1 Đặt vấn đề Chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam đang đặt ra cho các cơ sở đào tạo giáo viên phổ thông những yêu cầu to lớn Nhiệm vụ chính của các cơ sở đào tạo giáo viên trong thời gian sắp tới là phải kịp thời đào tạo một lực lượng giáo viên đủ phẩm chất và năng lực giảng dạy chương trình giáo dục phổ thông mới theo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, phù hợp với điều kiện Việt Nam; đồng thời bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viên phổ thông hiện nay để theo kịp những.
Trang 11.Đặt vấn đề
Chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt Nam đang đặt ra cho các
cơ sở đào tạo giáo viên phổ thông những yêu cầu to lớn Nhiệm vụ chính của các
cơ sở đào tạo giáo viên trong thời gian sắp tới là phải kịp thời đào tạo một lực lượng giáo viên đủ phẩm chất và năng lực giảng dạy chương trình giáo dục phổ thông mới theo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, phù hợp với điều kiện Việt Nam; đồng thời bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viên phổ thông hiện nay để theo kịp những yêu cầu của đổi mới giáo dục trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Điều đó đã được thể hiện rõ trong chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020, trong đó coi giải pháp “Đổi mới quản lý giáo dục” là giải pháp đột phá và giải pháp “Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”
là then chốt
Thực tế đã khẳng định rằng chất lượng của một nền giáo dục trước hết phụ thuộc vào chất lượng những người thầy và thành công của các cuộc cải cách giáo dục luôn phụ thuộc vào ý chí muốn thay đổi của người giáo viên Raja Roy Singh, nhà giáo dục nổi tiếng của Ấn Độ, từng khẳng định:“Không một hệ thống giáo dục nào
có thể vươn cao quá tầm những giáo viên làm việc cho nó”.[7]
Nhìn tổng quát, chúng ta có thể thấy chức năng, nhiệm vụ của giáo viên phổ thông trong bối cảnh hiện nay khá rộng, trong đó đòi hỏi giáo viên phải có năng lực giáo dục, năng lực tổ chức dạy học, năng lực phát triển chương trình Để tăng cường sự tương tác giữa thầy với trò; giữa trò với trò và giữa thầy với thầy trong dạy học theo chương trình phổ thông mới đòi hỏi các cơ sở đào tạo giáo viên phổ thông phải đổi mới đào tạo, bồi dưỡng giáo viên nhằm tạo ra một đội ngũ giáo viên sáng tạo, có đủ phẩm chất, năng lực, thích ứng với sự thay đổi của xã hội ngày càng hiện đại Ở góc độ năng lực sư phạm, UNESCO đã khuyến cáo “thầy giáo phải được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục nhiều hơn là những chuyên gia
Trang 2truyền đạt kiến thức” Để đạt được mục tiêu trên, cần có sự vào cuộc mạnh mẽ của các cấp quản lý từ trung ương đến cơ sở, trong đó vai trò của các cơ sở đào tạo giáo viên phổ thông cần phải dặt lên hàng đầu
2 Nội dung
2.1 Vấn đề đào tạo giáo viên ở một số nước phát triển
2.1.1 Hoa Kì
Mô hình đào tạo giáo viên ở Hoa Kì rất linh hoạt, tại đại học Harvard vào những năm 40 của thế kỉ trước một nhóm nghiên cứu mang tên Holmes đã đưa ra kết luận
về những đặc điểm của một chương trình đào tạo có chất lượng như sau: bằng cử nhân của các ngành học có liên quan, tiếp theo là một năm học sư phạm và thực hành dạy học và các giáo viên không nên được bảo đảm vị trí thường xuyên nếu không thể hiện được sự hiểu biết thấu đáo về chuyên môn của mình [1] Thời gian đào tạo giáo viên từ 4 - 5 năm và thực hành giảng dạy ở chương trình đào tạo 5 năm được đánh giá là nhiều và tốt hơn Mô hình đào tạo song song cho giáo viên phổ thông; mô hình đào tạo song song và cả nối tiếp cho giáo viên các trường dạy nghề, giáo dục nghề nghiệp… Khả năng chuyên môn của giáo viên được kiểm định qua 1 bài kiểm tra cụ thể hoặc học qua chương trình đào tạo được Ủy ban kiểm định chất lượng GV duyệt Tại California, bang hỗ trợ đào tạo tập huấn cho giáo viên trong quá trình tập sự để tham dự kỳ thi cấp phép giảng dạy cho giáo viên Công tác bồi dưỡng giáo viên hàng năm ở Hoa Kì do các bang, các trường thực hiện
2.1.2 Phần Lan
Ở Phần Lan, giáo viên từ tiểu học trở lên đều có bằng thạc sĩ Chương trình đào tạo giáo viên là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng đào tạo giáo viên Từ một chương trình đào tạo giáo viên “theo lớp” của trường Đại học
Trang 3Helsinki cho thấy chương trình coi trọng khối kiến thức giáo dục học, rèn luyện các kĩ năng Chương trình cơ bản gồm 3 khối kiến thức, tổng cộng 300 tín chỉ được phân bố như sau:
- Các nghiên cứu giao tiếp và nghiên cứu định hướng (Cơ bản về lập kế hoạch chương trình; ngôn ngữ và các kĩ năng giao tiếp; công nghệ thông tin – truyền thông trong nghiên cứu; giới thiệu về giáo dục Media) với thời lượng 25 tín chỉ
- Các môn chủ yếu trong giáo dục (Cơ sở văn hóa của giáo dục; cơ sở tâm lí của giáo dục; cơ sở giáo dục học; nghiên cứu trong giáo dục; thực hành dạy học: môn chính và môn phụ) với thời lượng 140 tín chỉ
- Nghiên cứu liên môn và các vấn đề xuyên môn trong trường “hỗn hợp” (Tiếng
mẹ đẻ và Văn học; Giáo dục Toán; giáo dục các kĩ năng và nghệ thuật; Phương pháp dạy học các môn nhân văn; Phương pháp dạy học các môn khoa học và môi trường; Các khóa tự chọn: Nghệ thuật, Thủ công, Âm nhạc ; Các môn phụ tự chọn và các nghiên cứu tự chọn) với thời lượng 60 tín chỉ
Giáo viên dạy từ lớp 7 đến lớp 12 là giáo viên dạy theo môn học Mỗi giáo viên có thể dạy một môn chính và một môn phụ (Ví dụ: Toán và Vật lí) Chương trình đào tạo giáo viên môn học rất linh hoạt, bao gồm: các môn chính; các môn phụ; nghiên cứu sư phạm, truyền thông và ngôn ngữ học Tổng cộng 300 tín chỉ, được phân bổ như sau: môn chính (240 tín chỉ), môn phụ (60 tín chỉ) và Khoa học về sư phạm (60 tín chỉ) Chương trình này cho phép đào tạo giáo viên có thể dạy được nhiều môn (thường là 2 môn) Mô hình này rất phù hợp cho việc dạy tích hợp
2.1.3 Cộng hòa Liên bang Đức
Về mô hình đào tạo giáo viên ở Cộng hòa Liên bang Đức, theo Nguyễn Văn Cường, Trường Đại học Tổng hợp Potsdam, Bộ Giáo dục và Đào tạo Văn hóa chịu trách nhiệm về đội ngũ giáo viên, các trường và địa phương chịu trách nhiệm về cơ
Trang 4sở vật chất, trang thiết bị dạy học Tại Đức, các bang đều có chuẩn đào tạo giáo viên Chuẩn gồm 4 lĩnh vực năng lực là dạy học, giáo dục, đánh giá, đổi mới và phát triển Trước năm 1980, giáo viên được đào tạo trong các trường đại học sư phạm, nhưng sau năm 1980, giáo viên được đào tạo trong các trường đại học đa ngành và thực hiện theo tiêu chuẩn châu Âu
Ở Trường Đại học Tổng hợp Potsdam trước đây đào tạo giáo viên không phân bậc, đào tạo giáo viên tiểu học/trung học cơ sở 6 học kì, giáo viên trung học phổ thông
9 học kì Hiện nay, Trường Đại học Tổng hợp Potsdam đào tạo giáo viên theo hình thức phân bậc, đầu vào là những người tốt nghiệp cử nhân khoa học Đối với giáo viên tiểu học/trung học cơ sở thì đào tạo thêm 3 học kì, giáo viên trung học phổ thông được đào tạo thêm 4 học kì (bao gồm cả thời gian thực tập ở trường phổ thông), người tốt nghiệp sẽ được cấp bằng thạc sĩ và được dạy ở trường phổ thông [2]
Tương tự Hoa Kì, Đức áp dụng mô hình đào tạo song song cho giáo viên phổ thông; mô hình đào tạo nối tiếp cho giáo viên các trường dạy nghề, giáo dục nghề nghiệp Về chương trình đào tạo, chương trình khung do bang xây dựng, trên cơ sở
đó, các trường tự xây dựng chương trình đào tạo Chương trình đào tạo giáo viên phổ thông cụ thể cho cả 2 cấp trình độ cử nhân và thạc sĩ, trong đó cử nhân 6 – 8 học kì, thạc sĩ 2 – 4 học kì
2.1.4 Hàn Quốc
Hàn Quốc có 11 trường đại học giáo dục đào tạo giáo viên phổ thông, trước đây đào tạo giáo viên 2 năm, nhưng trong những năm gần đây đào tạo 4 năm Trong mỗi trường đại học giáo dục có trường tiểu học để sinh viên trực tiếp dự giờ, thực tập giảng dạy Ngoài ra khoa tiểu học của các trường đại học tổng hợp quốc gia
Trang 5Hàn Quốc và các trường cao đẳng giáo dục là những nơi đào tạo và cấp bằng cho giáo viên tiểu học và trung học cơ sở
Giáo viên THCS và THPT được đào tạo 4 năm, chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn cơ bản ban đầu và giai đoạn nghiệp vụ sư phạm Sau 4 năm sinh viên phải hoàn thành
140 tín chỉ Để trở thành giáo viên THCS, THPT sinh viên phải đạt 42 điểm ở các môn chính giai đoạn cơ bản và 20 điểm ở phần nghiệp vụ sư phạm Sau khi hoàn thành các tín chỉ, để được cấp bằng giáo viên phải tiến hành thủ tục cấp giấy chứng nhận hành nghề bằng hai cách: thi hoặc không thi cấp phép [6]
2.1.5 Nhật Bản
Nói về kinh nghiệm đào tạo giáo viên ở Nhật Bản, chuyên gia quốc tế - Norio Kato cho biết, hệ thống giáo dục của Nhật Bản tương đồng với hệ thống giáo dục của Hoa Kì nhưng có nhiều nét riêng Trường đại học sư phạm ở Nhật khi thành lập phải thông qua Ủy ban kiểm soát và Ủy ban kiểm tra để trình Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo xét duyệt Việc mở khóa đào tạo sư phạm phải có sự chấp nhận của
Bộ Giáo dục và Đào tạo thông qua kiểm định đào tạo Việc kiểm định của Nhật được thực hiện 7 năm 1 lần thông qua 3 cơ quan: Hiệp hội đại học Nhật Bản, Viện đánh giá giáo dục Nhật Bản; Tổ chức giáo dục quốc gia về đánh giá và văn bằng đại học Ở Nhật, giáo viên được coi là nghề cao quý, chuyên nghiệp, được xã hội tôn vinh với mức lương cao hơn công chức 30% Hệ thống gia hạn cho giáo viên ban hành năm 2009 và thời hạn 10 năm thông qua kiểm tra cấp phép giảng dạy Giáo viên phổ thông ở Nhật đều có bằng cử nhân thông qua học chương trình đào tạo đại học gồm các tín chỉ về đại cương, chuyên ngành, sư phạm Sinh viên tốt nghiệp phải qua kỳ kiểm tra của Hội đồng cấp tỉnh để được cấp chứng chỉ giáo
Trang 6viên Các trường đại học phát hành 3 loại chứng chỉ GV: Giấy chứng nhận lớp hạng 2, Giấy chứng nhận lớp hạng 1 và Chứng chỉ chuyên ngành
Mô hình đào tạo giáo viên phổ thông tại các trường đại học giáo dục ở Nhật là mô hình song song với 4 năm học gồm: GD chung, chuyên môn, sư phạm, thực tập sư phạm, thực tập tốt nghiệp và chương trình chứng nhận giáo viên Có nhiều chương trình để cấp chứng chỉ cho giáo viên dạy nghề, tập trung chủ yếu vào phương pháp giáo dục, thực hành chuyên môn, giảng dạy chuyên môn nghề nghiệp [6]
2.2 Nhận xét chung về mô hình đào tạo giáo viên ở các nước phát triển
Qua nghiên cứu mô hình đào tạo giáo viên của các nước, có thể thấy điểm chung nhất là mô hình nối tiếp trong đào tạo giáo viên tại các trường đại học giáo dục, đại học tổng hợp với chương trình đào tạo rất linh hoạt Một số nước duy trì hướng đào tạo giáo viên tiểu học toàn diện, một giáo viên có thể dạy được tất cả các môn học Tuy nhiên, một số trường hiện nay đã có giáo viên dạy một số môn chuyên biệt như Âm nhạc, Mĩ thuật, Giáo dục thể chất, Hoạt động trải nghiệm
Nhìn chung, các nước phát triển đều chú trọng việc đào tạo đội ngũ giáo viên có đủ phẩm chất, năng lực, kĩ năng thích ứng với sự thay đổi của giáo dục Giáo viên các nước OECD có trình độ thạc sĩ, giáo viên ở nhiều nước như Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Nga có trình độ từ đại học trở lên Hiện nay, nhiều nước (Phần Lan, Thụy Điển, Nhật Bản, Malaysia ) có hướng tăng cường phát triển năng cứu nghiên cứu trong đào tạo giáo viên Thời gian đào tạo giáo viên ở các nước khác nhau Tỉ lệ giáo viên/ học sinh ở các nước khá thấp, giáo viên có điều kiện dạy học tích hợp, phân hóa Giáo viên ở các nước phát triển có trình độ, năng lực, kĩ năng
và khả năng ngoại ngữ cao nên dễ dàng thích ứng nhanh với sự thay đổi chương trình, sách giáo khoa và sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật
Trang 7Các hình thức đào tạo rất đa dạng và phong phú Hàn Quốc, Singapore, Hoa Kì và nhiều nước khác chú trọng việc rèn luyện kĩ năng sư phạm và cung cấp tri thức mới cho giáo viên, nhất là những tri thức mới về nhà trường trong thế kỉ 21, xây dựng chiến lược đào tạo nhằm chuẩn bị tốt chất lượng đầu ra: giáo viên có chuyên môn và năng lực, có giá trị và khả năng thực hành tốt Điểm chung nhất của các nước này là phương pháp sư phạm sáng tạo trong đào tạo giáo viên với mục tiêu đào tạo giáo viên sáng tạo để đào tạo ra HS sáng tạo Coi đội ngũ giáo viên là chìa khóa để nâng cao chất lượng giáo dục Kinh nghiệm từ Sigapore, trong 3 yếu tố quan trọng mang lại sự thành công cho giáo dục của đất nước này có đến 2 yếu tố xuất phát từ đội ngũ giáo viên, đó là: (i) Chọn đúng người để đào tạo họ thành giáo viên; (ii) Phát triển họ thành những giáo viên hiệu quả [6]
2.2 Yêu cầu về năng lực và kỹ năng của giáo viên phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản,toàn diện ngành giáo dục phổ thông
2.2.1 Vai trò của năng lực đối với nghề dạy học
Năng lực là khả năng thực hiện thành công một hoạt động nào đó (năng lực thực hiện) Năng lực mang tính cá nhân hóa, năng lực có thể được hình thành và phát triển thông qua đào tạo, bồi dưỡng và trải nghiệm qua các hoạt động thực tiễn Năng lực hoạt động là khả năng thực hiện những nhiệm vụ công việc và giải quyết các tình huống nảy sinh trong hoạt động bảo đảm cho một tổ chức (nhà trường) đạt mục tiêu đề ra
Cũng có thể hiểu rằng năng lực là một tổ hợp thuộc tính tâm lí phức hợp gồm kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm và nghệ thuật cũng như thái độ của chủ thể đối với đối tượng trong quá trình hoạt động
Đối với nghề dạy học, ngoài các năng lực chung thì năng lực sư phạm là một năng lực chuyên biệt đặc trưng, theo GS.VS Phạm Minh Hạc “năng lực sư phạm là tổ
Trang 8hợp những đặc điểm tâm lí của nhân cách nhằm đáp ứng các yêu cầu của hoạt động
sư phạm và quyết định sự thành công của hoạt động ấy” Người giáo viên, với tư cách là nhà giáo dục gồm có 2 hoạt động cơ bản: dạy học và giáo dục Sự thành công của mỗi giáo viên trong dạy học và giáo dục nếu chỉ có năng lực thì chưa đủ
Vì vậy, khi nghiên cứu năng lực sư phạm của giáo viên, cần nghiên cứu đến hệ thống các kĩ năng tương ứng đối với 2 hoạt động dạy học và giáo dục
Năng lực và kĩ năng có mối quan hệ chặt chẽ, năng lực sư phạm là thuộc tính là đặc điểm của nhân cách còn kĩ năng sư phạm là những thao tác riêng của hoạt động sư phạm trong các dạng hoạt động cụ thể Mặt biểu hiện của năng lực là hệ thống các kĩ năng
2.2.2 Các năng lực và kỹ năng cơ bản của giáo viên phổ thông
Trong dạy học phát triển năng lực theo chương trình giáo dục phổ thông mới, học sinh phổ thông cần được hình thành và phát triển các năng lực chung sau đây: năng lực tự chủ; năng lực tự học; năng lực giao tiếp; năng lực hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực sáng tạo
Từ các cách tiếp cận năng lực như trên, chúng ta có thể xác định một số năng lực
cơ bản đối với giáo viên phổ thông như sau:
- Năng lực sáng tạo;
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ;
- Năng lực lập kế hoạch;
- Năng lực thiết kế;
- Năng lực tổ chức hoạt động;
- Năng lực quản lý;
Trang 9- Năng lực sử dụng thiết bị dạy học
Ngoài các năng lực nói trên, đòi hỏi GVPT cần có các kỹ năng cơ bản sau đây:
- Kỹ năng giao tiếp;
- Kỹ năng quản lý thời gian;
- Kỹ năng hợp tác;
- Kỹ năng làm việc nhóm;
- Kỹ năng giải quyết vấn đề;
- Kỹ năng ra quyết định
- Kỹ năng đánh giá;
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ trình bàycụ thể một số vấn đề về năng lực sáng tạo trong đào tạo giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông hiện nay
2.3 Năng lực sáng tạo trong đào tạo giáo viên hiện nay
Trong giáo dục, sáng tạo vừa là mục tiêu, vừa là nội dung được giảng dạy bằng các phương pháp sáng tạo, được phát triển bởi các công cụ sáng tạo trong thế kỷ XXI tại nhiều nước trên thế giới Trong Sổ tay Chương trình quốc gia của Anh Quốc năm 1999 chỉ rõ đặc điểm của một chương trình sáng tạo như sau:
Chương trình cần giúp học sinh tư duy sáng tạo và có phê phán, giúp các em giải quyết vấn đề và tạo sự khác biệt vì những điều tốt đẹp hơn Chương trình cần cung cấp các cơ hội để học sinh trở thành người sáng tạo, phát minh và phát triển ở các
em năng lực lãnh đạo để trang bị cho cuộc sống tương lai của các em như những người lao động và những người công dân
Trang 10Sáng tạo phải dựa trên cơ sở hiểu biết về các lĩnh vực khoa học Các môn học trong chương trình cung cấp cho người học kiến thức về cấu tạo, hoạt động của chính con người, các con vật hay của thế giới thực vật để từ đó họ vận dụng những kiến thức đã biết một cách sáng tạo vào việc tạo ra những ý tưởng mới, sản phẩm mới Các phẩm chất năng lực cần được phát triển ở học sinh, đặc biệt là ở các em nhỏ khi phát triển sự sáng tạo của các em: sự tò mò, sự hứng thú, khả năng quan sát và khám phá các yếu tố trọng tâm khi các em học các môn khoa học Để giúp học sinh phát triển năng lực sáng tạo trong các môn học khoa học thì giáo viên cần hiểu được bản chất của sự sáng tạo và những phẩm chất năng lực cần có để sáng tạo, tầm quan trọng của khoa học đối với sự phát triển năng lực sáng tạo, các học thuyết và các phương pháp dạy học phát triển sự sáng tạo, biết cách sử dụng các phương tiện công nghệ để kích thích học sinh sáng tạo
Năng lực sáng tạo được hình thành trên cơ sở luyện tập các bài tập thực hành về cách thức tư duy đa chiều, về tưởng tượng và sáng tạo,… Bởi vì, sáng tạo trong các lĩnh vực khác nhau đòi hỏi những kiến thức và những hiểu biết khác nhau nên chương trình giáo dục cần cung cấp kiến thức và đào tạo năng lực sáng tạo phù hợp với lĩnh vực và ngành nghề đó Người giáo viên cần tập trung sáng tạo vào lĩnh vực chuyên môn của mình để nhanh chóng có kiến thức và phương pháp dạy học phát triển tiềm năng sáng tạo của học sinh Mặt khác, cần có các kỹ năng dạy học
để phát triển sự sáng tạo của học sinh Dạy học để phát triển sự sáng tạo của học sinh là các hình thức dạy học có mục đích phát triển tư duy và năng lực sáng tạo cho người học Trong dạy học phát triển sự sáng tạo có dạy học sáng tạo Học sinh
sẽ phát triển được tiềm năng sáng tạo khi chính bản thân giáo viên là những người sáng tạo
Đánh giá năng lực sáng tạo trong đào tạo viên, dựa vào các đặc điểm sáng tạo của Torrance (1979), khung phân tích về suy nghĩ sáng tạo Các đặc điểm này sẽ được