ra

- Chỉ các đơn BH bồi thường (Policy of indemnity) mới áp dụng đóng góp bồi thường, Các đơn BH hưởng lợi (benefit policy) không áp dụng đóng góp bồi thường

Các Phương Pháp Tính Đóng Góp Bồi Thường:

a Phương pháp phân bổ theo số tiền BH:

Ta có công thức tính:

Ii : Số tiền bồi thường của công BH i

L : Tổn thất thực tế

Si : Số tiền BH theo đơn bảo hiễm, (i = 1, n)

Ví dụ: Số tiền BH theo đơn BH X: Sx = 50.000.000 VND; Số tiền BH theo đơn BH Y: Sy = 70.000.000 VND; Số tiền BH theo đơn BH Z: Sz = 80.000.000 VND Tổn thất thực tế: L = 20.000.000 VND Số tiền bồi thường của các công ty BH:

Si L

Ii

Trang 18

b Phương pháp trách nhiệm độc lập: Xác định số tiền bồi thường của từng công

ty BH sẽ phải trả với giả định rằng tài sản chỉ duy nhất được BH tại công ty đó và đơn BH đang còn hiệu lực Ta có công thức :

Si

Ii = L x 

V

Trong đó: Ii: Số tiền bồi thường của công ty BH I; L: tổn thất thực tế của tài sản;

Si: số tiền BH theo đơn BH thứ I; V: tổng giá trị tài sản được BH tại thời điểm xảy ra tổn thất

Ví dụ : Số tiền BH tại C.ty BH A là: SA = 35.000.000 VND; Số tiền BH tại C ty

BH B là SB = 40.000.000 VND; Số tiền BH tại C.ty BH C là: SC = 50.000.000 VND Tổn thất thực tế là: L = 15.000.000 VND Tổng giá trị tài sản được BH: V = 150.000.000 VND

35.000.000

150.000.000 40.000.000

150.000.000

Trang 19

50.000.000

150.000.000 Trong trường hợp này, Người được BH coi như tự BH cho chính mình số tiền BH dưới giá trị 150.000.000 - (35.000.000+40.000.000+50.000.000) = 25.000.000 VND

Có nghĩa là Người được BH phải tự chịu phần tổn thất :

25.000.000

50.000.000 Khi tổng số tiền bồi thường theo trách nhiệm độc lập của từng công ty nhỏ hơn hoặc bằng tổn thất, thì mỗi công ty BH trả theo trách nhiệm độc lập của mình Từ ví dụ trên, tổng sồ tiền bồi thường: I = IA + IB + IC = 12.500.000 VND < 15.000.000 VND Như vậy, phương pháp trách nhiệm độc lập sẽ được áp dụng khi tổng số tiền bồi thường theo trách nhiệm độc lập lớn hơn tổn thất thực tế thì tổn thất sẽ được tính theo phương pháp phân bổ theo số tiền BH (phân chia tỷ lệ trách nhiệm)

Cũng ví dụ trên, nếu V = 105.000.000 VND thì :

35.000.000

105.000.000 40.000.000

105.000.000 50.000.000

105.000.000

Ngày đăng: 31/05/2022, 15:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bài 1: Có số liệu thống kê 5 năm về tình hình tai nạn giao thông có phát sinh TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba đối với loại xe tải trên 5 tấn như sau: - Tổng hợp bài tập kinh tế bảo hiểm
i 1: Có số liệu thống kê 5 năm về tình hình tai nạn giao thông có phát sinh TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba đối với loại xe tải trên 5 tấn như sau: (Trang 1)
Bài 1: Có số liệu thống kê 5 năm về tình hình tai nạn giao thông có phát sinh TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba đối với loại xe tải trên 5 tấn như sau: - Tổng hợp bài tập kinh tế bảo hiểm
i 1: Có số liệu thống kê 5 năm về tình hình tai nạn giao thông có phát sinh TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba đối với loại xe tải trên 5 tấn như sau: (Trang 9)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w