1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học hóa học phần hóa học hữu cơ trường trung học phổ thông

187 31 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tuyển Chọn Và Sử Dụng Hệ Thống Bài Tập Về Giáo Dục Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Trong Dạy Học Hóa Học Phần Hóa Học Hữu Cơ Trường Trung Học Phổ Thông
Tác giả Nguyễn Minh Thư
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Lan Anh
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Sư phạm Hóa học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGUYỄN MINH THƯ TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VỀ GIÁO DỤC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC PHẦN HÓA HỌC HỮU CƠ TRƯỜNG

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN MINH THƯ

TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP

VỀ GIÁO DỤC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM

TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC PHẦN HÓA HỌC HỮU CƠ

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CỬ NHÂN SƯ PHẠM HÓA HỌC

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Đề tài:

TUYỂN CHỌN VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP

VỀ GIÁO DỤC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM

TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC PHẦN HÓA HỌC HỮU CƠ

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CỬ NHÂN SƯ PHẠM HÓA HỌC

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Minh Thư

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Lan Anh

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2021

Trang 3

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH ẢNH

DANH MỤC CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 4

6 Giả thuyết khoa học 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Đóng góp của đề tài 4

9 Cấu trúc khóa luận 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 6

1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu 6

1.2 Tổng quan về vệ sinh an toàn thực phẩm 7

1.2.1 Tình hình chung về vệ sinh an toàn thực phẩm tại Việt Nam 7

1.2.2 Khái niệm chung về vệ sinh an toàn thực phẩm 9

1.2.3 Nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm 13

1.2.4 Các dạng ngộ độc thực phẩm thường gặp 14

1.2.5 Cách xử lý đúng cách khi bị ngộ độc thực phẩm 17

1.2.6 Phương pháp phòng ngừa ngộ độc thực phẩm 17

1.2.7 Tầm quan trọng của vệ sinh an toàn thực phẩm 18

1.3 Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm 19

1.3.1 Quan niệm về giáo dục vệ sinh toàn thực phẩm 19

1.3.2 Mục tiêu giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường THPT 20

1.3.3 Nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường trung học phổ thông 21

Trang 4

1.3.5 Một số hình thức phổ biến tổ chức các hoạt động giáo dục vệ sinh an toàn

thực phẩm ở trường phổ thông 22

1.3.6 Phương pháp giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm 23

1.4 Phương pháp giảng dạy trong trường THPT về giáo dục an toàn thực phẩm thông qua môn Hóa học 24

1.4.1 Dạy học theo tiếp cận giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong giảng dạy hóa học ở trường THPT 24

1.4.2 Dạy học theo hướng tích hợp giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong giảng dạy hóa học ở trường THPT 25

1.5 Sử dụng hệ thống bài tập hóa học trong giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm 32

1.5.1 Khái niệm về bài tập hóa học 32

1.5.2 Ý nghĩa, vai trò của bài tập hóa học 33

1.5.3 Phân loại bài tập hóa học 34

1.5.4 Lựa chọn và sử dụng bài tập hóa học 36

1.5.5 Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan 37

1.5.6 Những yêu cầu lý luận dạy học cơ bản với bài tập 41

1.5.7 Sử dụng bài tập hóa học trong giảng dạy 43

1.5.8 Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm qua các bài tập hóa học 45

1.5.9 Quan hệ giữa bài tập hóa học GDVSATTP với phát triển năng lực của học sinh 46

1.6 Thực trạng sử dụng bài tập hóa học trong giảng dạy ở trường THPT 47

1.6.1 Nhiệm vụ điều tra 47

1.6.2 Nội dung điều tra 48

1.6.3 Đối tượng điều tra 48

1.6.4 Phương pháp điều tra 48

1.6.5 Kết quả điều tra 48

1.6.6 Đánh giá kết quả điều tra 51

CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG BÀI TẬP VỀ GIÁO DỤC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM PHẦN HÓA HỮU CƠ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 52

2.1 Nội dung kiến thức và cấu trúc phần hóa học hữu cơ trong chương trình Trung học phổ thông 52

2.1.1 Nội dung kiến thức phần hóa học hữu cơ 52

2.1.2 Đặc điểm về nội dung kiến thức và cấu trúc phần hóa học hữu cơ 54

Trang 5

2.2 Tuyển chọn và xây dựng các bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm 58

2.2.1 Nguyên tắc tuyển chọn và xây dựng 58

2.2.2 Cách xây dựng hệ thống bài tập hóa học 60

2.2.3 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập thực tiễn về GDVSATTP 60

2.2.4 Hệ thống bài tập hóa học theo chủ đề 61

2.3 Sử dụng hệ thống bài tập giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong giảng dạy 113 2.3.1 Sử dụng bài tập khi nghiên cứu tài liệu mới 114

2.3.2 Sử dụng bài tập khi luyện tập và ôn tập 115

2.3.3 Sử dụng bài tập trong tiết kiểm tra – đánh giá 115

2.3.4 Sử dụng bài tập trong tiết thực hành 115

2.3.5 Sử dụng bài tập trong tiết ngoài giờ lên lớp 116

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 117

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 117

3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm 117

3.3 Phương pháp thực nghiệm 118

3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm 118

3.3.2 Chọn bài thực nghiệm 118

3.3.3 Tổ chức thực nghiệm 119

3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 119

3.4.1 Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm 119

3.4.2 Kết quả thực nghiệm 121

3.4.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 128

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 131

TÀI LIỆU THAM KHẢO 133

PHỤ LỤC 136

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, các trích dẫn được trình bày trong khóa luận hoàn toàn chính xác và đáng tin cậy

Tác giả

NGUYỄN MINH THƯ

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành bài khóa luận này, em đã nhận được sự quan tâm hỗ trợ, giúp đỡ, quan tâm từ nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân Đầu tiên, em xin trân trọng cảm ơn ThS Nguyễn Thị Lan Anh, cô đã rất tận tình cho em những góp ý chuyên môn

vô cùng quý báu, cô đã dành nhiều thời gian để chỉnh sửa khóa luận cũng như luôn quan tâm, động viên em trước những khó khăn trong khi thực hiện đề tài

Em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Tất cả các thầy, cô đã giảng dạy trong quá trình học tập của em, thầy cô đã cung cấp nhiều kiến thức và tư liệu để em có thể hoàn thành khóa luận cùng toàn thể các thầy, cô khoa hóa học trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng

Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu; quý thầy, cô giáo và các em học sinh tại trường THPT Cẩm Lệ, trường THPT Nguyễn Trãi đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em có thể hoàn thành khóa luận

Xin cảm ơn những người bạn học đã hỗ trợ em về chuyên môn, góp ý và giúp đỡ cho em tiến hành thực nghiệm sư phạm, cũng như tạo điều kiện để em có thể hoàn thành bài khóa luận

Một lần nữa, em xin được gửi lời tri ân đến mọi người

Đà Nẵng, ngày 03 tháng 05 năm 2021

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Minh Thư

Trang 9

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 1 122

Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 2 124

Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 3 125

Hình 3.4 Đồ thị phân loại kết quả học tập học sinh qua bài kiểm tra số 1 127 Hình 3.5 Đồ thị phân loại kết quả học tập học sinh qua bài kiểm tra số 2 127 Hình 3.6 Đồ thị phân loại kết quả học tập học sinh qua bài kiểm tra số 3 128

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Nội dung tích hợp GDVSATTP trong chương trình hóa hữu

cơ tương ứng chương trình giảng dạy ở trường THPT

28

Bảng 1.2 Kết quả điều tra mức độ sử dụng BTHH có nội dung liên quan

đến thực tiễn đối với GV trong quá trình giảng dạy hóa học ở trường THPT

48

Bảng 1.3 Kết quả điều tra mức độ sử dụng BTHH có nội dung

GDVSATTP đối với GV trong dạy học ở trường THPT

48

Bảng 1.4 Kết quả điều tra việc sử dụng BTHH có nội dung

GDVSATTP trong các loại tiết học

48

Bảng 1.5 Kết quả điều tra ý kiến của GV về sự cần thiết trong việc khai

thác và vận dụng bài tập có nội dung GDVSATTP tích hợp vào dạy học hóa học ở THPT

49

Bảng 1.6 Kết quả điều tra tìm hiểu nguyên nhân của việc ít hoặc không

đưa bài tập GDVSATTP vào trong dạy học hóa học đối với giáo viên THPT

49

Bảng 1.7 Kết quả điều tra mức độ tin cậy của GV nếu được cung cấp 1

nguồn tài liệu gồm hệ thống bài tập về GDVSATTP trong dạy học hóa học phần hóa học hữu cơ ở THPT

49

Bảng 1.8 Kết qủa điều tra mức độ hứng thú của HS khi có yêu cầu giải

quyết các vấn đề liên quan đến thực tiễn trong môn Hóa học

50

Bảng 1.9 Kết qủa điều tra sự quan tâm của HS về các vấn đề liên quan

đến thực tiễn được lồng ghép trong chương trình hóa học THPT

50

Bảng 1.10 Kết quả điều tra ý kiến HS về sự cần thiết của BTHH có nội

dung liên quan đến vấn đề VSATTP

50

Bảng 3.1 Đối tượng thực tế và giáo viên thực nghiệm 128

Trang 11

Bảng 3.2 Kết quả bài kiểm tra số 1 131 Bảng 3.3 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra số 1 131

Bảng 3.5 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra số 2 133

Bảng 3.7 Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra số 3 134 Bảng 3.8 Thống kê các thông số đặc trưng của lớp thực nghiệm và lớp

đối chứng theo từng bài kiểm tra

135

Bảng 3.9 Phân loại bài kiểm tra thực nghiệm của học sinh 136

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thực phẩm có một ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe con người, sử dụng thực phẩm không hợp vệ sinh, không an toàn đều có thể bị ngộ độc An toàn vệ sinh thực phẩm là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, được tiếp cận với thực phẩm an toàn đang trở thành quyền cơ bản với mỗi con người Thực phẩm an toàn đóng góp to lớn trong việc cải thiện sức khỏe con người, chất lượng cuộc sống và chất lượng giống nòi Ngộ độc thực phẩm và các bệnh do thực phẩm kém chất lượng gây ra không chỉ gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe và cuộc sống của mỗi người, mà còn gây thiệt hại về kinh

tế, là gánh nặng chi phí cho chăm sóc sức khỏe An toàn thực phẩm không chỉ ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên đến sức khỏe mà còn liên quan chặt chẽ đến năng suất, hiệu quả phát triển kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh xã hội Đảm bảo an toàn thực phẩm góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo và hội nhập quốc tế Vì vậy, giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm là rất cần thiết, làm cơ sở cho nhận thức và hành vi cá nhân để đảm bảo sức khỏe bản thân và cộng đồng [26]

Xác định rõ tầm quan trọng của công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, Bộ Y Tế đã tiến hành ra công văn về việc tăng cường chỉ đạo an toàn thực phẩm năm 2019 Trong

đó đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán

bộ quản lý giáo dục, giáo viên, nhân viên nhà trường, học sinh và cha mẹ học sinh về việc đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm, phòng, chống ngộ độc thực phẩm là vấn đề quan trọng [2]

Việc giáo dục học sinh về an toàn thực phẩm trong trường phổ thông là việc làm cần thiết, có vị trí đặc biệt và có tác dụng lâu dài Học sinh là bộ phận làm chủ và phát triển đất nước mai sau chính vì vậy những nhận thức và hiểu biết của các em ở trung học phổ thông hết sức quan trọng Các em nâng cao được nhận thức về vấn đề vệ sinh

an toàn thực phẩm, từ đó các em biết cách tự bảo vệ sức khỏe cho bản thân và mọi người xung quanh Học sinh cũng chính là lực lượng tuyên truyền mạnh mẽ tới mọi người xung quanh, cộng đồng

Nội dung vệ sinh an toàn thực phẩm đã được tích hợp vào chương trình một số môn học như sinh học, hóa học,… và các hoạt động ngoài giờ lên lớp Tuy nhiên, thực

Trang 13

tế việc đưa các kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm trong giảng dạy còn sơ sài và mang nhiều hạn chế Vì thế, việc hiểu biết của các em về vệ sinh an toàn thực phẩm còn chưa được rõ ràng và chưa mang lại hiệu quả

Với đặc thù hóa học là một môn khoa học thực nghiệm có liên quan đến thực tiễn cuộc sống nên môn hóa học trong trường phổ thông thuận lợi cho việc giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm Có nhiều cách đưa kiến thức giáo dục an toàn thực phẩm vào môn hóa học như: tích hợp, lồng ghép, bài tập,… Trong các phương pháp trên, thì việc thiết kế những bài tập hóa học có tích hợp nội dung về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm là một trong những cách gắn liền hóa học với giáo dục ý thức tìm hiểu an toàn thực phẩm nhằm bảo vệ sức khỏe con người Trong giảng dạy hóa học ở trường phổ thông nếu người dạy khai thác được kiến thức lồng ghép những bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong chính bài học sẽ làm cho giờ học trở nên sinh động, học sinh sẽ yêu thích và hứng thú hơn Từ đó, học sinh hình thành được kiến thức, thái độ, tình cảm, ý thức về an toàn thực phẩm sẽ sâu sắc hơn [19]

Lý luận dạy học coi bài tập là một phương pháp dạy học cụ thể Bài tập hóa học làm chính xác hóa các khái niệm hóa học cũng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú hấp dẫn hơn Chỉ khi vận dụng các kiến thức vào việc giải bài tập, học sinh mới nắm được kiến thức một cách sâu sắc Ôn tập và hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực nhất Khi ôn tập và vận dụng kiến thức học sinh sẽ cảm thấy buồn chán nếu chỉ yêu cầu nhắc lại kiến thức Thực tế cho thấy học sinh chỉ thích giải bài tập trong giờ ôn tập Bài tập thực nghiệm sẽ giúp học sinh rèn luyện các kĩ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho học sinh Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống, lao động sản xuất và bảo vệ môi trường Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hóa học và thao tác tư duy Bài tập mang

ý nghĩa phát triển cho các học sinh năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát độc lập, thông minh và sáng tạo Ngoài ra bài tập còn mang ý nghĩa rèn luyện cho học sinh đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học hóa học Bài tập thực tiễn, thực nghiệm còn có tác dụng rèn luyện vũ hóa lao động (lao động có tổ chức, có kế hoạch, gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ nơi làm việc)

Với những nguyên nhân trên và mong muốn xây dựng được hệ thống bài tập hóa

Trang 14

cao chất lượng giảng dạy hóa học trong trường phổ thông, tôi đã chọn và xây dựng đề

tài “ Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thông bài tập về giáo dục vệ sinh an

toàn thực phẩm trong giảng dạy phần hóa học hữu cơ Trung học phổ thông”

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài này nhằm nghiên cứu các nội dung hóa học, các bài tập hóa học có liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm trong chương trình hóa học THPT, từ đó giáo dục cho học sinh có ý thức về vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm bảo vệ sức khỏe cho bản thân và mọi người xung quanh, cũng như tạo sự hứng thú trong học môn hóa học nhằm nâng cao chất lượng dạy học hóa học

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

+ Tổng quan về vệ sinh an toàn thực phẩm, giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm

+ Lý thuyết về xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập có nội dung giáo dục về vệ sinh

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT

- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm phần hóa học hữu cơ

Trang 15

6 Giả thuyết khoa học

Xây dựng thành công hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm tích hợp trong dạy học hóa học thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của việc dạy và học theo hướng hình thành và phát triển những hiểu biết, thái độ, kỹ năng vệ sinh an toàn thực phẩm cho học sinh

7 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu liên quan đến

đề tài Nghiên cứu cơ sở, kỹ thuật xây dựng bài tập để từ đó xây dựng hệ thống câu hỏi

và bài tập cho đề tài

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Quan sát, tìm hiểu về tình hình giáo dục vệ sinh

an toàn thực phẩm trong giảng dạy hóa học Thực nghiệm sư phạm kiểm nghiệm hiệu quả các bài tập hóa học trong giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm

- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu

8 Đóng góp của đề tài

- Về mặt lý luận: Góp phần làm sáng tỏ tác dụng của bài tập trong việc phát triển khả năng sáng tạo và hứng thú học tập cho học sinh

- Về mặt thực tiễn: Xây dựng một hệ thống bài tập hóa học có nội dung liên quan đến

vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao nhận thức hành động và đạo đức về vệ sinh an toàn thực phẩm cho học sinh THPT

Trang 16

9 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phần phụ lục, và tài liệu tham khảo, khoa luận gồm

Trang 17

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC

VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu

Hóa học là bộ môn thực nghiệm nhưng sự khảo sát chất và biến đổi của chúng không thể sờ nắm được mà chỉ quan sát được qua hiện tượng, qua sự khảo sát vi mô trên hiện tượng vĩ mô Hóa học cũng là môn học đòi hỏi phải dùng nhiều kí hiệu, phương trình hóa học, nhiều khái niệm trừu tượng nên một phần đem lại sự khó khăn cho việc tiếp thu của học sinh Nội dung kiến thức hóa học được hình thành và phát triển trong hai giai đoạn:

- Giai đoạn giáo dục cơ bản

- Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

Bộ sách giáo khoa hiện hành hiện nay cũng đã có tư liệu và bài tập liên quan đến các vấn đề thực tiễn như môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm,… Tuy nhiên chương trình hóa học hiện hành xây dựng theo các nguyên tắc đảm bảo định hướng chung cho tất cả các môn học, định hướng xây dựng chương trình môn hóa học ở trường phổ thông ở cả hai giai đoạn giáo dục Chương trình còn nhiều nội dung mang tính ghi nhớ máy móc cũng như các bài tập tính toán theo kiểu “toán hóa học”, ít đi vào bản chất hóa học và gắn với thực tiễn Còn hạn chế kiến thức vận dụng để giải quyết các vấn đề thực tiễn thông qua môn học… Các năng lực của học sinh còn bị hạn chế và chưa phát triển tích cực Giáo viên còn giảng dạy máy móc và rập khuôn theo phương pháp thuyết trình là chủ yếu Đa số các vấn đề thực tiễn này sẽ được thực hiện ở hoạt động ngoài giờ lên lớp làm mất tính liên kết, liên thông kiến thức, từ đó làm giảm sự hứng thú, tò mò và ứng dụng thực tế của môn học

Trong chương trình giáo dục phổ thông môn hóa học (ban hành kèm thông tư 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) được thay đổi sắp tới sẽ có nhiều thay đổi và bổ sung các vấn đề thực tiễn hơn so với chương trình hiện hành Nhận ra vấn đề đang tồn tại và để đáp ứng nhu cầu đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy và học tập môn hóa học phổ thông theo hướng gắn bó với những vấn đề thực tiễn một số bài nghiên cứu và luận văn theo hướng đề

Trang 18

(1) Lê Thị Huyền, Một số biện pháp giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học môn hóa học trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ giáo dục

học, Trường Đại học sư phạm Huế, 2016

(2) Trần Văn Hùng, Tích hợp giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm cho học sinh thông qua các bài tập thực tiễn về vệ sinh an toàn thực phẩm trong chương trình hóa học trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ, ĐH Vinh, 2009

(3) Phạm Thị Nhài, Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học phần hóa học hữu cơ trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ sư phạm hóa học, Đại học quốc gia Hà Nội, 2011

(4) Phạm Thị Kiều Duyên, Sử dụng bài tập thực tiễn trong dạy học hóa học nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh, Bài đăng tạp

chí, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015

Các vấn đề thực tiễn và bài tập vào chương trình giảng dạy đã được quan tâm nhiều hơn, các bài nghiên cứu của các tác giả rất chi tiết trong việc nghiên cứu tích hợp nội dung và xây dựng bài tập liên quan Tuy nhiên, với mong muốn xây dựng, đóng góp nhiều bài tập gắn với vấn đề giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm phù hợp với chương trình giáo dục mới nên trong luận văn này chúng tôi sẽ dựa trên những đóng góp của các nghiên cứu hình thành, tuyển chọn và xây dựng thêm một số bài tập dạng này, đồng thời đưa các bài tập vào trong giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng dạy và học

1.2 Tổng quan về vệ sinh an toàn thực phẩm

1.2.1 Tình hình chung về vệ sinh an toàn thực phẩm tại Việt Nam

1.2.1.1 Tình hình chung

Đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ sức khỏe, giảm tỉ lệ mắc bệnh, duy trì và phát triển nòi giống, tăng cường sức lao động, học tập, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, văn hóa xã hội và thể hiện nếp sống văn minh

Mặc dù đã có khá nhiều tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong công tác bảo vệ và vệ sinh an toàn thực phẩm, cũng như biện pháp về quản lý giáo dục như ban hành luật, điều lệ và thanh tra giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng các bệnh do kém chất lượng về vệ sinh an toàn thực phẩm và thức ăn ở Việt Nam vẫn chiếm tỉ lệ khá cao

Trang 19

Trong những năm gần đây, việc sử dụng các chất phụ gia trong sản xuất trở nên phổ biến, tràn lan, không đúng liều lượng và danh mục cho phép Các loại phẩm màu, đường hóa học đang bị lạm dụng trong pha chế nước giải khát, sản xuất bánh kẹo, chế biến thức ăn sẵn như thịt quay, giò chả, ô mai gây mất an toàn thực phẩm và chưa được cấp giấy phép vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay [25]

Nhiều loại thực phẩm bán trên thị trường chưa được kiểm duyệt Tình hình sản xuất thức ăn, đồ uống giả, không đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và không đúng thành phần nguyên liệu cũng như quy trình công nghệ đã đăng ký với cơ quan quản lý Nhãn hàng và quảng cáo không đúng sự thật vẫn xảy ra

Ngoài ra, việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật bao gồm thuốc trừ sâu, diệt cỏ, hóa chất kích thích tăng trưởng và thuốc bảo quản không theo đúng quy định gây mất

an toàn vệ sinh thực phẩm, ô nhiễm nguồn nước cũng như tồn dư các hóa chất này trong thực phẩm Việc bảo quản lương thực, thực phẩm không đúng quy cách tạo điều kiện cho vi khuẩn và nấm mốc phát triển dẫn đến các vụ ngộ độc thực phẩm

Các bệnh do thực phẩm gây nên không chỉ là các bệnh cấp tính do ngộ độc thức

ăn mà còn là các bệnh mạn tính do nhiễm và tích lũy các chất độc hại từ môi trường bên ngoài vào thực phẩm, gây rối loạn chuyển hóa các chất trong cơ thể, trong đó có bệnh tim mạch và ung thư [19]

Các cấp ngành liên quan nên có biện pháp kiểm tra, rà soát chặt chẽ hơn nữa những cơ sở sản xuất kinh doanh để hạn chế những mối nguy, bảo vệ người tiêu dùng trước những nguy cơ gây mất vệ sinh an toàn thực phẩm

1.2.1.2 Thách thức

- Sự bùng nổ dân số cùng với đô thị hóa nhanh dẫn đến thay đổi thói quen ăn uống của người dân, thúc đẩy phát triển dịch vụ ăn uống trên hè phố tràn lan, khó có thể đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

- Ô nhiễm môi trường: Sự phát triển của các ngành công nghiệp dẫn đến môi trường ngày càng bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến vật nuôi và cây trồng Mức độ thực phẩm bị nhiễm độc tăng lên, đặc biệt là các vật nuôi trong ao hồ có chứa nước thải công nghiệp, lượng tồn dư một số kim loại nặng ở các vật nuôi cao

Trang 20

- Sự phát triển của khoa học công nghệ: Việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới trong chăn nuôi, trồng trọt, sản xuất, chế biến thực phẩm làm cho nguy cơ thực phẩm bị nhiễm các hóa chất độc hại ngày càng tăng do lượng tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất bảo quản trong rau quả, tồn dư thuốc thú y trong thịt, thực phẩm sử dụng công nghệ gen, sử dụng nhiều hóa chất độc hại, phụ gia không cho phép [26]

1.2.1.3 Số liệu thống kê

Năm 2020, tính đến ngày 31/5, toàn quốc đã ghi nhận 48 vụ ngộ độc thực phẩm làm hơn 870 người mắc, 824 người nhập viện điều trị và 22 người tử vong So sánh với cùng kỳ năm 2019, tăng 11 vụ (29,7%) ngộ độc thực phẩm, số người mắc tăng 18 người và tử vong tăng 17 người Phân tích từ 1604 vụ ngộ độc được ghi nhận từ năm

2010 đến năm 2020, nguyên nhân gây ngộ độc chủ yếu do vi sinh vật (chiếm 38,7%), độc tố tự nhiên (28,4%), hóa chất (4,2%)…

Đối với các vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra tại các bếp ăn trong khu chế xuất, khu công nghiệp, từ năm 2010 đến năm 2019, cả nước ghi nhận 149 vụ với 10.847 người mắc, 9.889 người nhập viện Trung bình mỗi năm xảy ra 15 vụ với 1.135 người mắc

- Thực phẩm tươi sống là thực phẩm chưa qua chế biến gồm: Thịt, trứng, cá, thủy hải sản, rau, củ, quả tươi và các thực phẩm khác chưa qua chế biến

- Thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng là thực phẩm được bổ sung vitamin, chất khoáng, chất vi lượng Nhằm phòng ngừa, khắc phục sự thiếu hụt các chất đó đối với sức khỏe cộng đồng hay nhóm đối tượng cụ thể trong cộng đồng

- Thực phẩm chức năng là thực phẩm dùng để hỗ trợ chức năng của cơ thể con người Tạo cho cơ thể thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm bớt nguy cơ mắc bệnh Bao gồm thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dinh dưỡng y học

Trang 21

- Thực phẩm biến đổi gen là thực phẩm có một hoặc nhiều thành phần nguyên liệu có gen bị biến đổi bằng công nghệ gen

- Thực phẩm đã qua chiếu xạ là thực phẩm đã được chiếu xạ bằng nguồn phóng xạ để

xử lý, ngăn ngừa sự biến chất của thực phẩm

- Thực phẩm bao gói sẵn là thực phẩm được bao gói và ghi nhãn hoàn chỉnh, sẵn sàng

để bán trực tiếp cho mục đích chế biến hoặc sử dụng ngay [19]

Ngoài ra khái niệm vệ sinh an toàn thực phẩm còn bao gồm cả những nội dung khác như tổ chức vệ sinh trong vận chuyển, chế biến và bảo quản thực phẩm [24]

1.2.2.3 Vệ sinh an toàn thực phẩm (an toàn thực phẩm)

An toàn thực phẩm hay vệ sinh an toàn thực phẩm hiểu theo nghĩa hẹp là một môn khoa học dùng để mô tả việc xử lý, chế biến, bảo quản và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, phòng chống bệnh tật do thực phẩm gây ra

Hiểu theo nghĩa rộng, vệ sinh an toàn thực phẩm là toàn bộ những vấn đề cần xử

lý liên quan đến việc đảm bảo vệ sinh đối với thực phẩm nhằm đảm bảo cho sức khỏe của người tiêu dùng Đây là một vấn đề và nguy cơ rất lớn mà các nước đang phát triển đã và đang phải đối mặt trong đó có Việt Nam [19]

1.2.2.4 Khái niệm sự cố mất an toàn thực phẩm

Sự cố an toàn thực phẩm là tình huống xảy ra do ngộ độc thực phẩm Bệnh truyền qua thực phẩm hoặc các tình huống khác phát sinh từ thực phẩm Gây hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe con người

- Ô nhiễm thực phẩm là tình trạng xuất hiện bất kỳ chất lạ nào (chất ô nhiễm) trong thực phẩm

Trang 22

- Tác dụng gây ô nhiễm là yếu tố không mong muốn Không được chủ động thêm vào thực phẩm, có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến an toàn thực phẩm

- Bệnh truyền qua thực phẩm là bệnh do ăn uống thực phẩm bị nhiễm tác nhân gây

bệnh [25]

1.2.2.5 Ngộ độc thực phẩm

Ngộ độc thực phẩm (ngộ độc thức ăn) hay còn gọi là trúng thực dùng để chỉ tất

cả các bệnh gây ra bởi các mầm bệnh có trong thực phẩm

Bệnh do thực phẩm gây ra có thể chia làm hai nhóm:

- Bệnh gây ra do chất độc, chất độc này có thể do vi sinh vật tạo ra, do nguyên liệu (chất độc có nguồn gốc sinh học), do hóa chất từ quá trình chăn nuôi, trồng trọt, bảo quản, chế biến Các chất độc này có trong thực phẩm trước khi người tiêu dùng ăn phải

- Bệnh nhiễm trùng do thực phẩm là trong thực phẩm có vi khuẩn gây bệnh, vi khuẩn này vào cơ thể bằng đường tiêu hóa và tác động tới cơ thể do sự hiện diện của nó cùng các chất độc của chúng tạo ra [21]

1.2.2.6 Chất độc

Chất độc trong thực phẩm là các chất hóa học hay hợp chất hóa học có trong nguyên liệu, sản phẩm thực phẩm ở một nồng độ nhất định gây ngộc độc cho người hay động vật sử dụng chúng

Chất độc có thể tồn tại ở nhiều trạng thái khác nhau, được hình thành và lẫn vào thực phẩm bằng nhiều con đường khác nhau Các chất độc được đưa vào thực phẩm bằng những con đường cơ bản sau đây:

- Chất độc được tạo thành trong thực phẩm do vi sinh vật nhiễm vào thực phẩm Trong quá trình nhiễm và phát triển trong thực phẩm

- Các loài vi sinh vật có khả năng sinh chất độc Như vậy, khi thực phẩm nhiễm vi sinh vật các chất dinh dưỡng bị mất đồng thời thực phẩm sẽ chứa các chất độc

- Chất độc được hình thành do sự chuyển hóa các chất nhờ các enzyme ngoại bào của

vi sinh vật phát triển trong thực phẩm Các chất độc này được tạo ra ở ngoài tế bào vi sinh vật

Trang 23

- Chất độc do nguyên liệu thực phẩm Chúng không bị biến đổi hoặc bị biến đổi rất ít trong quá trình chế biến và bảo quản thực phẩm

- Chất độc hình thành trong thực phẩm do việc sử dụng việc sử dụng bừa bãi, không tuân thủ những quy định về sử dụng các chất phụ gia thực phẩm; sử dụng dư lượng thuốc trừ sâu, phân bón, chất diệt cỏ, diệt côn trùng; nhiễm kim loại nặng và các chất độc khác trong quá trình chế biến và sử dụng bao bì có chất lượng kém hoặc không đúng nguyên liệu cần thiết, phù hợp với loại thực phẩm [21]

1.2.2.8 Một số khái niệm khác

- Thời hạn sử dụng thực phẩm là thời hạn mà thực phẩm vẫn giữ được giá trị dinh dưỡng và bảo đảm an toàn cho người sử dụng trong điều kiện bảo quản được ghi trên nhãn theo hướng dẫn của nhà sản xuất

- Truy gốc nguồn gốc thực phẩm là truy tìm quá trình hình thành và lưu thông thực phẩm

- Lô sản xuất thực phẩm là một số lượng xác định của một loại sản phẩm cùng tên, cùng chất lượng, nguyên liệu, thời hạn sử dụng và cùng được sản xuất tại một cơ sở

- Thức ăn đường phố là thực phẩm đã được chế biến để ăn, uống Trong thực tế được thực hiện thông qua hình thức bán rong, bày bán trên đường phố, nơi công cộng hoặc những nơi tương tự [5]

- Phụ gia thực phẩm là chất được chủ định đưa vào thực phẩm trong quá trình sản xuất,

có hoặc không có giá trị dinh dưỡng, nhằm giữ hoặc cải thiện đặc tính của thực phẩm

Trang 24

1.2.3 Nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm

1.2.3.1 Thức ăn nhiễm vi sinh vật có hại

Xung quanh chúng ta tồn tại rất nhiều loại vi sinh vật, chúng hiện diện ở mọi nơi: trong không khí, trên đồ vật sử dụng hay cả trên thực phẩm được sử dụng và bày bán Tất cả các vi sinh vật rất nhỏ và không thể được nhìn thấy bằng mắt thường Vi sinh vật tác động đến con người theo cả hướng tích cực và tiêu cực Nhiều loại vi sinh vật

có lợi cho cơ thể như các vi sinh vật trong đường ruột giúp tiêu hóa thức ăn dễ hơn, một số loại vi sinh vật làm thay đổi tính chất sinh hóa của thực phẩm giúp gia tăng hương vị Tuy nhiên, cũng có nhiều loại vi sinh vật có hại cho sức khỏe con người, chúng có thể nhiễm vào thực phẩm gây ra ngộ độc cấp tính và mãn tính cho con người khi sử dụng Các loại vi sinh vật thường gặp gây ngộ độc thực phẩm như: Amip, Esherichia Coli, Staphylococus aureus, Samonella,…

Các loại rau sống có thể bị nhiễm khuẩn Amip gây ra bệnh lỵ Amip cho người sử dụng, hay vi khuẩn Esherichia coli gây ra bệnh tiêu chảy Ngoài ra, vi khuẩn E.coli khi

sử dụng thực phẩm từ cá, rau tươi, hay nước bị ô nhiễm có thể gây tiêu chảy sau bữa

ăn từ 24 – 48 giờ [1]

1.2.3.2 Các độc tố có trong nguyên liệu và sản phẩm thực phẩm

Nguyên liệu chính trong bữa ăn thường ngày của con người chủ yếu từ động vật

và thực vật, những nguyên liệu này hoàn toàn có thể chứa chất độc Một số loại thực phẩm có chứa độc tố bên trong như cá nóc, mật cá trắm, khoai tây mọc mầm, măng, cà chua xanh hay nấm Các loại thực phẩm khi đã được nấu chín có thể loại bỏ được một

số loại chất độc tồn tại trong nó, tuy nhiên nhiều loại chất độc không bị phá hủy sau khi chế biến, khi đó chúng sẽ gây ngộ độc cho con người Thậm chí trong nhiều trường hợp, một số loại thực phẩm có thể được sử dụng ngay mà không phải trải qua khâu chế biến, khi đó nguy cơ về ngộ độc thực phẩm là rất cao Vi khuẩn Staphylococcus aureus hay Samonella có thể gây ngộ độc cho con người nếu chúng ta ăn thịt gia cầm, trứng chưa được nấu chín [1]

1.2.3.3 Quá trình chế biến và bảo quản thực phẩm

Trong quá trình chế biến, nếu thực phẩm không được làm sạch hoặc giữ vệ sinh thì chúng hoàn toàn có thể làm cho con người bị ngộ độc thực phẩm Vi khuẩn

Trang 25

Staphylococcus aureus có thể nhiễm từ tay, da người sang thực phẩm gây ngộ độc thực phẩm

Thực phẩm khi đã qua sơ chế hoặc nấu chín mà không được bảo quản đúng cách, hay được sử dụng khi đã quá hạn sử dụng cũng có thể gây ngộ độc, tiêu chảy cho người sử dụng chúng [24]

1.2.3.4 Các chất phụ gia thực phẩm

Các chất phụ gia thực phẩm như chất tạo màu, hương liệu, chất bảo quản,… đặc biệt là các loại phụ gia thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ có nguy cơ gây ngộ độc cho con người Một số vụ ngộ độc do ăn phải thức ăn ôi thiu, thối nhưng có ướp các chất phụ gia khiến người tiêu dùng không phân biệt được [1]

1.2.3.5 Độc hại do thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu

Ngày nay, để bảo vệ các loại rau, cây trồng trước sự phá hoại của sâu bệnh, các loại thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng rộng rãi Tuy nhiên, ngoài tác dụng bảo vệ cây trồng khỏi sâu bệnh thì thuốc bảo vệ thực vật lại có ảnh hưởng xấu đến môi trường, nguồn nước và sức khỏe con người Các loại thực phẩm từ thực vật nếu không tuân thủ đúng theo nguyên tắc và hướng dẫn sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có thể tồn dư chất độc trong nó Khi sử dụng phải các loại thực vật chứa độc đó, chúng ta

sẽ có nguy cơ bị ngộ độc cao [3]

1.2.4 Các dạng ngộ độc thực phẩm thường gặp

1.2.4.1 Ngộ độc thực phẩm Salmonella

Đây là loại nhiễm trùng, nhiễm độc thức ăn, thường xảy ra trong giai đoạn ngắn Biểu hiện nhiễm độc do độc tố của vi trùng là buồn nôn, nhức đầu, choáng váng,… sốt, nôn, tiêu chảy nhiều lần, phân nhiều nước đôi khi có máu

Bệnh lây qua thức ăn bị nhiễm vi khuẩn thương hàn như thịt gia súc, gia cầm mắc bệnh; trứng, cá bị ô nhiễm

Để phòng tránh không nên ăn thịt gia súc, gia cầm bị ốm, chết Đảm bảo điều kiện vệ sinh nơi giết mổ, bảo quản đúng cách nguyên liệu trước khi chế biến và bảo quản lạnh thức ăn chín [19]

Trang 26

Thực phẩm gây ngộ độc gồm thịt, cá, rau đóng hộp bị ô nhiễm trong quá trình chế biến

Biện pháp phòng tránh: Không ăn thịt, cá có dấu hiệu ôi thiu, bị ươn,… làm thức

ăn nguội hoặc đóng hộp Không sử dụng các đồ hộp có dấu hiệu phồng, với thức ăn khả nghi phải đun sôi lại ít nhất 1 giờ đồng hồ rồi mới dùng Cá nếu chưa sử dụng ngay phải mổ bỏ hết ruột, mang, vây rửa sạch và ướp lạnh ngay [19]

1.2.4.4 Ngộ độc thực phẩm do virus

Điển hình nhất là virus gây bệnh viêm gan A (HAV) và Norwalk Virus HAV nhiễm và ký sinh ở các loại nhuyễn thể rất khó làm sạch Thực phẩm trung gian truyền HAV là rau sống, thức ăn chế biến nguội, bánh bao, bánh mì kẹp thịt và các loại nhuyễn thể (sò, ốc, hến) sống ở nguồn nước bẩn

Triệu chứng chung khi mắc ngộ độc do HAV và Norwalk là tiêu chảy đối với người lớn và bị nôn đối với trẻ em

Trang 27

1.2.4.5 Ngộ độc thực phẩm do sán lá gan nhỏ

Mầm bệnh là ấu trùng ở thịt và các loại cá chép, mè, trắm, trôi, diếc,…

Triệu chứng không rõ rệt, chỉ phát hiện rõ khi nhiễm trên 100 con sán khiến người bệnh bị rối loạn tiêu hóa, chán ăn, đi lỏng xen kẽ táo bón Có thể mẩn ngứa, bạch hầu tăng, đau bụng, vàng da, gan to và cứng, có dấu hiệu viêm đường mật và xơ gan

Phòng ngừa bằng cách không ăn gỏi cá, cá nướng chưa chín hoặc nấu chưa kỹ,

ốc luộc chưa chín Khi xác định đang bệnh cần điều trị bằng thuốc tẩy sán theo hướng dẫn của bác sĩ

1.2.4.6 Ngộ độc thực phẩm do nấm mốc

Một số thực phẩm dễ bị nhiễm độc tố vi nấm Aflatoxin bao gồm các loại hạt như đậu phộng, bắp, đậu nành, hướng dương, điều, bột bắp, bột đậu nành, bột đậu phộng, bột dinh dưỡng trẻ em trong thành phần có chứa đậu nành, kẹo đậu phộng, đậu phộng chiên giòn,…

1.2.4.7 Ngộ độc do rau quả tồn dư thuốc bảo vệ thực vật

Triệu chứng gồm tổn thương hệ thần kinh (nhức đầu, mất ngủ, giảm trí nhớ, ra

mồ hôi, nặng thì bị liệt do tổn thương thần kinh ngoại biên và não); tim mạch (co thắt mạch ngoại vi, loạn nhịp tim); hô hấp (viêm dạ dày, gan mật, co thắt đường mật); hội chứng thiếu máu, giảm bạch hầu, xuất huyết

Ngoài ra, nhiễm thuốc bảo vệ thực vật còn có biểu hiện tổn thương cả hệ tiết niệu, nội tiết và tuyến giáp

1.2.4.8 Ngộ độc thực phẩm do kim loại nặng

Arsenic, chì, thủy ngân và Seslenium gây kích động hệ thống thần kinh trung ương và nếu nồng độ cao có thể gây chết người Rất nhiều loại thực phẩm thiên nhiên (rau, cá, tôm, cua, ốc,…) được trồng hoặc sống ở nguồn nước bẩn dễ nhiễm kim loại nặng nói trên

1.2.4.9 Ngộ độc thực phẩm do các chất hóa học

Các chất hóa học có thể gây ngộ độc thực phẩm như phụ gia ngoài danh mục cho

Trang 28

liệu bao gói, các chất tẩy rửa, chống gỉ sét, cũng là nguyên nhân gây ngộ độc nếu bị nhiễm trong thực phẩm

1.2.5 Cách xử lý đúng cách khi bị ngộ độc thực phẩm

Khi có những biểu hiện ngộ độc thực phẩm, cần nhanh chóng có cách xử trí đúng

để không gây hại đến sức khỏe, nếu không xử trí kịp thời bệnh nhân có thể dẫn đến tử vong Cách tốt nhất là ngay khi phát hiện dấu hiệu ngộ độc thực phẩm, sau khi xử lý đúng cách tại nhà cần nhanh chóng chuyển nạn nhân tới cơ sở y tế để được bác sĩ đưa

ra phác đồ cấp cứu điều trị, phù hợp, kịp thời

Nếu có các biểu hiện ngộ độc xảy ra sau khi ăn thức ăn gây ngộ độc trước 6 giờ thì cần làm cho người bị ngộ độc nôn ra hết thức ăn đã ăn Cần chú ý và cẩn thận khi gây nôn cho trẻ em

Với trường hợp ngộ độc xảy ra sau khi ăn phải thức ăn gây độc sau 6 giờ, lúc này chất độc đã bị hấp thu một phần vào cơ thể, thì cần xử lý bằng cách:

- Dùng chất trung hòa: Nếu người bị ngộ độc do những chất acid có thể dùng những

chất kiềm chủ yếu như: nước xà phòng 1%, nước MgO 4%, cứ cách 5 phút cho người bệnh uống 15 ml Tuy nhiên, tuyệt đối không được dùng thuốc muối để tránh hình thành CO2 làm thủng dạ dày cho bệnh nhân có tiền sử loét dạ dày Nếu người bị ngộ độc do chất kiềm thì cho uống dung dịch acid nhẹ như: dấm, nước hoa quả,…

- Dùng chất bảo vệ niêm mạc dạ dày như: Dùng bột mì, bột gạo, sữa, lòng trắng trứng

gà, nước cháo,… để ngăn cản sự hấp thu của dạ dày, ruột đối với chất độc

- Dùng chất kết tủa: Nếu bị ngộ độc kim loại (chì, thủy ngân, ) có thể dùng lòng trắng

trứng, sữa hoặc 4 – 10g sodium sulfate

- Dùng chất giải độc: Với người bị ngộ độc kim loại nặng, acid,… có thể uống kết hợp

với chất độc thành chất không độc như: uống hỗn hợp than bột, MgO [3]

1.2.6 Phương pháp phòng ngừa ngộ độc thực phẩm

Hiện nay, tình trạng thực phẩm bẩn, chứa nhiều hóa chất độc hại đang được diễn biến hết sức phức tạp Cẩn thận trong khâu chọn lựa và chế biến thực phẩm sẽ giúp người tiêu dùng tránh phải các nguy cơ về sức khỏe Các phương pháp này bao gồm:

Trang 29

- Chọn mua những thực phẩm tươi sống, không bị ôi thiu, không hết hạn sử dụng, có xuất xứ rõ ràng

- Không sử dụng các thực phẩm chứa độc tố như cá nóc, khoai tây mọc mầm, thực phẩm bị lên nấm mốc, các loại nấm lạ, và những thực phẩm nhiễm chất độc hóa học

- Bảo quản những thức ăn chưa chế biến và đã qua chế biến trong tủ lạnh ở nhiệt độ phù hợp

- Không nên để thức ăn đã nấu chín ở nhiệt độ thường quá hai giờ, đặc biệt vào mùa

hè, khi tiết trời nắng nóng thì không nên để ở bên ngoài quá một giờ

- Làm chín thức ăn đúng cách, ở nhiệt độ phù hợp Nấu chín thức ăn, đun sôi nước trước khi sử dụng Rửa các loại trái cây tươi trực tiếp dưới vòi nước đang chảy

- Rửa tay sạch trước khi tiếp xúc với thực phẩm, trong quá trình chế biến và sau khi chế biến món ăn để ngăn ngừa sự xâm nhập của vi khuẩn qua đường ăn uống

- Dụng cụ chế biến thức ăn cũng phải sạch sẽ, rửa với nước xà phòng và nên rửa với nước ấm

- Khi đi ăn ngoài, nên chọn các quán ăn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, tránh các quán ăn bụi bẩn, ẩm thấp

- Thực hiện quy tắc ăn chín, uống sôi

- Rửa tay thật sạch trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và đi bên ngoài về Trang bị sẵn nước rửa tay khô khi đi bên ngoài [10]

1.2.7 Tầm quan trọng của vệ sinh an toàn thực phẩm

1.2.7.1 Tầm quan trọng của vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sức khỏe

Thực phẩm là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của cơ thể, đảm bảo cho sức khỏe con người nhưng đồng thời cũng có thể là nguồn lây bệnh nếu không đảm bảo vệ sinh Về lâu dài, thực phẩm không những có tác động thường xuyên đối với sức khỏe con người mà còn ảnh hưởng lâu dài đến nòi giống

Sử dụng các thực phẩm không đảm bảo vệ sinh trước mắt có thể bị ngộ độc cấp tính với các triệu chứng dễ nhận thấy, nhưng vấn đề nguy hiểm là sự tích lũy dần các chất độc hại ở một số cơ quan trong cơ thể Sau một thời gian, bệnh mới biểu hiện

Trang 30

hoặc có thể gây các dị tật, dị dạng cho thế hệ mai sau Những ảnh hưởng tới sức khỏe

đó phụ thuộc vào các tác nhân gây bệnh

1.2.7.2 Vệ sinh an toàn thực phẩm tác động đến kinh tế xã hội

Đối với Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác, lương thực, thực phẩm là loại sản phẩm chiến lược, ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa chính trị, xã hội rất quan trọng Để cạnh tranh trên thị trường quốc tế, thực phẩm không những cần được sản xuất, chế biến, bảo quản phòng tránh ô nhiễm các loại vi sinh vật mà còn không được chứa các chất hóa học tổng hợp hay tự nhiên vượt quá mức quy định cho phép của tiêu chuẩn quốc tế hoặc quốc gia, gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng

Những thiệt hại khi không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm: thiệt hại chính gây ra các bệnh từ thực phẩm đối với cá nhân là chi phí khám chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, chi phí chăm sóc người bệnh,… Đối với nhà sản xuất là những chi phí thu hồi, lưu giữ sản phẩm, hủy hoặc loại bỏ sản phẩm, những thiệt hại do mất lợi nhuận do thông tin quảng cáo,… và thiệt hại lớn nhất là mất lòng tin người tiêu dùng Ngoài ra, còn có các thiệt hại khác như phải điều tra, khảo sát, phân tích, kiểm tra độc hại, giải quyết hậu quả [16]

1.3 Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm

1.3.1 Quan niệm về giáo dục vệ sinh toàn thực phẩm

Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm là làm cho các cá nhân và cộng đồng hiểu được kiến thức về thực phẩm an toàn, cũng như ảnh hưởng của thực phẩm không an toàn đến sức khỏe con người, từ đó hình thành những kỹ năng tham gia tích cực, hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm

Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm là một quá trình thường xuyên và lâu dài thông qua đó con người nhận thức được ý nghĩa của vệ sinh an toàn thực phẩm với sức khỏe con người

Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm có tác dụng:

- Hình thành khả năng suy nghĩ, nghe, nói, đọc, viết có sự phán xét Nhân tố này hỗ trợ cho quá trình hình thành hành vi tốt, thái độ đúng đối với vệ sinh an toàn thực phẩm

Trang 31

- Hình thành thái độ quan tâm đến vệ sinh an toàn thực phẩm

- Hình thành khả năng đánh giá, ra quyết định trước những vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm Phát triển khả năng lựa chọn những giải pháp có tính bền vững

- Thiết lập những giá trị đạo đức vệ sinh an toàn thực phẩm căn bản mà cá nhân sẽ phấn đấu thực hiện suốt đời

1.3.2 Mục tiêu giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường THPT

Thông qua các hoạt động giáo dục cụ thể, thiết thực trong trường phổ thông giúp cho học sinh nâng cao nhận thức về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, giúp các em học sinh tự bảo vệ sức khỏe của bản thân và mọi người xung quanh; góp phần tuyên truyền đến người thân, cộng đồng về vệ sinh toàn thực phẩm nhằm hình thành ý thức

và phòng tránh bệnh tật, đảm bảo sức khỏe để học tập và làm việc [19]

Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm không phân biệt cho từng đối tượng, vì thế mục tiêu giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm ở cấp học nói chung và trường trung học phổ thông nói riêng có mục tiêu đem lại cho đối tượng các vấn đề sau:

1.3.2.1 Kiến thức

- Hiểu biết bản chất các vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm: tính phức tạp, quan hệ nhiều mặt, nhiều chiều, sự đa dạng của các nguồn thực phẩm, cũng như mối quan hệ giữa thực phẩm với các nguồn gây ngộ độc thực phẩm, mối quan hệ chặt chẽ giữa sức khỏe con người với sự phát triển

- Cung cấp lý thuyết về các quá trình tự nhiên, xã hội có liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm

1.3.2.2 Năng lực, phẩm chất

- Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm như một nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển, đối với bản thân cũng như đối với cộng đồng, quốc gia và quốc tế, từ đó có thái độ, cách ứng xử đúng đắn trước các vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, xây dựng cho mình quan niệm đúng đắn về ý thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách

Trang 32

- Tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực trong việc lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp lí và khôn ngoan các nguồn thực phẩm, hạn chế tối đa các yếu tố gây ngộ độc thực phẩm

- HS hình thành được các năng lực chung và năng lực đặc thù môn hóa học cần được phát triển trong hoạt động học để chiếm lĩnh và vận dụng kiến thức đã học giải quyết vấn đề theo yêu cầu bài học và đời sống

- Mở ra nhiều cơ hội giúp học sinh tích lũy nhiều kinh nghiệm nhờ giáo dục trực tiếp trong đời sống hàng ngày (như lựa chọn thực phẩm, chế biến thực phẩm)

- HS phát triển các phẩm chất như trách nhiệm, trung thực, chăm chỉ trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập và vận dụng kiến thức vào cuộc sống

1.3.3 Nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường trung học phổ thông

- Khái niệm về vệ sinh an toàn thực phẩm

- Các yếu tố chống ngộ độc thực phẩm

- Cách phòng chống ngộ độc thực phẩm

- Khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn thực phẩm an toàn

- Các nguồn năng lượng đối với sức khỏe con người

- Ý thức và trách nhiệm bảo vệ sức khỏe của bản thân cũng như cộng đồng

1.3.4 Các kiểu triển khai giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm

- Kiểu 1: Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm thông qua chương trình giảng dạy của môn học trong nhà trường

+ Dạng 1: Nội dung chủ yếu của bài học, hay một phần môn học có sự trùng hợp với nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm

+ Dạng 2: Một số nội dung của bài học hay một phần nhất định của môn học có liên quan trực tiếp tới nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm

+ Dạng 3: Thiết kế nội dung liên môn của một số môn học có liên quan đến nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm thực phẩm

Trang 33

Ngoài ra, ở một số phần nội dung của môn học, bài học khác, các ví dụ, bài tập, bài làm,… được xem như là một dạng tài liệu dùng để khai thác các vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm

- Kiểu 2: Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm được triển khai như một hoạt động độc lập

Cách tiến hành của một hoạt động độc lập cần xác định chủ đề về hình thức của hoạt động, có thể chọn chủ đề và tổ chức theo các hình thức hoạt động tập thể, câu lạc bộ, tham quan, thực địa [19]

1.3.5 Một số hình thức phổ biến tổ chức các hoạt động giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường phổ thông

1.3.5.1 Hoạt động ở trên lớp

Thông qua môn học trong chính khóa, có các biện pháp sau:

- Phân tích những vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường học

- Khai thác thực trạng về vệ sinh an toàn thực phẩm của cộng đồng làm tư liệu để xây dựng bài học giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm

- Xây dựng bài tập xuất phát từ kiến thức môn học hóa học, nhưng gắn liền với thực tế cuộc sống

- Sử dụng các phương tiện dạy học làm nguồn tri thức được “vật chất hóa” như là điểm tựa, cơ sở để phân tích, khám phá các kiến thức cần thiết về vệ sinh an toàn thực phẩm

- Sử dụng các tài liệu tham khảo (các bài báo, các đoạn trích trong các sách phổ biến khoa học, các tư liệu, số liệu mới điều tra, công bố,…) để làm rõ thêm về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm

- Thực hiện các tiết học có nội dung gần gũi với vệ sinh an toàn thực phẩm ở ngay chính trong một địa điểm thích hợp như cơ sở chế biến thực phẩm hay trong một bếp

ăn tập thể,…

Trang 34

1.3.5.2 Hoạt động ngoài giờ lên lớp

- Báo cáo các chuyên đề về bảo vệ sức khỏe, vệ sinh an toàn thực phẩm, mối quan hệ giữa thực phẩm an toàn với sức khỏe con người do các nhà khoa học, các kỹ thuật viên hay giáo viên chuyên trách trình bày

- Thực địa tìm hiểu vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm ở địa phương

- Tham gia tuyền truyền, vận động thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm

- Tham gia cắm trại, trò chơi

- Tổ chức câu lạc bộ, hội nhóm hoạt động bảo vệ sức khỏe

- Tổ chức tìm hiểu về vệ sinh an toàn thực phẩm

- Tổ chức triển lãm, văn nghệ

- Xây dựng dự án và thực hiện

- Hoạt động phối hợp với chính quyền địa phương, cộng đồng

1.3.6 Phương pháp giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm

1.3.6.1 Phương pháp tiếp cận

- Tích hợp các kiến thức về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm vào môn học theo mức độ: toàn phần, bộ phận và mức độ liên hệ

- Thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp và các chủ đề tự chọn

- Thông qua hoạt động ngoại khóa

1.3.6.2 Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp hành động cụ thể trong các hoạt động từng chủ thể được tổ chức trong trường học, địa phương

- Phương pháp liên quan, điều tra khảo sát, thực địa

- Giảng giải, giải thích – minh họa

- Phương pháp dạy học thực nghiệm

- Phương pháp hợp tác và liên kết giữa các nhà trường và cộng đồng địa phương trong hoạt động về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm

Trang 35

1.4 Phương pháp giảng dạy trong trường THPT về giáo dục an toàn thực phẩm thông qua môn hóa học

1.4.1 Dạy học theo tiếp cận giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong giảng dạy hóa học ở trường THPT

Khác với dạy học theo phương pháp truyền thống chỉ quan tâm tới việc người học tiếp thu được bao nhiêu kiến thức, dạy học theo hướng tiếp cận chú trọng hình thành và phát triển hệ thống các năng lực nghề thông qua việc vận dụng các tri thức để giải quyết những vấn đề, tình huống thực tiễn của cuộc sống và nghề nghiệp

Mục tiêu dạy học theo tiếp cận năng lực được mô tả cụ thể và có thể quan sát được, bao gồm những kỹ năng, năng lực cần được phát triển cho người học sau khi hoàn thành một quá trình dạy học Các năng lực được hình thành này cần được giáo viên thông báo cho học sinh khi bắt đầu chương trình dạy học để sinh viên lập kế hoạch thực hiện [16]

Nội dung dạy học theo tiếp cận năng lực không phải là hệ thống các tri thức khoa học đầy đủ mà có sự sàng lọc nhằm lựa chọn những nội dung phù hợp với những năng lực cần phát triển đã xác định ban đầu Nội dung không chỉ giới hạn trong tri thức và

kỹ năng chuyên môn mà gồm nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực

- Học nội dung chuyên môn: Các tri thức chuyên môn (các khái niệm, phạm trù, quy luật, mối quan hệ,…); các kỹ năng chuyên môn (phụ thuộc vào môn học: kỹ năng thực hành thí nghiệm trong hóa học, vật lý,…), ứng dụng, đánh giá chuyên môn

- Học nội dung phương pháp – chiến lược: Lập kế hoạch học tập, kế hoạch làm việc, các phương pháp nhận thức chung (thu thập, xử lý, đánh giá, trình bày thông tin), các phương pháp chuyên môn

- Học xã hội – giao tiếp: Làm việc trong nhóm, tạo điều kiện cho sự hiểu biết về phương diện xã hội, học cách ứng xử, tinh thần trách nhiệm, khả năng giải quyết xung đột

- Học tự trải nghiệm – đánh giá: Tự đánh giá điểm mạnh, điểm yếu; xây dựng kế hoạch phát triển cá nhân; đánh giá, hình thành các chuẩn mực giá trị, đạo đức và văn hóa, lòng tự trọng,…

Trang 36

1.4.2 Dạy học theo hướng tích hợp giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong giảng dạy hóa học ở trường THPT

1.4.2.1 Khái niệm tích hợp

Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” [11]

1.4.2.2 Quan niệm về dạy học tích hợp

Dạy học tích hợp là phương pháp giảng dạy kết hợp một hoặc nhiều môn học nhằm làm sáng tỏ cho môn học mà giáo viên thấy sự cần thiết trong việc giảng dạy Dạy học tích hợp là định hướng dạy học trong đó giáo viên tổ chức, hướng dẫn

để học sinh biết cách huy động, tổng hợp kiến thức, kỹ năng,… thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết có hiệu quả các nhiệm vụ học tập; thông qua đó hình thành những kiến thức, kỹ năng mới, phát triển được năng lực cần thiết

Dạy học tích hợp có thể hiểu đó là một quan điểm dạy học nhằm hình thành và phát triển ở học sinh những năng lực cần thiết trong đó có năng lực vận dụng kiến thức

để giải quyết có hiệu quả các tình huống thực tiễn Đảm bảo cho HS có thể vận dụng kiến thức được học trong nhà trường vào các hoàn cảnh mới lạ, khó khăn, bất ngờ Dạy học tích hợp đòi hỏi việc học tập ở nhà trường phổ thông phải được gắn với các tình huống cuộc sống mà HS có thể đối mặt và trở nên có ý nghĩa với HS, đảm bảo tính khoa học, cập nhật và phù hợp với khả năng nhận thức của HS [4]

Dạy học tích hợp không có phương pháp giảng dạy cụ thể, khi dạy học các nội dung tích hợp để đạt mục tiêu tích hợp thì cần sử dụng các phương pháp, hình thức dạy học khác nhau như dạy học dự án, dạy học theo trạm

1.4.2.3 Đặc trưng của dạy học tích hợp

Mục đích của dạy học tích cực là để hình thành và phát triển năng lực học sinh, giúp học sinh vận dụng để giải quyết những vấn đề trong thực tiễn của cuộc sống Bản chất của năng lực là khả năng của chủ thể kết hợp một cách linh hoạt, có tổ chức hợp

lý các kiến thức, kỹ năng với thái độ, giá trị, động cơ, nhằm đáp ứng những yêu cầu phức hợp của một hoạt động, bảo đảm cho hoạt động đó đạt kết quả tốt đẹp trong một

Trang 37

bối cảnh (tình huống) nhất định; và phương pháp tạo ra năng lực đó chính là dạy học tích hợp Dạy học tích hợp có những đặc điểm sau đây:[4]

- Thiết lập các mối quan hệ theo một logic nhất định những kiến thức, kỹ năng khác nhau để thực hiện một hoạt động phức hợp

- Lựa chọn những thông tin, kiến thức, kỹ năng cần cho HS thực hiện được các hoạt động thiết thực trong các tình huống học tập, đời sống hàng ngày, làm cho HS hòa nhập vào thế giới cuộc sống

- Làm cho quá trình học tập mang tính mục đích rõ rệt

- Giáo viên không đặt ưu tiên truyền đạt kiến thức, thông tin đơn lẻ, mà phải hình thành ở học sinh năng lực tìm kiếm, quản lý, tổ chức sử dụng kiến thức để giải quyết vấn đề trong tình huống có ý nghĩa

- Khắc phục được thói quen truyền đạt và tiếp thu kiến thức, kỹ năng rời rạc; giúp giảm tải kiến thức không thực sự có giá trị sử dụng; tăng tải kiến thức có ích Để lựa chọn nội dung kiến thức đưa vào chương trình các môn học trước hết phải trả lời kiến thức nào cần và có thể làm cho HS biết huy động vào các tình huống có ý nghĩa Biểu hiện của năng lực là biết sử dụng các nội dung và các kỹ năng trong một tình huống có

ý nghĩa, chứ không ở tiếp thụ lượng tri thức rời rạc

1.4.2.4 Phân loại dạy học tích hợp

- Tích hợp nội bộ môn học: giáo viên tập hợp các nội dung kiến thức ở các phần khác nhau trong môn học để xây dựng thanh chủ đề Những nội dung này được tập hợp dựa trên chức năng hoặc ý nghĩa bản chất, khi mà chúng giúp giải quyết tương đối trọn vẹn một lớp các vấn đề có liên quan tới nhau

- Kết hợp: nội dung gắn với thực tiễn được kết hợp đưa vào chương trình đã sẵn có của một môn học nào đó Các môn học vẫn được học một cách riêng rẽ nhưng giáo viên có thể tìm thấy mối quan hệ giữa kiến thức của môn học mình đảm nhận với nội dung môn học khác Dấu hiệu nhận biết dạng tích hợp này là giáo viên vẫn sử dụng tên bài, tên tiết theo phân phối chương trình môn học, chỉ lồng ghép thêm một số kiến thức liên quan đến bài dạy hoặc liên hệ kiến thức bài học sang môn khác

- Vận dụng kiến thức liên môn (chủ đề hội tụ): dạy học tích hợp mức độ liên môn tạo

Trang 38

xoay quanh một chủ đề, một vấn đề mà ở đó học sinh vận dụng một cách rõ ràng những kiến thức, kỹ năng của nhiều môn học khác nhau để tìm hiểu, làm rõ vấn đề đó Dấu hiệu quan trọng để nhận ra dạng này là trong quá trình dạy học đòi hỏi học sinh vận dụng kiến thức của nhiều môn học khác nhau giải quyết nhiệm vụ Các kiến thức trong loại hình này hầu hết đã được học ở các môn học riêng rẽ sau đó mới vận dụng trong chủ đề hội tụ/liên môn

- Hòa trộn: Đây là cách tiếp cận ở cấp độ xây dựng chương trình, trong dạng này, việc học các kiến thức mới thuộc nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau được hòa trộn nhuần nhuyễn với nhau trong một môn học mới Ranh giới giữa các kiến thức không còn tách bạch, riêng rẽ Ví dụ đối với bộ môn khoa học tự nhiên sẽ được tiến hành bằng cách xây dựng trên các nguyên lí của khoa học tự nhiên chứ không tách bạch riêng rẽ kiến thức của khoa học vật lí, sinh học và hóa học

1.4.2.5 Tác dụng của dạy học tích hợp

- Dạy học tích hợp đáp ứng tốt hơn sở thích, phong cách học tập của từng học viên

- Làm cho việc dạy học trở nên sinh động, hấp dẫn, HS dễ nhớ bài và tiếp cận sâu hơn vào việc học tập của bản thân mình

- Giáo viên có thể quan tâm nhiều hơn tới từng học sinh trong lớp

- Tăng cường tối đa tương tác xã hội trong lớp học, HS hình thành được kỹ năng, giáo dục thái độ hành vi cụ thể để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống

- Học sinh trở nên tự tin hơn, học tập hứng thú, sáng tạo, phát triển khả năng hợp tác, thảo luận nhóm

- Học sinh có thể tiếp cận được nguồn tài nguyên học tập dồi dào

- Hỗ trợ đầy đủ và kịp thời, tích hợp sẽ góp phần giải quyết vấn đề quá tải trong dạy học

- Khuyến khích học sinh tìm tòi khám phá và phát triển tính tự chủ [4]

1.4.2.6 Các nguyên tắc cơ bản khi tích hợp GDVSATTP thông qua môn hóa học ở trường phổ thông

Trong quá trình giảng dạy tích hợp GDVSATTP cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây:

Trang 39

- Không làm thay đổi tính đặc trưng môn học, không biến bài học của bộ môn thành bài vệ sinh an toàn thực phẩm

- Khai thác nội dung GDVSATTP có chọn lọc, có tính tập trung vào những chương mục nhất định

- Phát huy cao độ các hoạt động tích cực nhận thức của HS và các kinh nghiệm thực tế các em đã có, vận dụng tối đa mọi khả năng để HS tiếp xúc trực tiếp và giải quyết các vấn đề liên quan đến VSATTP trong đời sống

1.4.2.7 Nội dung tích hợp GDVSATTP trong chương trình hóa hữu cơ tương ứng chương trình giảng dạy ở trường THPT

Bảng 1.1 Nội dung tích hợp GDVSATTP trong chương trình hóa hữu cơ tương ứng

chương trình giảng dạy ở trường THPT

Chủ đề/ Nội dung giảng

- Xác định công thức phân

tử hợp chất hữu cơ

- Viết được công thức phân tử và xác định được thành phần nguyên tố của một số hợp chất liên quan vấn đề VSATTP

- Thực hiện được các thí nghiệm về chưng cất thường, chiết một số hợp chất hữu cơ

- Sử dụng đúng hóa chất được cho phép làm hương liệu trong công nghiệp thực phẩm

- Lựa chọn thực phẩm phù

Trang 40

- Một số terpen trong động, thực vật có lợi cho sức khỏe con người (vitamin A, carotene,…)

- Phản ứng điều chế thuốc trừ sâu 6,6,6 từ benzene

trứng,…) để góp phần nâng cao sức khỏe, phòng chống bệnh tật cho bản thân

- Dư lượng thuốc trừ sâu tồn tại trong thực vật rất nguy hiểm cho sức khỏe người sử dụng Mỗi cá nhân cần phải biết lựa chọn các loại rau quả an toàn và rửa sạch trước khi chế biến và sử dụng

- Rượu là đồ uống, nếu dùng quá nồng độ thường ngộ độc rượu (say rượu)

- Quy trình sản xuất rượu

an toàn

- Tính chất và tác hại của methanol

- Cấu tạo của chất 3 – MCPD bị cấm sử dụng trong nước tương

- Chất diệt cỏ 2,4 – D được sản xuất từ phenol

- Vận dụng vào cuộc sống biết rửa sạch hoặc sát trùng các loại rau quả trước khi sử dụng

- Phát biểu được tác hại của rượu đối với sức khỏe còn người Có ý thức hơn khi sử dụng rượu hoặc vận động người thân không sử dụng rượu

- HS vận dụng kiến thức lựa chọn các loại nước tương an toàn

- Các thuốc bảo vệ thực vật khá bền và còn tồn dư trong các loại rau, củ, quả;

Ngày đăng: 31/05/2022, 11:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[2] Bộ Giáo dục và đào tạo, Công văn số 1074/ BGDĐT – GDTC, Tăng cường chỉ đạo công tác bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm trong các cơ sở giáo dục, Hà Nội, 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường chỉ đạo công tác bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm trong các cơ sở giáo dục
[3] Cục An toàn Thực phẩm – Bộ Y tế, Xử trí đúng cách khi bị ngộ độc thực phẩm, Hà Nội, 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử trí đúng cách khi bị ngộ độc thực phẩm
[4] Đinh Quang Bảo, Hà Thị Lan Hương, Dạy học tích hợp – Phương thức phát triển năng lực học sinh, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Nâng cao năng lực đào tạo giáo viên dạy tích hợp môn Khoa học tự nhiên, Hà Nội, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tích hợp – Phương thức phát triển năng lực học sinh
[5] Đỗ Thị Thanh Trang, Xây dựng hệ thống bài tập hóa học có nội dung giáo dục môi trường trong dạy học phần Hóa học hữu cơ ở trường THPT, Luận văn Thạc sĩ Giáo dục học, Trường Đại học sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống bài tập hóa học có nội dung giáo dục môi trường trong dạy học phần Hóa học hữu cơ ở trường THPT
[6] Lê Thị Huyền, Một số biện pháp giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học môn hóa học trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, Trường Đại học sư phạm Huế, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học môn hóa học trung học phổ thông
[7] Lê Thị Kim Thoa, Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hóa học gắn với thực tiễn dùng trong dạy học hóa học ở trường THPT, Luận văn thạc sĩ giáo dục, Trường Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập hóa học gắn với thực tiễn dùng trong dạy học hóa học ở trường THPT
[8] Lê Văn Hiến, Xây dựng hệ thống bài tập hóa học về kinh tế, xã hội và môi trường ở trường trung học phổ thông, Luận văn thác sĩ giáo dục, Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống bài tập hóa học về kinh tế, xã hội và môi trường ở trường trung học phổ thông
[9] Lương Thiện Tài, Hoàng Anh Tài, Nguyễn Thị Hiền, Xây dựng bài tập hóa học thực tiễn trong dạy học phổ thông, Tạp chí Hóa học và ứng dụng 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng bài tập hóa học thực tiễn trong dạy học phổ thông
[10] Nghiên cứu tích hợp nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong chương trình đào tạo giáo viên. Kỷ yếu hội thảo đưa giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm vào chương trình đào tạo giáo viên, ĐH Vinh, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tích hợp nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong chương trình đào tạo giáo viên
[11] Ngô Thị Ngọc Mai, Xây dựng và sử dụng bài tập thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả dạy học và bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học ở trường trung học phổ thông, Diễn đàn trao đổi tạp chí Hóa học với thực tiễn số 11, tr. 73 – 77, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và sử dụng bài tập thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả dạy học và bồi dưỡng học sinh giỏi hóa học ở trường trung học phổ thông
[12] Ngô Xuân Quỳnh, Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua dạy học phân hóa phần dẫn xuất của hiđrocacbon hóa học 11 trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ sư phạm hóa học, Trường Đại học giáo dục – Đại học quốc gia Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua dạy học phân hóa phần dẫn xuất của hiđrocacbon hóa học 11 trung học phổ thông
[13] Nguyễn Hồ Ngọc Thư, Xây dựng hệ thống bài tập hóa học nhằm giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường trung học phổ thông, Khóa luận sư phạm Hóa học, Trường Đại học sư phạm Huế, 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng hệ thống bài tập hóa học nhằm giáo dục môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường trung học phổ thông
[14] Nguyễn Thị Ánh, Tích hợp kiến thức thực tiễn trong bài dạy hóa học hữu cơ 11, 12; Luận văn thạc sĩ giáo dục, Đại học sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp kiến thức thực tiễn trong bài dạy hóa học hữu cơ 11, 12
[15] Nguyễn Thị Xuân Nguyên, Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh trung bình, yếu môn hóa phần hóa hữu cơ lớp 11, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng giải bài tập cho học sinh trung bình, yếu môn hóa phần hóa hữu cơ lớp 11
[16] Nguyễn Trung Kiền, Vận dụng phương pháp dạy học theo tiếp cận năng lực trong dạy học giáo dục học ở trường đại học Vinh, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Đại học sư phạm Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng phương pháp dạy học theo tiếp cận năng lực trong dạy học giáo dục học ở trường đại học Vinh
[17] Nguyễn Xuân Trường, Sử dụng bài tập trong dạy học hóa học ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bài tập trong dạy học hóa học ở trường phổ thông
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
[18] Phạm Thị Kiều Duyên, Sử dụng bài tập thực tiễn trong dạy học hóa học nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh, Bài đăng tạp chí, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng bài tập thực tiễn trong dạy học hóa học nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh
[19] Phạm Thị Nhài, Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học phần hóa học hữu cơ trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ sư phạm hóa học, Đại học quốc gia Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học phần hóa học hữu cơ trung học phổ thông
[21] Trần Văn Hùng, Tích hợp giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm cho học sinh thông qua các bài tập thực tiễn về vệ sinh an toàn thực phẩm trong chương trình hóa học trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ, ĐH Vinh, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm cho học sinh thông qua các bài tập thực tiễn về vệ sinh an toàn thực phẩm trong chương trình hóa học trung học phổ thông
[22] Vũ Thị Liu, Tích hợp các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học sinh học phần “thành phần hóa học của tế bào”, Sáng kiến kinh nghiệm, Trường THPT Mường Nhà, Điện Biên, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp các câu hỏi có liên quan đến thực tiễn đời sống nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học sinh học phần “thành phần hóa học của tế bào”

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC HÌNH ẢNH - Tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học hóa học phần hóa học hữu cơ trường trung học phổ thông
DANH MỤC HÌNH ẢNH (Trang 9)
Bảng 3.2. Kết quả bài kiểm tra số 1 131 Bảng 3.3.  Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra số 1 131 - Tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học hóa học phần hóa học hữu cơ trường trung học phổ thông
Bảng 3.2. Kết quả bài kiểm tra số 1 131 Bảng 3.3. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra số 1 131 (Trang 11)
Bảng 1.2. Kết quả điều tra mức độ sử dụng BTHH có nội dung liên quan đến thực tiễn đối với GV trong quá trình giảng dạy hóa học ở trường THPT - Tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học hóa học phần hóa học hữu cơ trường trung học phổ thông
Bảng 1.2. Kết quả điều tra mức độ sử dụng BTHH có nội dung liên quan đến thực tiễn đối với GV trong quá trình giảng dạy hóa học ở trường THPT (Trang 59)
Bảng 1.4. Kết quả điều tra việc sử dụng BTHH có nội dung GDVSATTP trong các loại tiết học - Tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học hóa học phần hóa học hữu cơ trường trung học phổ thông
Bảng 1.4. Kết quả điều tra việc sử dụng BTHH có nội dung GDVSATTP trong các loại tiết học (Trang 60)
Bảng 1.3. Kết quả điều tra mức độ sử dụng BTHH có nội dung GDVSATTP đối với GV trong dạy học ở trường THPT - Tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học hóa học phần hóa học hữu cơ trường trung học phổ thông
Bảng 1.3. Kết quả điều tra mức độ sử dụng BTHH có nội dung GDVSATTP đối với GV trong dạy học ở trường THPT (Trang 60)
Bảng 1.7. Kết quả điều tra mức độ tin cậy của GV nếu được cung cấp 1 nguồn tài liệu gồm hệ thống bài tập về GDVSATTP trong dạy học hóa học phần hóa học hữu cơ ở - Tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học hóa học phần hóa học hữu cơ trường trung học phổ thông
Bảng 1.7. Kết quả điều tra mức độ tin cậy của GV nếu được cung cấp 1 nguồn tài liệu gồm hệ thống bài tập về GDVSATTP trong dạy học hóa học phần hóa học hữu cơ ở (Trang 61)
118 + Khả năng thực hiện bài tập có nội dung GDVSATTP trong các giờ học: nghiên cứu - Tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học hóa học phần hóa học hữu cơ trường trung học phổ thông
118 + Khả năng thực hiện bài tập có nội dung GDVSATTP trong các giờ học: nghiên cứu (Trang 129)
Bảng 3.3. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra số 1 - Tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học hóa học phần hóa học hữu cơ trường trung học phổ thông
Bảng 3.3. Phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra số 1 (Trang 132)
Bảng 3.2. Kết quả bài kiểm tra số 1 - Tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học hóa học phần hóa học hữu cơ trường trung học phổ thông
Bảng 3.2. Kết quả bài kiểm tra số 1 (Trang 132)
Bảng 3.4. Kết quả bài kiểm tra số 2 - Tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học hóa học phần hóa học hữu cơ trường trung học phổ thông
Bảng 3.4. Kết quả bài kiểm tra số 2 (Trang 133)
Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 1 - Tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học hóa học phần hóa học hữu cơ trường trung học phổ thông
Hình 3.1. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 1 (Trang 133)
Hình 3.2. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 2 - Tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học hóa học phần hóa học hữu cơ trường trung học phổ thông
Hình 3.2. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 2 (Trang 135)
Bảng 3.6. Kết quả bài kiểm tra số 3 - Tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học hóa học phần hóa học hữu cơ trường trung học phổ thông
Bảng 3.6. Kết quả bài kiểm tra số 3 (Trang 135)
Hình 3.3. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 3 - Tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học hóa học phần hóa học hữu cơ trường trung học phổ thông
Hình 3.3. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 3 (Trang 136)
Bảng 3.8. Thống kê các thông số đặc trưng của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng theo từng bài kiểm tra - Tuyển chọn và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học hóa học phần hóa học hữu cơ trường trung học phổ thông
Bảng 3.8. Thống kê các thông số đặc trưng của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng theo từng bài kiểm tra (Trang 136)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w