1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư duy nghệ thuật trong truyện ngắn nguyễn ngọc tư

106 104 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Duy Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Nguyễn Ngọc Tư
Tác giả Lưu Lê Uyên
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thanh Trường
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 12,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể kể đến một số công trình, bài viết như sau: Trong bài viết Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 6/2006, tác giả Trần Phỏng Diề

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LƯU LÊ UYÊN

TƯ DUY NGHỆ THUẬT

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

Đà Nẵng - Năm 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LƯU LÊ UYÊN

TƯ DUY NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 8220121

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGUYỄN THANH TRƯỜNG

Đà Nẵng - Năm 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi, Lưu Lê Uyên, xin cam đoan: Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thanh Trường

Nếu có bất kì sự sao chép nào không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Đà Nẵng, ngày 09 tháng 9 năm 2020

Học viên

Lưu Lê Uyên

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

TRANG THÔNG TIN LUẬN VĂN THẠC SĨ ii

MỤC LỤC iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Bố cục của luận văn 5

CHƯƠNG 1: TƯ DUY NGHỆ THUẬT VÀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN THỂ LOẠI 6

1.1 Tư duy nghệ thuật và tư duy nghệ thuật truyện ngắn 6

1.1.1 Tư duy nghệ thuật 6

1.1.2 Tư duy nghệ thuật truyện ngắn 9

1.2 Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trong dòng chảy truyện ngắn Việt Nam sau năm 1986 14

1.2.1 Truyện ngắn Việt Nam sau 1986 và những đổi mới về thể loại 14

1.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư - sự kế thừa và sáng tạo về thể loại 25

CHƯƠNG 2 TƯ DUY NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT 35

2.1 Hình tượng con người “dự phần” trong kiếm tìm bản thể 35

2.1.1 Từ con người tội lỗi 35

2.1.2 …đến con người cô đơn 40

2.1.3 …phận người mặc định trong khát vọng tinh thần tuyệt đỉnh 44

2.2 Hình tượng không - thời gian “sinh tồn” trong thế giới nhân vị 49

2.2.1 Không gian song hành trong kiếp “vong thân” 49

2.2.2 Thời gian đứt nối giữa hai miền ý thức 51

2.2.3 Không - thời gian trôi trong “vòng xoay con tạo” 53

Trang 7

CHƯƠNG 3 TƯ DUY NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ

NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU 57

3.1 Ngôn ngữ 57

3.1.1 Từ ngôn ngữ sinh hoạt đời thường 57

3.1.2 …đến ngôn ngữ thi ca 61

3.1.3 …tạo sinh “các lớp sóng ngôn từ” 67

3.2 Giọng điệu 71

3.2.1 Giọng xúc cảm 71

3.2.2 Giọng vô âm sắc 73

3.2.3 Giọng đa chủ thể 76

KẾT LUẬN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

BẢN TƯỜNG TRÌNH CHỈNH SỬA LUẬN VĂN

BIÊN BẢN HỌP HỘI ĐỒNG BẢO VỆ

NHẬN XÉT LUẬN VĂN

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đầu thế kỷ XXI, cùng với những chuyển động của đời sống văn học là hiện

tượng Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư Có thể khẳng định, Nguyễn Ngọc Tư

là một cây viết trẻ đã sớm khẳng định được vị trí trong đời sống văn học Việt Nam

đương đại Cánh đồng bất tận in lần đầu trên báo Văn nghệ năm 2005 và được trao

tặng giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2006 Ngay từ khi xuất hiện, truyện ngắn này đã nhận được nhiều phản hồi tích cực từ phía giới phê bình, nghiên cứu cũng như người đọc, được chuyển thể thành kịch bản điện ảnh, được chuyển ngữ ra nhiều thứ tiếng và xuất bản ở nước ngoài Từng có nhiều tập truyện ngắn trước đó nhưng đến

Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư đã có sự bứt phá ngoạn mục với cách viết táo

bạo Dù có nhiều luồng ý kiến xung quanh nhưng dư luận nhìn chung đánh giá cao

Cánh đồng bất tận nói riêng và Nguyễn Ngọc Tư nói chung

Các tập truyện ngắn từ Ngọn đèn không tắt đến Cố định một đám mây đã cho

thấy ý thức đổi mới toàn diện trong lối viết của Nguyễn Ngọc Tư Ở đó là cả một thế giới nghệ thuật độc đáo, mới mẻ và giàu sắc màu khu biệt Những nỗi đau, bất hạnh của con người, những thực trạng đời sống được Nguyễn Ngọc Tư khai thác đến tối đa, đẩy đến tận cùng nhưng tác phẩm lại thấm đẫm tinh thần nhân văn cao cả Bên cạnh

đó, những thành công trong nghệ thuật tự sự như thay đổi bút pháp và giọng điệu, nghệ thuật kết cấu và ngôn ngữ tác phẩm cũng được ghi nhận

Tư duy nghệ thuật là một khái niệm quen thuộc trong hệ thống lí luận văn học Tuy nhiên, đường dẫn lí thuyết này vẫn còn ít được đặt ở vị trí trung tâm của các đề tài nghiên cứu như một khung tri thức lí luận chính yếu để soi chiếu, khám phá, giải mã các hiện tượng văn học Vì thế, nghiên cứu các đối tượng văn học dưới góc nhìn tư duy nghệ thuật là một hướng khám phá giàu tiềm năng, góp phần hình thành thêm những kênh tiếp nhận mới mẻ, đa chiều

Tư duy nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư đã góp một phần không nhỏ vào việc tạo nên phong cách nghệ thuật đặc sắc cho người nghệ sĩ, khiến người đọc không còn

“đóng khung” cây bút này vào lối viết cũ, mà nhìn thấy một tài năng đang chín, đang trưởng thành Đây cũng là lí do vì sao những sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư luôn được bạn đọc và giới nghiên cứu, phê bình quan tâm

Chọn đề tài Tư duy nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, chúng tôi

mong muốn sẽ góp thêm một cách đọc, cách giải mã những giá trị của truyện ngắn

Trang 9

Nguyễn Ngọc Tư và khẳng định thêm những đóng góp của nhà văn này đối với nền văn xuôi Việt Nam đương đại

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Được xem là một hiện tượng đáng lưu ý của văn xuôi Việt Nam đương đại, Nguyễn Ngọc Tư và những sáng tác của chị đã nhận được rất nhiều sự quan tâm từ độc giả, đặc biệt là các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Đã có rất nhiều bài báo chuyên khảo, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp, đề tài khoa học nghiên cứu về nhiều phương diện trong thi pháp truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư Các công trình nghiên cứu tập trung làm nổi bật một số phương diện lớn về nội dung

và nghệ thuật như: hành trình sáng tạo và quan niệm nghệ thuật, thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật, không - thời gian nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật, nghệ thuật sắp đặt, ngôn ngữ nghệ thuật… đem đến cái nhìn tương đối toàn diện về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư Có thể kể đến một số công trình, bài viết như sau:

Trong bài viết Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 6/2006, tác giả Trần Phỏng Diều, qua việc khảo sát

một số truyện ngắn trong những tập truyện đầu tay của Nguyễn Ngọc Tư, đã đưa ra

nhận định về phong cách của nhà văn này: “Cùng với hình tượng người nông dân, người nghệ sĩ, hình tượng con sông đã góp phần làm nên nét đặc trưng trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Cũng nói về vùng đất và con người Nam bộ nhưng Nguyễn Ngọc Tư có cách tiếp cận khác: không có gì lớn lao mà rất đỗi đời thường, như dòng sông chẳng hạn Nhưng từ cái nhỏ bé, đời thường tưởng chừng như ai cũng biết mà khái quát nó lên, chuyển tải lòng mình vào đó mới chính là giá trị của nghệ thuật Thành công của Nguyễn Ngọc Tư cũng là ở đó Giọng văn của chị có duyên, đôi khi dí dỏm nhưng ngọt ngào và sâu sắc Câu văn giản dị, mộc mạc, chân tình, đọc truyện chị tưởng như đang trò chuyện với chị vậy Phong cách Nguyễn Ngọc Tư là như thế.” [7]

Đây cũng là điểm gặp gỡ trong các công trình nghiên cứu về phong cách sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư

Trong bài viết Không gian sông nước trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, tác giả Thụy Khuê từng viết: “Là hậu duệ của một truyền thống văn nói xướng lên từ miệt sông nước, Nguyễn Ngọc Tư đã kể và kể rất hay về những mẩu đời của người dân miệt vườn, về cuộc sống bám với chiếc ghe, con nước của những con người hiền lành cam phận, những tình cảm chân thật, nối liền đất nước với con người.” [14] Điều này

minh chứng rõ ràng rằng đặc trưng không gian nghệ thuật trong truyện ngắn của

Trang 10

Nguyễn Ngọc Tư là không gian sông nước lục tỉnh với sự gắn liền những mảnh đời lam lũ, nghèo khổ nhưng sâu lắng, chân thật, đôn hậu của người dân quê Nam Bộ

Tác giả Mai Hồng lại tiếp cận tác phẩm Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư

qua góc nhìn không gian, thời gian như là điểm mới trong sự nghiệp sáng tác của nữ

văn sĩ: “Không gian trong truyện không có gì mờ ảo, vì nó là một không gian mà sự sống phủ lớp áo bàng bạc Nhưng thời gian của truyện đã được ảo hóa một cách thông minh và tự nhiên/ngẫu nhiên Màu sắc huyền thoại của thời gian cộng với ý nghĩa phổ quát của truyện, nhân vật làm cho tác phẩm chuyển tải được một hiện thực vĩnh cửu của con người.” [13]

Qua hai bài viết Cái rầu bất tận của Nguyễn Ngọc Tư [34] đề cập đến hai tác phẩm Ngọn đèn không tắt và Cánh đồng bất tận, và Sông nước Hậu Giang và Nguyễn Ngọc Tư [35] với điểm đến là các tác phẩm Giao thừa và Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư,

tác giả Kiệt Tấn - một trong những người nghiên cứu, đánh giá khá công phu về các sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư đã đi vào cắt nghĩa, lí giải chiều sâu của truyện ngắn nhà văn này từ bối cảnh lịch sử - xã hội của đất nước ta từ những năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cho đến những ngày đầu đổi mới Trên nền bối cảnh đó, các nhân vật hiện lên với một nỗi buồn hiu hắt, tâm lí thất vọng não nề

Tác giả Bùi Việt Thắng trong một bài viết mang tên Bài học văn chương từ

“Cánh đồng bất tận” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 7/2006 đã nhận xét:

“Nhà văn Nguyễn Ngọc Tư còn quá non nớt, chưa đủ bản lĩnh nghệ thuật, phải chăng chính Nguyễn Ngọc Tư quá sớm khi sống trong ánh hào quang do dư luận tạo nên…

và đặc biệt khi Tư còn quá ít kinh nghiệm sống, một nền văn hóa cần thiết” Về phương diện ngôn ngữ, Bùi Việt Thắng nhận xét: “Văn viết Nguyễn Ngọc Tư rất gần với văn nói” Từ những dẫn chứng đưa ra là các tác giả đậm chất Nam Bộ như Nguyễn

Quang Sáng hay Bình Nguyên Lộc cũng là nhà văn chung của cả nước, tác giả Bùi

Việt Thắng đã đưa ra kết luận rằng: “Nguyễn Ngọc Tư đang đi từ kênh rạch ra biển lớn, thiết nghĩ, nhà văn phải có ý thức lao động nghệ thuật nhiều hơn nữa để cho tác phẩm của mình trở thành tài sản quốc gia.” [38]

Tuy nhiên, lại có những ý kiến trái chiều với quan niệm của Bùi Việt Thắng khi nhà văn Nguyên Ngọc đã có lời khen ngợi đối với nữ văn sĩ trẻ này trong bài viết

mang tên Còn có rất nhiều người cầm bút có tư cách: “Cô ấy như một cái cây tự nhiên mọc lên giữa rừng tràm hay rừng đước Nam Bộ vậy, tươi tắn lạ thường, đem đến cho văn học một luồng gió mát rượi, tinh tế mà chân chất, đặc biệt “Nam Bộ” một cách như không, chẳng cần chút cố gắng nào cả như các tác giả Nam Bộ đi trước.” [24]

Trang 11

Tác giả Hoàng Thiên Nga trong bài báo Đọc Nguyễn Ngọc Tư qua “Cánh đồng bất tận” đã có sự đánh giá cao đối với tài năng và tư chất của Nguyễn Ngọc Tư:

“Truyện Nguyễn Ngọc Tư hấp dẫn từ đầu đến cuối, tới dấu chấm hết vẫn còn thấy ngòi bút tác giả bình thản như đôi chân vàng chưa đuối sức sau cuộc chạy maratong…” [22]

Điểm qua những công trình trên, có thể thấy rằng, truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư đã được các tác giả nghiên cứu ở nhiều phương diện Tuy nhiên, vấn đề tư duy nghệ thuật vẫn còn là khoảng trống chưa được giới học thuật khai phá một cách

hệ thống

Vốn là một thuật ngữ quen thuộc, tư duy nghệ thuật không ít lần được sử dụng trong các bài viết, nghiên cứu về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Trong bài báo Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện quan niệm nghệ thuật về con người, tác giả Nguyễn Trọng Bình đặt tên một đề mục là: “Mô hình” con người hướng thiện - kiểu tư duy nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Ngọc Tư [3] Còn trong bài báo Đặc trưng ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, tác giả này nhận định: “nếu nói ngôn ngữ là tấm gương phản chiếu tư duy của con người thì ngôn ngữ trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư đã thể hiện rõ tư duy nghệ thuật của chị về cách tiếp cận hiện thực đời sống từ góc nhìn văn hóa” [4] Nguyễn Thị Ngọc Lan, trong luận văn Thế giới biểu tượng trong văn xuôi Nguyễn Ngọc Tư, có viết: “những hình ảnh đời thường đều trở thành biểu tượng cho buồn vui, sum họp chia xa, đau thương hạnh phúc đời người trong tư duy nghệ thuật của nhà văn” [15]

Có thể thấy rõ ràng rằng, thuật ngữ tư duy nghệ thuật chỉ xuất hiện trong vai trò

diễn đạt hay một khái niệm “gia cố”, “bổ sung” chứ chưa được nhìn nhận như một khái niệm trung tâm, mang tính độc lập và hệ thống Nói cách khác, truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư chưa được đặt dưới góc nhìn nghiên cứu của lí thuyết tư duy nghệ thuật một cách khách quan, rõ ràng Đó chính là cơ sở để chúng tôi lựa chọn và thực

hiện đề tài Tư duy nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Tư duy nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư Tức, tư duy sáng tạo của nhà văn được thể hiện qua các tập truyện

ngắn ra đời ở các mốc thời gian khác nhau Từ đó, người nghiên cứu hướng đến nhận diện những thành tựu trong sáng tác cũng như chỉ ra sự vận động trong tư duy nghệ thuật của nhà văn này

Trang 12

- Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (2008);

- Khói trời lộng lẫy (2010);

- Đảo (2014);

- Không ai qua sông (2016);

- Cố định một đám mây (2018)

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: xem xét các tác phẩm ở tính chỉnh thể từ vi mô

đến vĩ mô, sau đó phân loại những chi tiết quan trọng liên quan đến vấn đề nghiên cứu thành từng nhóm tương ứng với các luận điểm để việc nghiên cứu đảm bảo được tính

cụ thể lẫn tính khái quát

- Phương pháp phân tích - tổng hợp: tiến hành xử lí dữ liệu bằng cách chia nhỏ vấn đề

để phân tích; sau đó tổng hợp khái quát trên tinh thần đánh giá về tư duy nghệ thuật của nhà văn

- Phương pháp nghiên cứu theo thi pháp thể loại truyện ngắn: vận dụng những kiến

thức lí luận văn học về thi pháp truyện ngắn để làm sáng tỏ những bình diện của tư duy nghệ thuật Nguyễn Ngọc Tư ở thể loại này

- Phương pháp nghiên cứu theo tự sự học: vận dụng những kiến thức lí luận văn học

về tự sự học để làm sáng tỏ những bình diện của tư duy nghệ thuật Nguyễn Ngọc Tư ở thể loại truyện ngắn

- Phương pháp so sánh - đối chiếu: dựa trên các bình diện tư duy nghệ thuật trong các

tập truyện và giữa các tác phẩm với nhau

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tư duy nghệ thuật và tư duy nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện thể loại

Chương 2: Tư duy nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện hình tượng nghệ thuật

Chương 3: Tư duy nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư nhìn từ phương diện ngôn ngữ và giọng điệu

Trang 13

CHƯƠNG 1

TƯ DUY NGHỆ THUẬT

VÀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƯ

NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN THỂ LOẠI

1.1 Tư duy nghệ thuật và tư duy nghệ thuật truyện ngắn

1.1.1 Tư duy nghệ thuật

Tư duy, tại xuất phát điểm, là một phạm trù của triết học Trong Từ điển triết học của M.Rodentan và P.Iudin, tư duy được định nghĩa như sau: “Tư duy là một hoạt động nhận thức lý tính của con người Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi của gần 16 tỷ tế bào thần kinh” và “Tư duy - sản phẩm cao nhất của cái vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận, v.v… Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật thực tại” [60, tr.634] Trong bài viết Về bản chất của tư duy đăng trên Tạp chí Triết học, số 1 (152),

tháng 01/2004, tác giả Nguyễn Mạnh Cương đã nêu rõ các luận điểm sau về tư duy:

“Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư duy là sản phẩm của một

cơ quan vật chất sống có tổ chức cao là bộ óc con người; được hình thành trong quá trình hoạt động thực tiễn của con người Hiện thực khách quan là đối tượng của tư duy và quyết định hoạt động tư duy của con người.” [6]

“Tư duy là trình độ cao của quá trình nhận thức, là sự phản ánh khái quát, gián tiếp, tích cực và sáng tạo về thế giới Ở giai đoạn nhận thức bằng tư duy, sự vật được phản ánh một cách gián tiếp và khái quát trong các khái niệm, phán đoán và suy lý Khái quát hoá và trừu tượng hoá là đặc điểm của tư duy, không có khái quát thì không

có quá trình hình thành khái niệm, không thể xây dựng được các lý thuyết khoa học và nói chung, không có hoạt động nhận thức sáng tạo Khái quát hoá không tách rời trừu tượng hoá Hoạt động khái quát hoá của tư duy chỉ có thể xảy ra và thực hiện trên cơ

sở một số thuộc tính quan trọng (xét ở một phương diện nào đó) đã được tư duy trừu tượng tách ra khỏi những thuộc tính khác Từ những thuộc tính đã được trừu tượng hoá này, tư duy đi tới bao quát cái chung, cái bản chất, cái có tính quy luật.” [6] Tác giả này đặc biệt nhấn mạnh tính sáng tạo của tư duy: “Tư duy, xét về bản tính, là một quá trình sáng tạo Nói đến tính sáng tạo của tư duy là nói đến sự hình thành tri thức mới về các mối liên hệ và quan hệ, về tính quy luật khách quan chi phối

sự phát triển của các sự kiện và quá trình lịch sử, về bản chất của các khách thể vi mô,

Trang 14

cũng như về diễn biến của hiện thực Trên con đường nhận thức chân lý, chủ thể tư duy không chỉ biết đặt ra các vấn đề mới, mà còn giải quyết chúng bằng những phương pháp thích hợp Đồng thời, đó cũng là quá trình chủ thể tư duy huy động một cách sáng tạo vốn tri thức phong phú đã có, bao gồm cả kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nghề nghiệp; huy động không chỉ tri thức lý luận chung, mà cả sự am hiểu cần thiết, cụ thể về những lĩnh vực “có vấn đề” Thiếu vốn tri thức phong phú của cuộc sống sẽ không có tư duy sáng tạo Ngoài ra, trong sự sáng tạo của tư duy ở trình độ lý luận khoa học cao còn có sự tham gia tích cực của tưởng tượng và trực giác Các tư tưởng, quan niệm, lý thuyết khoa học do tư duy sáng tạo ra cũng như bản thân tư duy có sự biến đổi, phát triển là do thực tiễn lịch sử - xã hội quyết định Điều này không loại bỏ tính độc lập tương đối của tư duy Tư duy có lôgíc phát triển nội tại riêng, chịu sự chi phối của các quy luật (quy tắc, nguyên tắc) riêng.” [6]

Các nhà tâm lý học cũng chú ý đến khái niệm tư duy trong việc nghiên cứu về hoạt động nhận thức của con người Tâm lý học nhận thức quan niệm: hoạt động nhận thức của con người gồm hai giai đoạn là nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính

Nhận thức lý tính bao gồm tư duy và tưởng tượng; trong đó, tư duy “là quá trình tâm

lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết.” [11]

Lĩnh vực ngôn ngữ học thì quan tâm đến tư duy như là một chức năng của ngôn ngữ Tư duy được ghi lại bởi ngôn ngữ Ngay từ khi xuất hiện, tư duy đã gắn liền với ngôn ngữ và được thực hiện thông qua ngôn ngữ Vì vậy, ngôn ngữ vừa là công

cụ vừa là cái vỏ vật chất của tư duy Hiểu như vậy cũng có nghĩa tư duy là một hoạt động nhận thức mà chủ thể là con người, đối tượng là hiện thực khách quan mà con người chưa biết và công cụ là ngôn ngữ

Không dừng lại ở việc định nghĩa tư duy, trong Lý luận văn học, tập 1, Phương Lựu đi sâu vào việc tìm hiểu các bình diện của tư duy: “Có thể chia tư duy của con người làm ba bình diện khác nhau: tư duy hành động - trực quan, tư duy hình tượng - cảm tính và tư duy khái niệm - logic” [18, tr.264] Cụ thể: “Tư duy hành động - trực quan là hình thức liên hệ trực tiếp với hiện thực trên cơ sở thực tiễn”, “Tư duy hình tượng - cảm tính đảm bảo sự tiếp xúc cảm tính, nhưng cách xa đối với khách thể trên

cơ sở nghe, nhìn, tưởng tượng”, “Tư duy khái niệm - logic tuy cũng là sự phản ánh tách khỏi đối tượng, nhưng nó thâm nhập vào bản chất của các hiện tượng” [18, tr.264, 265] Tác giả cũng khẳng định: “Trong đời sống, các bình diện tư duy này không tách rời nhau, mà liên hệ, hòa quyện, bổ sung cho nhau Nhưng có thể tách ra

Trang 15

thành các hình thức tư duy mà một bình diện nào đó là chủ yếu Đó là tư duy khoa học, tư duy nghệ thuật và tư duy thực tiễn hằng ngày.” [18, tr.265] Đến đây, khái niệm tư duy nghệ thuật xuất hiện như một hình thức tư duy mà Phương Lựu quan niệm

“tư duy hình tượng - cảm tính là cơ sở của tư duy nghệ thuật” [18, tr.266] và “hư cấu với sự tham gia tích cực của cá tính sáng tạo đã làm cho tư duy nghệ thuật khác hẳn

tư duy hình tượng cảm tính thông thường” [18, tr.270] Có thể hiểu, Phương Lựu nhận

diện tư duy nghệ thuật, về cơ bản, là tư duy hình tượng mà hình tượng đó phải được tạo ra bằng hư cấu mang tính chủ quan của nhà văn

Trong bài viết Thiền ngộ với tư duy nghệ thuật, tác giả này lý giải thêm: “Tư duy nghệ thuật là một loại tư duy mang tính chỉnh thể nhằm phản ảnh và biểu hiện thế thái nhân tình vô cùng phong phú phức tạp muôn màu muôn vẻ, cho nên ngoài tư duy hình tượng là cơ sở, nó còn thu nạp nhiều yếu tố khác của các loại tư duy thể nghiệm, lô- gic đa trị mơ hồ, vô thức và nhất là trực giác nữa.” [19]

Gần với quan điểm của Phương Lựu, trong Tư duy thơ và tư duy thơ Việt Nam hiện đại, Nguyễn Bá Thành cho rằng: “Tư duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo các biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hóa hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo.” [37, tr.36] Như vậy, Nguyễn Bá Thành cũng nhấn mạnh

đến việc sáng tạo biểu tượng, hình tượng về thế giới khách quan dựa trên tính chủ quan của nhà văn khi định nghĩa tư duy nghệ thuật

Trong Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả quan niệm: “Tư duy nghệ thuật là một bộ phận của hoạt động nghệ thuật nhằm khái quát hóa hiện thực và giải quyết nhiệm vụ thẩm mĩ.” “Bản chất của nó do phương thức thực tiễn tinh thần của hoạt động chiếm lĩnh thế giới bằng hình tượng quy định” “Phương tiện của nó là các biểu tượng, tượng trưng có thể trực quan được” “Cơ sở của nó là tình cảm” Nó “đòi hỏi một ngôn ngữ nghệ thuật làm “hiện thực trực tiếp” cho nó Ngôn ngữ đó là hệ thống các kí hiệu nghệ thuật, các hình tượng, các phương tiện tạo hình và biểu hiện.” Điểm xuất phát của nó “là lí tính, là trí tuệ có kinh nghiệm, biết nghiền ngẫm và hệ thống hóa các kết quả nhận thức” Đặc điểm của nó “là tính lựa chọn, tính liên tưởng, tính

ẩn dụ” Nó là cơ sở để “tạo ra các tư tưởng và quan niệm nghệ thuật, lựa chọn các phương tiện, biện pháp nghệ thuật” [59, tr.381, 382] Tựu trung, các tác giả cho thấy

tư duy nghệ thuật có nguồn gốc từ tình cảm và lí trí của bản thân người sáng tạo, phát sinh do nhu cầu hình tượng hóa thế giới khách quan để chiếm lĩnh thế giới ấy và được thể hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật, các phương thức, phương tiện nghệ thuật

Trang 16

Từ sự kế thừa các công trình trước và qua việc tự nghiên cứu, chúng tôi đi đến cách hiểu: tư duy nghệ thuật là một quá trình tất yếu và quan trọng của hoạt động sáng tạo nghệ thuật Tư duy nghệ thuật, trước hết, là hoạt động nhận thức của chủ thể sáng tạo nghệ thuật, của người nghệ sĩ, hẹp hơn là của nhà văn Đối tượng của tư duy nghệ thuật là thế giới hiện thực; đó có thể là những tồn tại khách quan bên ngoài nhà văn, cũng có thể là những tồn tại chủ quan bên trong nhà văn Hạt nhân cơ bản của tư duy nghệ thuật là tư duy hình tượng, mà ở đây phải là các hình tượng nghệ thuật được sáng tạo bằng hư cấu mang cá tính sáng tạo của nhà văn Và cuối cùng, phương tiện và hình thức tồn tại của tư duy nghệ thuật là ngôn ngữ nghệ thuật, bao gồm các hình tượng,

ngôn từ, giọng điệu

1.1.2 Tư duy nghệ thuật truyện ngắn

Tư duy nghệ thuật, như đã nói ở trên, là cách nhà văn lý giải thế giới bằng hình tượng nghệ thuật và nó tồn tại trong tác phẩm văn học bằng các hình thức nghệ thuật

Vì thế mà tư duy nghệ thuật không thể thoát khỏi sự chi phối của thể loại văn học - hình thức tồn tại chỉnh thể của tác phẩm văn học Nói cách khác, mỗi thể loại văn học đòi hỏi một kiểu tư duy nghệ thuật phù hợp với những đặc trưng cơ bản của thể loại

đó Việc tìm hiểu tư duy nghệ thuật trong từng thể loại sẽ giúp ta hiểu được cụ thể sự tác động của thể loại đến tư duy nghệ thuật của nhà văn

Đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu về tư duy nghệ thuật ở thể loại thơ

trữ tình Trong Tư duy thơ và tư duy thơ Việt Nam hiện đại, Nguyễn Bá Thành quan niệm tư duy thơ “là sự khôi phục và sáng tạo nên các biểu tượng trực quan để biểu hiện tư tưởng và cảm xúc, nhưng không phải do nhận thức cảm tính quyết định” [37, tr.61], “Đặc điểm quan trọng nhất của tư duy thơ là sự thể hiện của cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy.”, “Tư duy thơ phản ánh những tình cảm cộng đồng và tư duy thời đại.” [37, tr.78] Như vậy, nhiệm vụ chủ yếu của tư duy thơ là

sáng tạo hình tượng cái tôi trữ tình với toàn bộ những suy nghĩ, cảm xúc của nó Đặc biệt, đối với tư duy thơ, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện mà còn là cứu cánh, là mục đích, đối tượng của tư duy Tìm hiểu giá trị một bài thơ là tìm hiểu giá trị của hình tượng cái tôi trữ tình và giá trị của ngôn ngữ thơ

Khác với thơ, kịch không khám phá hiện thực bằng thế giới nội cảm Bản chất của kịch là mâu thuẫn Hình tượng trung tâm của kịch là nhân vật kịch: những con người được khắc họa trong mối quan hệ mâu thuẫn, với những hành động kịch đưa mâu thuẫn đến cao trào Tư duy kịch là cách nhà văn phát hiện mâu thuẫn, nhìn nhận mâu thuẫn và tái hiện mâu thuẫn bằng việc xây dựng các nhân vật kịch cùng các hành động kịch sao cho lột tả được đúng bản chất, mức độ của mâu thuẫn; để từ mâu thuẫn

Trang 17

đó, nhà văn khái quát được cho người tiếp nhận một hiện tượng đời sống, một vấn đề nhân sinh hay một bài học giá trị về con người và cuộc đời

Bên cạnh hai phương thức trữ tình và kịch là phương thức tự sự, mà thể loại tiêu biểu là tiểu thuyết Cái tiểu thuyết quan tâm là mối quan hệ giữa số phận cá nhân với cộng đồng xã hội Hình tượng trung tâm của tiểu thuyết không phải là cái tôi trữ tình hay con người được nhìn nhận bằng xung đột mà là “con người nếm trải”; không phải

là con người đang tồn tại trong những xúc cảm, suy tư hay mâu thuẫn kịch tính mà là con người đang bước đi, đang biến đổi trong không gian, thời gian Vì thế, tư duy tiểu thuyết tập trung khám phá và xây dựng một hiện thực cuộc đời và một thân phận - tính cách trong sự biến thiên không ngừng của chúng và mối quan hệ phức tạp giữa chúng Đọc một tiểu thuyết chính là đọc nhân vật tiểu thuyết trong hoàn cảnh tiểu thuyết đó Truyện ngắn cũng là thể loại thuộc phương thức tự sự như tiểu thuyết, nhưng khác với tiểu thuyết có dung lượng không giới hạn thì truyện ngắn là hình thức tự sự

cỡ nhỏ Chính vì sự hạn chế về câu chữ mà truyện ngắn không thể miêu tả một thân phận - tính cách với tất cả rung chuyển của nó trong mọi hoàn cảnh mà nó tồn tại Truyện ngắn thường chỉ kể về một đoạn, một thoáng chốc trong dòng đời của nhân vật; nếu có chăng kể về cả một cuộc đời thì không thể tường tận, chi tiết Truyện ngắn cũng không đủ khả năng khái quát nên một bức phông nền xã hội rộng lớn mà chỉ hướng vào một góc, một “xó xỉnh” nào đó của cuộc sống phồn tạp Nhưng từ một đoạn, một góc của đời, của người đó, truyện ngắn vẫn chạm đến mọi phương diện của đời sống, giúp ta nhận ra một điều gì sâu sắc, bản chất về cuộc đời và con người Vì thế, đặc trưng quan trọng nhất của truyện ngắn là khả năng dồn nén với dung lượng bao chứa to lớn trong mỗi chi tiết, sự kiện nhỏ nhất và lối dùng ngôn ngữ mang nhiều lớp nghĩa, tạo nhiều ẩn ý chưa tường minh

Trong Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả khẳng định: “Truyện ngắn hiện đại

là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại.” [59, tr.371] Đặc trưng thể loại ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư

duy nghệ thuật trong truyện ngắn Tư duy truyện ngắn không chỉ là sáng tạo ra hình tượng mà phải là hình tượng có tính biểu tượng cao, không chỉ là sử dụng ngôn ngữ

mà phải là sử dụng tối đa công năng biểu đạt, gợi mở của ngôn ngữ Tư duy truyện ngắn là cách thức nhà văn chọn cho mình một chỗ đứng, một điểm nhìn toàn năng, sao cho dù chỉ nhìn thấy một mảng đời nhưng phải là mảng đời bản chất nhất, ấn tượng nhất Tư duy truyện ngắn còn là cách thức nhà văn lựa chọn những phương thức, phương tiện nghệ thuật có tính giãn nở vô hạn: một câu, một chữ, một hình ảnh, chi tiết cũng đủ chấm phá nên một thế giới đa diện trong mắt người tiếp nhận Tóm lại, tư

Trang 18

duy truyện ngắn đòi hỏi sự tinh tế, nhạy bén của nhà văn trong việc nhìn nhận, sàng lọc mọi đối tượng để đưa vào trang viết, để mỗi một bộ phận nhỏ đều mang chứa sức nặng của giá trị tổng thể, để từ một giọt nước mà thấy cả đại dương

Mỗi thể loại văn học có những đặc trưng riêng biệt về phương thức chiếm lĩnh hiện thực, về dung lượng, về ngôn ngữ… Vậy nên, điều tất yếu là thể loại nào cũng có những ưu điểm và hạn chế nhất định Nhà văn có thể sử dụng sức mạnh, ưu thế của thể loại như một chiến lược, một mạng lưới tạo dựng giá trị tối ưu cho tác phẩm Điều này thôi thúc các nhà văn phá bỏ những khuôn khổ ban đầu của thể loại, đặt thể loại tương tác trong các khu vực tiếp xúc khác nhau, thậm chí mở rộng một thể loại văn học với các loại hình nghệ thuật ngoại biên Trong tiến trình hiện đại hóa văn học nghệ thuật, khả năng biểu đạt được mở rộng đến vô cùng nhờ việc “chung đụng” thể loại đã tạo nên một lối tư duy nghệ thuật mới, khiến mỗi tác phẩm trở thành một cuộc chơi về thể loại Giờ đây, gần như không một tác phẩm văn học nào tồn tại độc lập trong biên giới của một thể loại văn học duy nhất Thơ văn xuôi, tiểu thuyết kịch tính, truyện ngắn trữ tình… từ lâu đã không còn là những khái niệm xa lạ trong đời sống thể loại văn học Theo đó, nhiều yếu tố mang tính nhạc, tính hội họa, tính kiến trúc, tính điện ảnh… cũng ngày càng trở thành một phần tất yếu xuất hiện trong mạch dẫn tương tác thể loại của văn học hiện đại

Truyện ngắn bị hạn chế bởi dung lượng câu chữ, nên việc sử dụng tương tác thể loại để gia tăng tối đa khả năng dung chứa của truyện ngắn là một chiến lược được các nhà văn ưu ái trong sáng tác Tư duy truyện ngắn đòi hỏi nhà văn khai thác ưu thế về sức chứa của các thể loại khác để dung nạp vào một tác phẩm truyện ngắn Trong văn học Việt Nam hiện đại, những sự kết hợp giữa truyện ngắn với tiểu thuyết, kịch và điện ảnh đã thực sự tạo nên được những tương tác thể loại thành công, thể hiện một tư duy truyện ngắn mới mẻ, sắc sảo và để lại những tác phẩm, tên tuổi lớn

Tiểu thuyết là thể loại phù hợp hơn cả để khuếch đại dung lượng của truyện ngắn Truyện ngắn tìm thấy ở tiểu thuyết những hình thức nghệ thuật có sức chứa vĩ

mô Nhắc đến truyện ngắn mang tính tiểu thuyết là nhắc đến Nam Cao và tác phẩm để

đời của nhà văn này: Chí Phèo Nam Cao đã đưa vào truyện ngắn Chí Phèo nhân vật

của tiểu thuyết và giọng điệu của tiểu thuyết Chí Phèo, nhân vật trung tâm của truyện ngắn này, là một kiểu “con người nếm trải” điển hình Đằng sau 6 ngày được tường thuật chi tiết là cả một đời người với những biến cố quan trọng nhất, những thay đổi quyết định nhất, mọi tiền căn hậu quả của chúng, mọi dằn vặt, đau khổ của kiếp đời Chính nhờ thế mà một nhân vật truyện ngắn biến thành một nhân vật tiểu thuyết, một

mảnh của con người lột tả bản chất của con người Chí Phèo còn mượn cả giọng đa

Trang 19

thanh, phức điệu của tiểu thuyết; để mỗi một câu, một lời đều có thể là của người kể chuyện, của nhân vật này hay của nhân vật khác; mỗi một câu, một lời đều có thể chỉ

là lời tường thuật khách quan, cũng có thể là lời giễu nhại, lời khiêu khích, lời nhắc nhở, cảnh tỉnh của người kể chuyện đối với nhân vật, của nhân vật này đối với nhân vật khác hay với chính bản thân nó Gần 8 thập kỉ đã qua, nhưng hiếm có một truyện ngắn nào trong văn học Việt Nam có thể phát huy tối đa sức mạnh của tương tác thể loại truyện ngắn - tiểu thuyết như thế, cũng chứng minh cho một lối tư duy truyện ngắn xuất sắc như Nam Cao

Không chỉ mượn sức chứa khổng lồ của tiểu thuyết, truyện ngắn tìm đến kịch để mượn ở các xung đột kịch sức hấp dẫn, sự sinh động và tính chân thực, bởi bản chất của cuộc sống là không ngừng nảy sinh và giải quyết các mâu thuẫn Xây dựng một truyện ngắn giàu tính kịch đòi hỏi tư duy truyện ngắn của nhà văn phải tìm kiếm, dàn dựng được những cốt truyện nhiều xung đột, những tình huống nhiều mâu thuẫn và bản thân nhân vật cũng phải thể hiện được sự đối lập, giằng co giữa suy nghĩ và hành động, bên trong và bên ngoài của chính nó, giữa nó với các nhân vật khác, giữa nó với hoàn cảnh Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan luôn tạo được những tình huống oái

oăm, éo le, dở khóc dở cười như trong Oẳn tà roằn, Răng con chó của nhà tư bản, Báo hiếu trả nghĩa cha, Báo hiếu trả nghĩa mẹ, Ngựa người và người ngựa… để tái hiện

những mâu thuẫn gay gắt giữa con người với xã hội, giữa các giai cấp, tầng lớp người đối lập và quan trọng hơn hết, từ những mâu thuẫn kịch tính đó, một truyện ngắn chỉ mươi trang sách đã khắc họa được những hiện tượng mang tính bản chất của xã hội, của con người một cách sống động, hấp dẫn, chân thực Tư duy truyện ngắn của các nhà văn hiện đại ngày càng phát hiện ra ưu thế của tương tác thể loại truyện ngắn - kịch và tận dụng tối đa khả năng của sự kết hợp này, biến truyện ngắn thành những trang đời thực sự

Không dừng lại ở sự giao thoa với các thể loại văn học khác, truyện ngắn tạo nên một tổ hợp hiệu quả với điện ảnh Với ưu thế đồng hiện của điện ảnh, truyện ngắn có khả năng dồn nén vào trong nó nhiều không gian, thời gian, nhiều con người, cảnh đời

Dù mỗi phân cảnh chỉ tồn tại chớp nhoáng như vài giây trên màn ảnh cũng đủ để nhà văn kí mã cho nó một sự thật rộng lớn hơn rất nhiều Cứ như vậy, truyện ngắn tận dụng khả năng của điện ảnh để lũy thừa sức chứa của nó lên nhiều lần Nhà văn

Nguyễn Huy Thiệp chia truyện ngắn Không có vua thành 7 phần, gồm: Gia cảnh, Buổi sáng, Ngày giỗ, Buổi chiều, Ngày tết, Buổi tối, Ngày thường Mỗi phần tái hiện đúng

thời gian của nó, nhưng lại cắt cảnh liên tục ở những không gian khác nhau như một ống kính quay một vòng đủ mọi thành viên trong nhà lão Kiền Cả truyện ngắn như

Trang 20

một thước phim cắt ghép từ vô số cảnh quay, tưởng như vụn vặt, rời rạc nhưng lại chọn đúng những cảnh đắt, góc đẹp để người ta thấy được hết cuộc sống kì lạ đến khó lòng chấp nhận của những con người trong gia đình đó - một mô hình xã hội hiện đại thu nhỏ: không có vua, không có luật lệ, không có cả đạo đức tối thiểu của con người

Tư duy nghệ thuật truyện ngắn đang và sẽ tìm đến tương tác thể loại truyện ngắn - điện ảnh như một giải pháp hiệu quả để phá vỡ mọi rào cản, giới hạn của thể loại này Như vậy, từ góc nhìn tương tác thể loại, tư duy truyện ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại đang dịch chuyển từ sự tồn tại độc lập, cô lẻ trong một thể loại đến sự kết hợp, giao thoa để tận dụng tối đa mọi ưu thế của các thể loại Sự thay đổi này mang tính tất yếu trong sự vận động của thể loại và trong quá trình hiện đại hóa; đồng thời

thể hiện sự đổi mới, tiến bộ trong tư duy nghệ thuật

Tư duy hình tượng là hạt nhân trung tâm của tư duy nghệ thuật Tư duy truyện ngắn, vì thế, cũng gánh lấy nhiệm vụ quan trọng nhất là sáng tạo hình tượng Nhắc đến hình tượng trong một tác phẩm tự sự là nhắc đến hình tượng nhân vật Hẳn nhiên, hình tượng nhân vật là điều kiện cần, nhưng nhân vật đó phải được nhìn nhận, khắc họa trong một hoàn cảnh nhất định trên hai trục không gian và thời gian thì thế giới hình tượng của tác phẩm mới đủ đầy, hoàn chỉnh Vậy nên, sáng tạo hình tượng trong một tác phẩm tự sự nói chung, trong một tác phẩm truyện ngắn nói riêng là sáng tạo hình

tượng con người và hình tượng không - thời gian

Nếu xét truyện ngắn như một thể loại tồn tại độc lập thì tư duy hình tượng sẽ bị khuôn hẹp trong những giới hạn của thể loại Nhà văn chỉ có thể tiếp cận con người ở một khoảnh khắc cô đặc nhất trong cuộc đời họ, trong một không gian, thời gian nhất định Điều đó đòi hỏi nhà văn phải đẩy tất cả các mặt của hoàn cảnh và tính cách lên đến lý tưởng, điển hình, tột đỉnh mới có thể bộc lộ được tính khái quát nghệ thuật của

nó, từ đó phát ngôn nên quan điểm nghệ thuật của bản thân Hạn chế này vô tình đẩy tác phẩm vào sự ngoại lệ, khác biệt, thiếu tính chân thật, dung dị của bản chất cuộc sống, đôi khi biến tác phẩm trở nên xa lạ, khó tiếp cận

Mặt khác, việc nhà văn sử dụng tương tác thể loại giúp truyện ngắn giãn nở về thể loại, dễ dàng khắc phục những mặt hạn chế vốn có của nó Với sự “chen chân” của tiểu thuyết, kịch hay điện ảnh, truyện ngắn không gói nhân vật trong một lát cắt của đời sống hay một không gian, thời gian duy nhất Tư duy hình tượng của nhà văn phát huy tận độ mọi khả năng để có thể tái hiện một phần, nhiều phần hay toàn bộ cuộc đời con người trong những chiều không gian, thời gian không hạn định Giờ đây, tư duy hình tượng không dừng lại ở việc lựa chọn và dồn nén vào một số ít hình tượng mà mở rộng ở việc sắp đặt, đan cài, tổ chức các hình tượng thành một hệ thống đa trị

Trang 21

Như vậy, sự chuyển dịch tư duy truyện ngắn dưới ảnh hưởng của tương tác thể loại đã kéo theo đó sự thay đổi về tư duy hình tượng Tiếp cận tư duy hình tượng của các nhà văn trong truyện ngắn hiện đại là tiếp cận một lối tư duy mở, xoay chiều, tìm cách lắp ghép các hình tượng thành một hệ thống đa trị hơn là cố công dồn ép toàn bộ giá trị tác phẩm vào một vài hình tượng trung tâm Đó chính là cái nhìn khác về tư duy hình tượng Sự thay đổi này tạo nên giao diện tinh thần hoàn toàn mới của truyện ngắn

hiện đại

1.2 Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư trong dòng chảy truyện ngắn Việt Nam sau năm 1986

1.2.1 Truyện ngắn Việt Nam sau 1986 và những đổi mới về thể loại

Trước 1975, do yêu cầu của lịch sử, người ta vẫn thường nói tới phong trào đi thực tế sáng tác và kết quả của những chuyến đi đó là các sáng tác được viết theo đề tài đã được khuôn định như đề tài hợp tác hóa nông nghiệp, đề tài công nhân, đề tài chiến tranh và người lính… Sau 1975, chiến tranh kết thúc Sự trở về cuộc sống hòa bình và việc xóa bỏ cơ chế bao cấp đã làm nên những thay đổi căn bản, khiến đời sống

xã hội rẽ sang một bước ngoặt mới Năm 1986, Đại hội VI của Đảng với chủ trương

“cởi trói” cho văn học nghệ thuật đã mở những cánh cửa cho nghệ sĩ Bài viết Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa của Nguyễn Minh Châu có thể coi là

sự nhận thức lại, là nhu cầu tự vấn và là khát vọng được thành thật của người cầm bút, điều mà họ trăn trở lâu nay Quan điểm về cái gọi là “văn học minh họa” của Nguyễn Minh Châu hay “văn học phải đạo” của Hoàng Ngọc Hiến đã trở thành một “cú hích” cho sáng tạo nghệ thuật Cùng với những “tuyên ngôn” là sự thay đổi về lối viết Sau

Dấu chân người lính, Mảnh trăng cuối rừng, Nguyễn Minh Châu đã có sự “lột xác” với Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Cỏ lau, Phiên chợ Giát: từ âm

hưởng hào hùng, chất giọng lãng mạn, sử thi về cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc đến giọng điệu thâm trầm, day dứt về thân phận của con người sau chiến tranh, những ám ảnh khôn nguôi về quá khứ Một thời lãng mạn lùi về phía sau nhường chỗ cho sự chiêm nghiệm và nhận thức lại Không ít những truyện ngắn sau chiến tranh đi vào nhiều góc cạnh của đời sống, những góc khuất của số phận con người thời hậu

chiến (Cỏ lau - Nguyễn Minh Châu, Xưa kia chị đẹp nhất làng - Tạ Duy Anh, Người sót lại của rừng cười - Võ Thị Hảo…) được thể hiện với giọng điệu chiêm nghiệm,

nhiều suy cảm Đó là chưa kể đến nhiều mặt trái khác của đời sống trong xã hội hiện đại đã được các nhà văn đề cập đến trong truyện ngắn của mình Trong truyện ngắn Lê Minh Khuê, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái và nhiều tác giả khác, người đọc bắt gặp nhiều trạng thái đa dạng của đời sống của con người hôm nay:

Trang 22

sự tha hóa nhân cách vì đồng tiền, những cách thức mưu sinh và tồn tại, những thay đổi trong quan niệm và lối sống của mỗi cá nhân, sự lai căng về văn hóa… Muôn mặt đời sống được tái hiện trên trang viết

Truyện ngắn từ 1986 trở lại đây là một cuộc chạy tiếp sức không ngừng nghỉ giữa các thế hệ cầm bút Đầu tiên là thế hệ người viết từng kinh qua chiến tranh như Nguyễn Kiên, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Lê Minh Khuê… Tiếp đó là những cây bút xuất hiện sau 1986 như Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Trần Thùy Mai… Đầu thế kỉ XXI lại là địa hạt của những người viết trẻ sinh ra và lớn lên sau chiến tranh như Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh, Phong Điệp… Cùng sống và viết sau chiến tranh với ý thức đổi mới và trăn trở về lối viết nhưng ở mỗi thế hệ cầm bút lại có những nét riêng biệt trong cách tiếp cận và chuyển tải những vấn đề của đời sống Đó có thể là chiến tranh trong cái nhìn đa chiều với những nghiền ngẫm day dứt về hiện thực trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh, Lê Minh Khuê… Cũng có thể là những trăn trở

về thân phận, về cuộc sống hôm nay, những góc khuất của đời sống và tâm hồn con người trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Trần Thùy Mai, Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh… Có thể coi truyện ngắn sau 1986 là một bản hòa âm nhiều bè, đa dạng các sắc thái và phong cách

Những năm sau chiến tranh, trở về với quỹ đạo của cuộc sống đời thường, được tác động bởi tinh thần dân chủ trong đời sống, nhà văn có điều kiện được phát huy sáng tạo Bước chuyển của văn học được thể hiện qua tự sự, trữ tình, kịch trong đó truyện ngắn là thể loại ghi dấu rõ rệt Là thể loại nhạy bén và xung kích trong việc áp sát thực tế đời sống, truyện ngắn đã đi vào phản ánh cái hàng ngày, cái thường nhật

Sự nở rộ của những cây bút mới và sự thay đổi lối viết của các cây bút từng kinh qua chiến tranh cho thấy một thực tế tất yếu của đời sống văn học sau 1986: ý thức cách tân đã trở thành nhu cầu nội tại của người cầm bút không chỉ là những người thuộc

về lớp trẻ sinh ra và lớn lên sau chiến tranh mà còn là của những nhà văn đã đi qua chiến tranh

Ý thức về sự thay đổi lối viết là một thực tế hiện hữu trong tư duy sáng tạo của người viết truyện ngắn sau 1986 Cùng với sự thay đổi đời sống xã hội, sự đổi mới ý thức sáng tạo, một yêu cầu đặt ra từ phía người viết là họ cần có một cái gì đó mới mẻ hơn trên những trang viết, không chỉ là những câu chuyện được kể tuần tự mà còn phải

là hình thức mới Ý thức về sự đổi mới không chỉ dừng lại ở việc khai thác những đề tài trước đây còn bỏ ngỏ, phản ánh sâu sắc và đa dạng nhiều bình diện của cuộc sống con người hôm nay mà còn ở sự cách tân nghệ thuật - những trăn trở về lối viết: không

Trang 23

chỉ là viết cái gì (nội dung) mà là viết như thế nào (hình thức) Phiên chợ Giát, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu là những truyện ngắn cho

thấy sự thay đổi trong tư duy nghệ thuật và lối viết của nhà văn Thông qua số phận và

những trạng huống đời sống của nhân vật Lão Khúng (Phiên chợ Giát), Quỳ (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành), nhà văn đã dùng nhiều bút pháp nghệ thuật, kết hợp

các mảng thời gian, không gian, ý thức và tiềm thức trong việc khắc họa thật ấn tượng con người bên trong mang ý nghĩa triết lý và nhân sinh sâu sắc Đổi mới, cách tân đã trở thành khát vọng, là ý thức thường trực Nhiều cây bút truyện ngắn đã mạo hiểm trong cuộc kiếm tìm lối viết, chối bỏ những cách thức cũ mòn nhằm tạo ra những tác phẩm mang dấu ấn riêng của cá nhân mình

Trong đời sống văn học sau 1986, quan niệm truyền thống về thể loại truyện ngắn đã thay đổi với xu hướng truyện ngắn xóa bỏ những ranh giới thể loại đã được mặc định trước đó Với nhiều trường hợp truyện ngắn, sự pha trộn, tương tác thể loại

được xem như sự vi phạm quy tắc có chủ ý của người viết Tuy nhiên: “Suy cho cùng

việc đi ngược quy tắc chỉ thành công trong điều kiện nó xuất phát từ chính yêu cầu của nội dung câu chuyện, khớp với nội dung ấy, là một bộ phận hợp thành chặt chẽ của nội dung ấy.” [27]

Quan sát thực tiễn đời sống văn học và sự vận động của thể loại truyện ngắn sau

1986, có thể thấy khả năng biến hóa của truyện ngắn được các nhà văn vận dụng đến tối đa: không chỉ biến hóa về dung lượng (truyện có thể dài vài ba trang hay hai ba mươi trang, thậm chí cả trăm trang); đổi mới về nội dung (tiếp cận nhiều vấn đề của đời sống, mở rộng đề tài sáng tác) mà còn ở sự đa dạng trong kỹ thuật viết, trong sự pha trộn, chồng xếp các phong cách thể loại Có thể coi đây là tương tác thể loại - hiện tượng nhiều hệ thống thể loại tương tác, ảnh hưởng xâm nhập vào nhau tạo thành những thể loại mới mang đặc điểm kép của hai hay nhiều nòng cốt thể loại

Theo Bakhtin, lịch sử văn học trước hết là lịch sử hình thành, phát triển, tương tác giữa các thể loại Tương tác thể loại tạo nên tính lưỡng hợp, mang đặc điểm của các phương thức phản ánh đời sống khác nhau, những hình thức kỹ thuật, chất liệu phản ánh đời sống khác nhau Từ góc độ thể loại, có thể thấy văn học sau 1986 chứng kiến một quá trình xâm nhập, di trú của nhiều loại hình, nhiều thể loại trong cùng một tác phẩm Chúng ta vẫn thường nghe nói đến thơ văn xuôi, truyện trữ tình, tiểu thuyết

tự truyện…

Sự pha trộn thể loại trong truyện ngắn, tiểu thuyết ít nhiều đã có trong văn học trước đây Tuy nhiên, phải đến sau 1986, với sự thay đổi quan niệm văn học và quan niệm thể loại, dấu hiệu của tương tác thể loại mới được thể hiện rõ rệt và với tần suất

Trang 24

cao Không ít truyện ngắn đã chạm đến ranh giới với các thể loại văn xuôi khác như tiểu thuyết, bút ký, tản văn, tùy bút…, thậm chí là cả thơ và kịch Thực tế này làm đứt gãy những giới hạn thể loại truyền thống Trong quan niệm của người viết, truyện ngắn không còn là thể loại văn tự sự đơn giản, mà có khả năng biến hóa với việc vận dụng thủ pháp xóa mờ lằn ranh thể loại Với ý thức đó, họ phá bỏ rào cản về mặt thể loại, phá vỡ dạng thức tồn tại khá ổn định của truyện ngắn bằng cách thay đổi diện mạo của văn bản với sự đan xen kết hợp nhiều kiểu văn bản trong một văn bản Đó là hiện tượng dễ dàng nhìn thấy trong nhiều truyện ngắn sau 1986

Truyện ngắn trong quá trình hình thành và phát triển luôn biến đổi theo xu hướng thay đổi đường biên của thể loại Một trong những sự biến đổi đó là xu hướng viết ngắn lại, nghĩa là người viết đặc biệt chú trọng đến tính chất ngắn của thể loại Viết truyện rất ngắn (truyện ngắn mini) là một trong những cách thức mà người viết truyện ngắn sau 1986 lựa chọn, cũng là một cách tương tác với người đọc trong bối cảnh mới Truyện rất ngắn yêu cầu ở người đọc khả năng đồng sáng tạo, bởi một trong những đặc tính của truyện rất ngắn là tính đa nghĩa Khuynh hướng viết ngắn lại, thao tác viết thật ngắn hiện hữu trong đời sống văn học một mặt thuộc về phong cách nhà văn, mặt khác

đã cho thấy những thay đổi từ phía chủ thể sáng tạo: viết ngắn là cách thức làm mới và điều này quả nhiên là đối trọng với xu hướng viết tiểu thuyết, truyện ngắn dài ở truyền thống Khi viết truyện rất ngắn, vấn đề đặt ra là với số lượng câu chữ được giới hạn, người viết cần phải đầu tư nghệ thuật viết sao cho tác phẩm có sức nén, có sức lan tỏa Viết một truyện ngắn hay đã khó, viết được một truyện rất ngắn hay lại càng khó hơn nhiều Người viết phải chú ý đến các tiêu chí về tính cô đọng, súc tích, tính biểu tượng, giàu sức gợi Ở đây không hoàn toàn là việc người viết chỉ làm thao tác thủ công rút ngắn lại trang viết mà là nghệ thuật xây dựng tác phẩm, sự bố trí, sắp xếp chi tiết tình huống, nghệ thuật kết cấu, khắc họa nhân vật… sao cho giá trị nghệ thuật được đạt đến tối đa, sao cho trong một khuôn khổ có hạn người viết có thể chuyển tải được nhiều ý tưởng và mang lại nhiều xúc cảm thẩm mỹ cho người đọc Cũng bởi tính dồn nén, cô đọng và giàu sức gợi nên truyện rất ngắn cũng chứa đựng cả yếu tố thơ và kịch

Người viết truyện ngắn sau 1986 khá tự do trong việc làm thay đổi khuôn diện của truyện ngắn truyền thống, bằng cách để cho những yếu tố thuộc về phẩm tính của thơ ca hay chất thơ xâm nhập vào tác phẩm tự sự, không chỉ ở giai điệu, hình ảnh, xúc cảm - những đặc điểm của tác phẩm thơ mà còn ở bình diện hiển ngôn trên bề mặt văn bản Tương tác thể loại truyện ngắn - thơ có thể được biểu hiện ở nhịp điệu, nhạc điệu,

ở hình ảnh trữ tình, ở sự cô đọng, hàm súc và một dấu hiệu “ngoại hiện” rõ rệt nhất là

sự hiện diện của ngôn ngữ thơ trong truyện ngắn

Trang 25

Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn có ý thức rõ ràng về sự xâm nhập của thơ vào truyện ngắn, về sự mở rộng ranh giới của truyện ngắn bằng thơ Trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, ngôn ngữ thơ ca chiếm một tỷ lệ lớn Đó có thể là những câu thơ do chính tác giả sáng tác, cũng có thể là tác giả mượn của người khác như Nguyễn Bính, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Đồng Đức Bốn, Nguyễn Bảo Sinh; cũng

có khi là lời hát cổ, những câu hát đồng dao, câu ca dân gian được nhà văn sử dụng nguyên văn hoặc có chỉnh sửa

Mở đầu truyện ngắn Những người thợ xẻ là những câu hát đồng dao quen thuộc

của trẻ nhỏ:

Kéo cưa lừa xẻ Ông thợ nào khỏe Thì về cơm vua Ông thợ nào thua Thì về bú tí… [45]

Chất thơ, tư duy thơ còn biểu hiện qua việc sử dụng hình thức điệp, hình thức tái lặp, ở giai điệu, ngôn ngữ giàu nhạc điệu với hình thức cấu trúc đoạn thơ lặp đi lặp lại

trong Chảy đi sông ơi:

Chảy đi sông ơi Băn khoăn làm gì?

Rồi sông đãi hết Anh hùng còn chi?… [42]

Trong Con gái thủy thần, mở đầu Truyện thứ nhất, tác giả dẫn một lời hát cổ:

Cái tình chi Mượn màu son phấn ra đi… [43]

Mở đầu Truyện thứ ba lại là một câu thơ của Nguyễn Bính:

Giang hồ sót lại mình tôi Quê người đắng khói, quê người cay men… [43]

Kết thúc Con gái thủy thần là những câu:

Tôi cứ đi, đi mãi… Trước mặt tôi là dòng sông thao thiết Sông chảy ra biển Biển rộng vô cùng Tôi chưa biết biển… Tôi chưa biết biển… Mà tôi sống nửa cuộc đời rồi đấy Chỉ vài năm nữa đến năm 2000

Con gái thủy thần! Nàng ở đâu? Nàng ở chỗ nào? Vì cái gì? Bởi cái gì? Để tôi mượn màu son phấn ra đi…

Con gái thủy thần! Nàng ở đâu? Nàng ở chỗ nào? Vì cái gì? Bởi cái gì? Để tôi mượn màu son phấn ra đi… [43]

Trang 26

Trong truyện ngắn Thương nhớ đồng quê Khi Quyên bảo: “Cánh đồng rộng quá… anh có biết cánh đồng bắt đầu từ đâu không?” [46], Nguyễn Huy Thiệp để

Nhâm trả lời bằng một đoạn thơ:

Cánh đồng bắt đầu từ nơi rất sâu trong lòng tôi Trong máu thịt tôi đã có cánh đồng

Ðứng bên ni đồng mênh mông bát ngát Ðứng bên tê đồng bát ngát mênh mông

Tôi làm sao quên được nơi mẹ sinh tôi

Mẹ đã buộc cuống rốn tôi bằng sợi chỉ Tắm gội cho tôi bằng nước ao đầm trước Tôi biết khóc cũng vô ích vì tất cả phải chờ đợi Phải chờ đợi từ tháng giêng đến tháng chạp Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà Tôi đi qua rất nhiều bờ ngang, bờ dọc lầm lạc

Ði qua rất nhiều gian khó, thô tục Tôi phải gieo trồng, gặt hái trên cánh đồng này Phải thuộc tên nhiều loại sâu bọ

Còn cánh đồng thì khi mưa, khi nắng Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu Rồi ngày kia

(Cái ngày xung tháng hạn)

Có một người đàn bà đến làm cho tôi đau Nàng dạy tôi thói bạc tình

Bằng cách phản bội tôi như có thể phản bội một người thường Tôi lẳng lặng chôn nỗi căm ghét cuối cánh đồng

Trong mạch đất hiểm có hình lưỡi kiếm Những bông hoa mơ ước héo trên tay Công việc trở nên nặng nề hơn trước Tôi bán những sản vật làm ra với giá rẻ như bèo

Ðã có những mùa thu hoạch lớn Tôi cũng đã phá sản đôi lần Khi chiều xuống, hoàng hôn tĩnh lặng Tôi không kịp xem những vết sẹo trên người Chỉ biết rằng tôi đã mang thương tích Ðêm

Trang 27

Những vì sao thắp nến trên bầu trời Tôi đắp tấm vải liệm sực mùi đồng nội lên người Khi ấy, bạn ơi, bạn trẻ ơi

Bạn hiểu cho tôi Tôi đã gắng làm cho cánh đồng phì nhiêu [46]

Đến khi cái chết đến với hai cô em gái Nhâm quá oan nghiệt, Nguyễn Huy Thiệp

khéo léo mượn lời bài thơ Đám ma trinh nữ trên đồng của nhà thơ Bùi Văn Ngọc để

bộc lộ tâm trạng của các nhân vật:

Tôi đi đưa đám ma trinh nữ trên đồng Cái chết trắng, cái chết trắng xoá Những con bướm trắng, những bông hoa trắng Những tâm hồn trắng, những cuộc đời trắng

Ơi hời, tôi đưa đám ma trinh nữ trên đồng Tôi đào huyệt, dài một mét tám, ngang bảy mươi phân Tôi đào huyệt, sâu một mét rưỡi

Ơi hời, tôi chôn vào đây tinh thần sơ nguyên

Ơi hời, này là vật hiến tế cho đất đai Trinh nữ vẹn tuyền, cái chết trắng xóa Những con bướm trắng, những bông hoa trắng Những tâm hồn trắng, những cuộc đời trắng

Ơi hời, tôi lót vào ngực bài thơ trắng tinh

Bẻ một cành xanh mà che mắt nhìn Gió phơ phất, hồn bay phơ phất Hồn bay lên, trên cánh đồng người Tôi đi đưa đám ma trinh nữ trên đồng Trong ngày như thế, trong một ngày dưng Trong ngày như thế, trong một ngày thường

Ơi hời, tôi đi lẫn trong đám đông, trong số đông, trong lòng người, trong nỗi đau thương, trong thê lương… [46]

Bên cạnh đó còn là lối văn xuôi sử dụng ngôn ngữ giàu chất thơ, giàu sức gợi

như đoạn văn mở đầu truyện ngắn Chảy đi sông ơi: “Đoạn sông chảy qua bến Cốc lia một vòng cung đẩy những doi cát bên bồi về mãi phiá tây Bến đò ở ngay gốc gạo đơn độc đầu xóm Con sông bến nước mơ màng và buồn cô liêu, nửa như chờ đợi, nửa như hờn dỗi Mùa hoa, trên ngọn cây gạo màu đỏ xao xuyến lạ lùng Nước lờ lững trôi, giữa tim dòng sông rạch một mũi sóng dập dồn, ở đầu mũi sóng có một điểm đen tựa

Trang 28

như mũi giáo Bến đò tĩnh lặng rất ít người qua lại Mùa đông có cả những con sáo lông đen chân vàng đậu trên sợi thép níu đò căng từ gốc gạo sang phía kia sông Chúng nghiêng nghiêng đầu xuống dòng nước chảy tha thiết líu ra líu ríu Chiều xuống tiếng chuông nhà thờ ở giữa bến Cốc lan trên mặt sông mang mang vô tận Con sông tựa như giật mình phút chốc sau đó lại lặng im trôi, giống như một người hiểu biết tất cả nhưng đang mải mê suy nghĩ, chẳng cần mà cũng chẳng thèm biết đến xung quanh chộn rộn những gì.” [42] Có lẽ những năm tháng sống ở vùng núi Lai Châu,

thiên nhiên đã là một tác nhân quan trọng đưa lại cho nhiều trang văn Nguyễn Huy Thiệp chất trữ tình sâu lắng Nhiều tiêu đề truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp cũng mang

tính thơ, ở sự thi vị, chất trữ tình như Chảy đi sông ơi, Thương nhớ đồng quê, Tâm hồn

mẹ, Truyện tình kể trong đêm mưa

Với nhiều truyện ngắn, thơ không chỉ đóng vai trò là lời đề từ với chức năng dẫn

dụ mà có khi thơ còn là một tâm sự nhà văn muốn gửi gắm, thơ đóng vai trò là những đoạn trữ tình ngoại đề thể hiện tâm trạng nhân vật Thơ được đưa vào truyện ngắn nương theo cốt truyện và tâm trạng nhân vật Việc đưa thơ vào truyện ngắn sẽ tạo nên cấu trúc thơ song hành với văn xuôi Đây cũng là ý thức tránh sự câu thúc bởi những ràng buộc thể loại: truyện ngắn không chỉ là câu chuyện được kể mà còn là khả năng liên tưởng, năng lực tưởng tượng

Một đặc điểm dễ nhận thấy khác trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là tính

kịch Ở các truyện ngắn Không có vua, Tướng về hưu, tính kịch được thể hiện cao độ

qua xung đột, qua nhân vật với các vai nhân vật tính cách và nhân vật hành động, qua ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ đối thoại tạo nên tương tác thể loại truyện

ngắn - kịch Tướng về hưu là truyện ngắn giàu xung đột kịch, hành động kịch Không

chỉ là xung đột trong nội tâm nhân vật mà còn là xung đột giữa nhân vật với nhân vật,

ở đây là giữa ông Thuấn và con dâu, giữa ông Thuấn và con trai, xung đột của những thói quen, nếp nghĩ của một người vốn là một vị tướng, nghỉ công tác, trở về với cuộc sống đời thường Ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn này là một biểu hiện rõ của chất kịch Các phát ngôn luôn được đặt trong trạng thái xung đột các quan điểm, ý

kiến: “Cái Mi và cái Vi trêu: “Chị Lài xinh nhất” Cô Lài cười thỏn thẻn: “Chả phải

Mợ mới xinh nhất” Vợ tôi bảo: “Em đi chú ý đỡ ông những khi tàu xe” Cha tôi bảo:

“Hay thôi không đi?” ông Cơ giãy nảy: “Chết, cháu đã điện rồi: Mang tiếng chết” Cha tôi thở dài: “Tôi có tiếng gì mà mang?” [47]

Một số truyện ngắn được viết dưới hình thức nhật ký, thư từ Dưới hình thức nhật

ký, Mười ngày của Phan Thị Vàng Anh là sự thuật lại mười ngày chờ đợi mà mỗi ngày

qua đi cùng với diễn biến của thời gian đang trôi là những cung bậc của cảm xúc từ lo

Trang 29

lắng thấp thỏm chờ đợi, hy vọng đến thất vọng Trong Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Y Ban

đã mượn hình thức viết thư để qua đó nhân vật được giãi bày tâm sự, được thỏa lòng nói ra những khát vọng thầm kín của chính mình mà trong hoàn cảnh khác nhân vật

khó có cơ hội bộc lộ Còn ở Nguyễn Huy Thiệp, có thể dễ dàng nhận ra trong nhiều truyện ngắn của ông có sự đan xen của các thể loại: truyện ngắn - tư liệu (Thương cả cho đời bạc), truyện ngắn - nhật ký (Mưa), truyện ngắn - chân dung (Nguyễn Thị Lộ, Mưa Nhã Nam)

Quan sát thực tiễn đời sống thể loại truyện ngắn sau 1986, dễ dàng nhận thấy: nhiều truyện ngắn đã được viết bằng tương tác thể loại Điều này cho thấy những thay đổi trong tư duy nghệ thuật của chủ thể sáng tạo

Không chỉ dừng ở thơ và kịch, “truyện ngắn biến đổi trong bối cảnh chịu tác động của tiểu thuyết, tiếp thu đặc điểm của thể loại này” [41, tr.56] Thực ra, tương

tác thể loại truyện ngắn - tiểu thuyết đã từng có trong văn học trước 1945 Nhà nghiên

cứu La Khắc Hòa đã khẳng định: “Truyện ngắn là hình thức thể loại tự do Nó chính

là tiểu thuyết Hiểu theo cách của Bakhtin, tiểu thuyết là “người đang nói và lời nói của người ấy” Về phương diện cấu trúc, bộ xương thể loại của truyện ngắn vẫn chưa

ổn định, thường xuyên biến đổi Cho nên, ta dễ dàng nhận ra sự thay đổi cấu trúc của truyện ngắn qua các thời đại văn học khác nhau Diện mạo của truyện ngắn Việt Nam trước 1945 rất ổn định ở 3 dạng tổng hợp thể loại, ấy là truyện ngắn - kịch hoá (Nguyễn Công Hoan), truyện ngắn trữ tình (Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh) và truyện ngắn - tiểu thuyết (Nam Cao).” [12]

Tuy nhiên, sau 1986, cùng với sự thay đổi tư duy nghệ thuật và tư duy thể loại, tương tác thể loại truyện ngắn - tiểu thuyết mới xuất hiện phổ biến tạo nên một “ngã rẽ” của thể loại trong quá trình vận động và phát triển Có thể nói, sự tác động giữa hai hay nhiều thể loại trong cùng một tác phẩm là điều đã từng có trong lịch sử, chỉ có điều đến sau 1986, các nhà văn mới có ý thức sâu sắc hơn về sự tương tác và coi đó như một chủ đích nghệ thuật trong ý thức tìm tòi, thể nghiệm nhằm tạo nên những giá trị nghệ thuật mới Truyện ngắn đang mở rộng giới hạn thi pháp thể loại truyền thống Giữa truyện ngắn và tiểu thuyết có những đặc điểm giao thoa khiến lằn ranh giữa truyện ngắn và tiểu thuyết đôi lúc rất mờ nhòe

Với những đặc điểm tương đồng và dị biệt, trong quá trình phát triển, giữa truyện ngắn và tiểu thuyết có sự tương tác ảnh hưởng lẫn nhau Nhà văn Nguyễn Kiên cho rằng sự tác động qua lại giữa truyện ngắn và tiểu thuyết là điều hiển nhiên, dẫn đến những tìm tòi có chủ đích về sự trộn lẫn hoặc đan xen, tận dụng khả năng liên phối với

các hình thức tự sự khác: “Truyện ngắn trong suốt quá trình phát triển, luôn đứng

Trang 30

trước một thách thức: phải làm sao sức chứa và sức nặng vượt thoát được ra ngoài cái khuôn khổ bé nhỏ mà nghệ thuật khuôn nó vào Lẽ dĩ nhiên, truyện ngắn phải tự tìm tòi, đồng thời, nó cũng nhìn sang tiểu thuyết” [1, tr.69] Về tương tác thể loại truyện ngắn - tiểu thuyết, Nguyễn Thành Thi cho rằng: “Tiểu thuyết và truyện ngắn là những thể loại mới hình thành, đang phát triển và biến đổi, “nòng cốt” của chúng chưa kịp rắn lại, còn trong trạng thái mềm, lỏng Do vậy quá trình tương tác ở đây càng dễ tạo

ra hiện tượng thâm nhập, giao thoa, tổng hòa khá tinh tế, phức tạp.” [41, tr.54]

Tương tác thể loại truyện ngắn - tiểu thuyết mang hai yếu tố đặc trưng Thứ nhất

là ở “sự dài hơi”: không đơn thuần là dung lượng tác phẩm mà ở khả năng phản ánh, sức ôm chứa nhiều vấn đề của đời sống Thứ hai là ở phương diện nghệ thuật trần thuật: những bút pháp vốn nổi bật trong tiểu thuyết như luân chuyển ngôi kể, đan xen điểm nhìn, đa thanh phức điệu… Nhiều truyện ngắn được viết như những tiểu thuyết

cô đọng như Tướng về hưu, Giọt máu, Con gái thủy thần (Nguyễn Huy Thiệp), Khách

ở quê ra, Phiên chợ Giát (Nguyễn Minh Châu), Bước qua lời nguyền (Tạ Duy Anh), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư), Bức thư gửi mẹ Âu cơ (Y Ban), Hậu thiên đường (Nguyễn Thị Thu Huệ)…

Nhận định về truyện ngắn những năm 90, nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng: “Hầu hết mỗi truyện ngắn là cả một cuộc đời, một số kiếp, thậm chí một thời đại Cầm cái truyện ngắn nghe nặng trịch trong tay Dung lượng của nó là dung lượng của tiểu thuyết phơi bày tất cả mấy năm trước, nhưng nó lại ngắn - cái ngắn này là vô cùng quan trọng - ngắn, bắt buộc phải ngắn, cố tình ngắn, nên đã loại bỏ đi được rất nhiều tạp chất, để cho tác phẩm đặc sệt lại thành một thứ quặng ròng, nặng và nhọn Nó ngắn, nên nó mạnh hơn tiểu thuyết, cái mạnh của mũi dùi, mũi lê.” [26]

Tương tác thể loại truyện ngắn - tiểu thuyết thể hiện qua việc khai thác và biểu hiện đời sống theo chiều sâu, gia tăng tính dồn nén Điều này làm cho truyện ngắn có một sức chứa lớn hơn khuôn khổ của nó, cho ta cảm giác về những tiểu thuyết thu nhỏ Nhận định về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, nhà phê bình Nguyễn Đăng Điệp viết:

“Gia tài văn chương Nguyễn Huy Thiệp chủ yếu là truyện ngắn Nhưng điều đáng chú

ý là mỗi một truyện ngắn của ông lại mang sức nén của một tiểu thuyết trường thiên Diễn đạt gọn hơn, truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp được viết bằng tư duy tiểu thuyết.”

[9, tr.154] Xét ở khía cạnh tầm vóc phản ánh lịch sử và số phận con người như cách vẫn nói về tiểu thuyết thì truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp quả đã có được sức dung

chứa lớn Truyện ngắn Tướng về hưu có bóng dáng tiểu thuyết truyền thống Tác phẩm

được phân tách thành 15 phân đoạn đánh số La mã từ I đến XV, tương ứng với mỗi phân đoạn được đánh số là một sự kiện nằm trong chuỗi sự kiện được tác giả liên kết

Trang 31

theo lối sự kiện trước là tiền đề cho sự kiện sau Trong nhiều phân đoạn, Nguyễn Huy Thiệp đã sử dụng lối viết quen thuộc của tiểu thuyết chương hồi bằng cách thêm vào

các lời chú thích ở đầu mỗi phân đoạn, chẳng hạn: “Trước khi kể tiếp, xin nói về gia đình tôi” hay “Tôi quay lại đoạn kể cha con tôi bàn việc gia đình”

Tương tác thể loại truyện ngắn - tiểu thuyết còn được thể hiện ở kỹ thuật liên kết

các truyện ngắn tạo nên kiểu “truyện ngắn liên hoàn” trong các truyện Những ngọn gió Hua tát (gồm 10 truyện ngắn liên hoàn), Chút thoáng Xuân Hương gồm ba truyện: Truyện thứ nhất, Truyện thứ hai, Truyện thứ ba Một số truyện ngắn của Nguyễn Minh

Châu có sự gắn kết với nhau bằng nhân vật, chẳng hạn nhân vật lão Khúng vừa hiện

diện ở truyện ngắn Khách ở quê ra, vừa hiện diện ở truyện ngắn Phiên chợ Giát đều

với tư cách là nhân vật chính

Có thể thấy, tương tác thể loại truyện ngắn - tiểu thuyết đã chứng tỏ sự biến động trên bề mặt và trong cấu trúc tự sự của thể loại truyện ngắn Điều này gắn với quan niệm của nhà văn về thể loại, về văn học với mục đích nhằm chuyển tải hiện thực đời sống trong bối cảnh mới Đó cũng là nhu cầu làm mới thể loại thông qua những cách tân tự sự, những nỗ lực làm mới trên hành trình vận động và phát triển của đời sống thể loại Qua khảo sát thực tiễn sáng tác truyện ngắn sau 1986, có thể thấy các nhà văn đang có ý thức phá vỡ ranh giới của những quan niệm mang tính định giá về mặt thể loại Sự giao thoa của các thể loại trong truyện ngắn thể hiện một cách thế tồn tại của

thể loại trong bối cảnh mới: “Giống như chính cuộc đời này, mọi thể tài đều có khả năng biến hóa vô tận Một khi đã có được cách nhìn nhận mới mẻ về đời sống, nếu nhà văn - ở đây là người viết truyện ngắn - còn tìm được hình thức thể tài thích hợp,

và đẩy được những thể nghiệm của mình chín đầy tới mức trở thành những hình thức

ổn định, bình thản, thì sức sáng tạo nảy nở không biết đâu là cùng, và sự đóng góp của nhà văn trong hình thức thể loại, cũng sẽ là không gì thay thế nổi” [27] Trong

quá trình phát triển, truyện ngắn sẽ thu nạp những đặc điểm mới bởi sự tác động qua lại giữa các thể loại Tương tác thể loại truyện ngắn - tiểu thuyết, một phần là kết quả của quy luật nội tại trong quá trình vận động thể loại, mặt khác là bởi ý thức của người viết nhằm tạo nên những không gian nghệ thuật mới

Mỗi thể loại văn học là một kênh giao tiếp giữa nhà văn, người đọc và tác phẩm Với người viết, ngay khi ý tưởng được hình thành và khai triển, nhà văn sẽ phải có một khuôn hình thể loại Làm cho ranh giới thể loại trở nên mờ nhòe, phá vỡ ranh giới thể loại cũng là cách thức nhà văn tìm đến sự cách tân, tìm đến hình thức mới cho thể loại, nghĩa là thể loại không bất biến mà luôn biến đổi, chịu sự tác động của ý thức

sáng tạo trong lịch sử xã hội Cũng như ở Pháp, chính việc “không chịu khép mình vào

Trang 32

các quy định lý thuyết của thể loại lại là một điểm mạnh của truyện ngắn, mang đến cho nó sức sống mãnh liệt vào những thập niên cuối thế kỷ XX” [40]

1.2.2 Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư - sự kế thừa và sáng tạo về thể loại

Cũng viết về đề tài nông thôn vốn đã quen thuộc trong văn học Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX, Nguyễn Ngọc Tư lại có cách lựa chọn, xử lý chất liệu bám trên trục thể loại Bởi thể loại như bà đỡ, điểm tựa, là cái đầu tiên đưa bước nhà văn vào đời sống nghệ thuật Không bằng lòng với thể loại đông cứng như nó vốn có, Nguyễn Ngọc Tư đã có sự va chạm thể loại, chơi trò chơi thể loại, để rồi từ thể loại xây dựng nên thế giới nghệ thuật đầy cá tính sáng tạo Nhà văn này đã cơi nới, trao thêm quyền năng cho truyện ngắn bằng tương tác thể loại

Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư có sự xuất hiện của chất thơ qua sự dung nạp yếu

tố trữ tình vào truyện ngắn bằng việc không hướng vào khai triển hệ thống sự kiện với cốt truyện mạch lạc, mà chú ý khắc họa nhân vật trong nhiều trạng huống tâm trạng (gần với nhân vật chủ thể trữ tình trong thơ)

Trong truyện ngắn Cái nhìn khắc khoải, Nguyễn Ngọc Tư đã dành những đoạn

văn giàu xúc cảm cho tâm hồn lão nông chăn vịt nghèo khó, cô độc mà khát mong

hạnh phúc, hơi ấm như ông Hai: “Rồi bất ngờ, ông bừng dậy, lùa vịt cắt vạt đồng hối

hả trở vô Ông nói như nói với con Cộc, “Bỏ quên bịch thuốc trong nhà, thèm quá” Trời, tới cỡ này cũng còn giấu giếm, tui là vịt, nói thiệt với tui cũng đâu xấu hổ gì, con vịt đổ quạu, mặt càu cạu Tới liếp tràm bông vàng sau hậu vườn, ông ngồi lại, lũ vịt tràn xuống ao rau muống tắm táp Ở đây, bo ba liếp chuối nữa là tới nhà Ở nhà, không biết có còn ai? Lỡ không còn ai… Ông ngồi lại, bồn chồn.” [50, tr.60, 61]

Ở Dòng nhớ, ta lại bắt gặp nỗi niềm của người đàn ông gắn đời mình với sông:

“Ba tôi là người của sông Không phải ông nhớ vườn xưa mà chống gậy về, ông nhớ sông, một ngày ba bốn lượt lủi thủi chống gậy ra bến, đôi mắt như đang nhìn da diết,

mà không biết nhìn ai, chỉ thấy mông mênh vậy thôi Chơ vơ, cô độc Tựa như ông đang ở đây nhưng tâm hồn ông, tấm lòng ông chảy tan vào dòng nước tự lâu rồi.” [50,

tr.124] Sự dung nạp yếu tố trữ tình vào truyện ngắn đã khiến truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư mang đậm tính chất của thơ ca

Chất thơ còn hiện diện trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư qua sự dung nạp yếu tố trữ tình vào truyện ngắn, tạo nên truyện ngắn giàu chất thơ Trong truyện

ngắn Khói trời lộng lẫy, Nguyễn Ngọc Tư đã miêu tả tuổi thơ của cậu bé Phiên đẹp

như một bài thơ:

“Tôi lặng nhìn Phiên đẹp qua tuổi thơ bận rộn của nó Buổi sáng đi dài xóm ngửi mùi khói bếp coi nhà nào có đồ ăn ngon nó sẽ ghé chơi Sau đó tới giờ radio ca

Trang 33

cải lương nó sẽ nghe với Thơ khùng, sẽ đứng một chân hay đứng bằng cả bốn chân tay, tùy hôm đó cả hai là vịt hay chó Ngủ trưa lang chạ ở đâu đó, bất cứ giường nào võng nào của bất cứ ai, thức dậy nó sẽ tới chòi chơi với ông Sáu Trên đường di chuyển giữa chỗ này với chỗ nọ, gặp nhãn lồng chín nó ngoẹo đầu đớp ăn luôn trên cây như chim trao trảo, khỏi phải thò tay hái mắc công Nó thử coi ổi chua hay không cũng bằng cách này, nhá cái răng chó nhọn hoắc lên những trái vẫn đang lủng lẳng trên cành, thấy vừa thì ăn, còn chát sẽ bỏ đó chờ thêm ít bữa Vừa ta bà ăn chơi vừa ngó trời, thấy chuyển mưa nó chạy về nhà giúp tôi gom củi đem cất trong bếp, bắt mấy con gà con vô nhà

Có khi nhìn thằng Phiên nằm ngủ, mấy con gà con cũng khoanh tròn trên bụng

nó, tôi tự hỏi có gì đẹp hơn vậy Có gì đẹp như trẻ con, gà con, như mạ vừa nhú lên, cỏ vừa vượt đất Xanh lấm tấm Xanh chưa thẳm Mong manh.” [55, tr.123, 124]

Những dòng truyện mang vẻ đẹp trong trẻo, hồn nhiên của thế giới trẻ thơ gắn bó với miền đất quê hương mà ta đã không ít lần bắt gặp trong những vần thơ của Giang Nam, Nguyễn Duy hay Đỗ Trung Quân:

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:

“Ai bảo chăn trâu là khổ?”

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao Những ngày trốn học

Đuổi bướm cầu ao

Mẹ bắt được

Chưa đánh roi nào đã khóc!

Có cô bé nhà bên Nhìn tôi cười khúc khích [21]

(Giang Nam, Quê hương) Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá níu váy bà đi chợ Bình Lâm bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật

và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần Thuở nhỏ tôi lên chơi đền Cây Thị chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng [8]

(Nguyễn Duy, Đò Lèn)

Trang 34

Quê hương là gì hở mẹ

Mà cô giáo dạy phải yêu Quê hương là gì hở mẹ

Ai đi xa cũng nhớ nhiều Quê hương là chùm khế ngọt Cho con trèo hái mỗi ngày Quê hương là đường đi học Con về rợp bướm vàng bay Quê hương là con diều biếc Tuổi thơ con thả trên đồng Quê hương là con đò nhỏ

Êm đềm khua nước ven sông Quê hương là cầu tre nhỏ

Mẹ về nón lá nghiêng che

Là hương hoa đồng cỏ nội Bay trong giấc ngủ đêm hè Quê hương là vàng hoa bí

Là hồng tím giậu mồng tơi

Là đỏ đôi bờ dâm bụt Màu hoa sen trắng tinh khôi Quê hương mỗi người chỉ một Như là chỉ một mẹ thôi

Quê hương nếu ai không nhớ [31]

(Đỗ Trung Quân, Bài học đầu cho con)

Tính kịch trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư không phải cái bên ngoài Kịch tính Nguyễn Ngọc Tư xây dựng trong các truyện ngắn không hắt ra bên ngoài của tình huống mà ẩn vào bên trong, cứ thế khoan sâu vào đời sống Nguyễn Ngọc Tư đã tạo ra

sự tương tác, làm mới kịch, mượn kịch nhưng không mượn như bản chất của kịch Bởi kịch bao giờ cũng muốn bộc lộ ra tất thảy mọi xung đột, mà Nguyễn Ngọc Tư lại xoáy sâu vào đời sống tinh thần Điều này không chỉ là sự khác biệt trong truyện ngắn giàu kịch tính của Nguyễn Ngọc Tư với các nhà văn cách chị rất xa như Nguyễn Công Hoan hay Nam Cao mà còn là nét sáng tạo so với cả cây bút nổi bật sau 1986 Nguyễn Huy Thiệp

Trang 35

Cách tổ chức mâu thuẫn, xung đột mà Nguyễn Ngọc Tư xây dựng cho mạch trần thuật khác với Nguyễn Huy Thiệp Cũng là kịch tính, nhưng kịch tính của Nguyễn Huy Thiệp là kịch tính hiển lộ, tức là thường bộc lộ qua hành động bên ngoài của nhân vật, còn kịch tính của Nguyễn Ngọc Tư nằm trong thế giới tinh thần, mâu thuẫn gói trọn vào tâm trạng

Nhân vật “em” trong Vị của lời câm chôn giấu trong lòng tất thảy mọi điều muốn

nói mà không thể thốt thành lời Cả cuộc đời cô đắm chìm trong mùi vị vụn vữa của những câu chữ câm lặng Ngay cả khi phát hiện chồng ngoại tình, cô cũng không thể

nói ra, huống chi là tức giận hay gào thét: “Câu hỏi đó lại vo ve trong đầu khi xe lăn bánh, ngập ngừng không biết có nên gởi anh tin nhắn “Cổ áo anh thường vướng mấy sợi tóc, em đo hoài mà chúng vẫn dài hơn tóc của em Kể cả khi em nuôi tóc dài thì tóc

ấy vẫn dài hơn” Ngậm hai câu cứng đanh ấy không biết bao nhiêu lần, rồi nuốt trộng, lần nào cũng mắc nghẹn muốn nín thở Tối qua cắn nhằm chữ “tóc”, mẻ luôn miếng răng khôn.” [52, tr.108] Mọi mâu thuẫn đáng ra phải gay gắt nhất, mãnh liệt nhất lại

bị chôn sâu vào thinh lặng, ấy vậy mà nỗi đau đớn không thành lời ấy lại dằn vặt nhân vật đến tận cùng, khiến người đọc cũng phải day dứt khôn nguôi

Ở Vực không đáy, Nguyễn Ngọc Tư lại dẫn người đọc đến trước một mâu thuẫn

kì lạ, đủ lớn để khiến một gia đình đổ vỡ, nhưng cũng lại thật tầm thường khi mọi thứ bắt đầu từ những nghi ngờ vô cớ của người chồng vì sĩ diện mà không dám nói ra, rồi

cứ thế nuôi dưỡng trong lòng những vực sâu không thể lấp đầy:

“Liên tục tính nhầm sổ sách, một kế toán trưởng nghiêm cẩn với từng con số như

ba, cảm thấy bất an như vừa nuốt trộng cây đinh cúc vào bụng Giờ thì không thấy đau, nhưng nó sẵn sàng đâm thủng từ bên trong bất cứ lúc nào Ba ước gì con người

ta giống những con số, rạch ròi, chỗ nào không khớp nhau cũng tìm được nguyên do Ngờ ở đâu, sẽ tìm được đáp án ở đó Chúng không mù mịt như câu hỏi, bà già nọ, rốt cuộc có phải là ruột thịt với mẹ không

Những câu hỏi không thành lời khoét thành một lỗ sâu hoắm trong lòng ba, dần rộng như một cái vực nhìn không thấy đáy Ba hay lén dõi theo mẹ, nhiều hơn cả hồi mới cưới, đầu đầy những hình dung mà ba tự thấy là điên rồ nhưng không sao kìm giữ được, người phụ nữ hát khẽ bên trong phòng tắm với con mèo xám canh chừng ngay bên cửa, cô ta có gì đang che giấu không, có cái đuôi nào không, có vết sẹo nào mà ta chưa biết.” [56, tr.12, 13]

Nếu Nguyễn Huy Thiệp tạo kịch tính trên trục hành động, bộc lộ ra bên ngoài, tạo nên những kênh đối thoại mở ra ngoại giới thì Nguyễn Ngọc Tư lại đi vào chiều sâu nội giới, xác thịt, thế giới trong tinh thần, tạo nên những biên độ kịch tính âm

Trang 36

thầm, bùng nổ, chất chứa ngồn ngộn Đó mới là cuộc sống hiện đại với con người hiện đại, gia đình hiện đại, xã hội hiện đại đang đứt gãy, đổ vỡ, bất tín

Có thể khẳng định rằng, viết truyện ngắn với tư duy tiểu thuyết không phải là một hiện tượng mới trong văn học Việt Nam Từ những nhà văn cấp tiến đầu những năm 30 của thế kỷ trước, ta đã bắt gặp những tên tuổi thành công với lối viết này như Nam Cao Nguyễn Ngọc Tư đã kế thừa được điều đó Về hình thức, hình tượng trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư thỏa mãn những đặc trưng của thể loại truyện ngắn Thế nhưng, thế giới bên trong hình tượng đã vượt ra ngoài khung thể loại này Các nhân vật của chị có biểu hiện của con người nếm trải, vốn là bản chất của nhân vật tiểu thuyết Họ va đập với đời sống hằng ngày, dang dở Đó là đời sống tiểu thuyết chảy trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Thử đi sâu vào hình tượng con người cô đơn vốn đã quen thuộc từ trong văn học trung đại, ta nhận ra Nguyễn Ngọc Tư lại có cách xử lý mởi mẻ hơn: vẫn là con người

cô đơn, nhưng không chỉ là cô đơn trong hoàn cảnh Con người cô đơn trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư va chạm ở tính đa chủ thể, đa diện với những mẩu mảnh nội tại, với văn hóa, với xã hội Để rồi qua những cấp bậc hình tượng, người đọc khám phá

ra thế giới tinh thần của nhân vật, của nhà văn, của chính mình, đưa ra những triết lí sống mà qua đó, đối thoại với con người và số phận Đó là cái chưa hoàn kết, chưa kết thúc, tạo những khu vực tiếp xúc để hình tượng được nối dài

“Phi giở cửa lồng, con bìm bịp đập cánh xao xác, đứng niễng đầu nhìn anh buồn lắm, sao anh ngồi đây mà tía tôi đâu? Phi cười buồn bã, ước gì tao biết được bây giờ tía đang ở đâu Tía thấy tao buồn nên để mầy ở lại, nhưng rồi lúc ông già bé nhỏ ấy buồn, ai kêu nước lớn cho ông nghe

Từ đấy, ông già Sáu Đèo chưa một lần trở lại Từ đấy, giữa biển người mênh mông, Phi gặp biết bao nhiêu gương mặt, cùng cười đùa với họ, hát cho họ nghe, cùng chạm ly uống đến say… Nhưng không ai nhắc Phi cắt tóc đi, đàn ông đàn ang ai để tóc dài

Biển người thì mênh mông vậy…” (Biển người mênh mông) [50, tr.110, 111]

Con người cô đơn không còn đơn giản chỉ là hình tượng mà đã được đặt vào những vách ngăn để không chỉ đối thoại với con người cá nhân mà còn hướng tới con người xã hội Khu vực tiếp xúc ở đây tạo đường biên rộng, vượt ra vùng không gian thời gian, không dừng ở quy ước thể loại là khoảnh khắc, lát cắt, chỉ cho người đọc thấy một mặt nào đó của thực tại đời sống mà đã vượt lên, bao trùm ra, rộng hơn cái

mà nó có Đây là bản chất của quá trình xây dựng, xử lý hình tượng trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

Trang 37

Theo dịch chuyển thời gian, trong xử lý hình tượng con người cô đơn, Nguyễn Ngọc Tư vẫn không bằng lòng lặp lại, chị đã tạo ra cho trục hình tượng những phương diện khác phức tạp hơn, đi vào chiều sâu của dòng ý thức, trượt dài hơn trong thế giới của tinh thần Đấy là điều khiến người đọc phải suy ngẫm Sự dịch chuyển của trục hình tượng chứng tỏ thế giới hình tượng, đặc biệt là hình tượng con người trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư có sự vận động chứ không hề tĩnh tại, luôn luôn được mở rộng

ra, mục đích không gì khác ngoài để hấp thụ nhiều hơn chất hiện thực đời sống Con người không đơn giản chỉ là thấy trống rỗng nữa mà họ càng cảm thấy mình nhỏ bé hơn, va chạm nhiều hơn với đời sống hiện thực Bởi trong đời sống hiện thực, không phải lúc nào con người ta cũng có thể nói được với nhau rằng mình đang cô đơn

“Cóc muốn khóc, tội cho cái cảnh tận cùng tuyệt vọng của chị Và tận cùng cô đơn, dù người đàn ông kia có (lại) siết chị vào lòng Cóc mà là anh ta ta, Cóc chỉ ngồi

im lặng, nghe câu chuyện của người bạn nào đó, nghe cái giọng dửng dưng, nhưng che tiếng tim người đang nhói Đàn ông, trong máu có pha chất vô tâm, mà thằng cha này vô tâm hết chỗ nói, tới mức bi kịch “ơ cá kho” là của chị (ví dụ vậy, nghi nghi vậy) thì thằng chả cũng không biết cách nào để an ủi một tấm lòng đau

Ngay cả tình yêu trong chị vừa giãy chết, anh ta cũng không biết, nên tay cứ miết mãi trên da chị, giờ đã lạnh như đồng Mắt chị đã tắt ánh nhìn lấp lánh, cồn lên một chút thất vọng, một chút não nề.” (Một chuyện hẹn hò) [54, tr.114]

Chính các nhân vật vẫn thỏa mãn những mặt cắt, mặt sau của đời sống Bên ngoài như vậy, nhưng bên trong trống rỗng Xã hội hiện đại là như thế Nguyễn Ngọc

Tư đã bắt đầu chạm tới những biểu hiện hậu hiện đại: đổ vỡ, bất tín, phi trung tâm Đấy là quy luật tất yếu Càng về sau, truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư càng đẩy con người vào sự phân rã Tác giả tạo sự cân bằng cho thế giới nhân vật, đôi lúc không phân chia nhân vật chính và nhân vật phụ, các nhân vật đều ngang nhau Nhân vật có lúc chỉ xuất hiện phút chốc cũng đủ ám ảnh người đọc Đây chính là sự dịch chuyển

mà Nguyễn Ngọc Tư đã tạo ra cho trục hình tượng

Tư duy nghệ thuật Nguyễn Ngọc Tư không chỉ vắt sang nhịp hiện đại mà còn thỏa mãn cho cái đương đại, tức là đi vào nhiều hơn những mặt khuất lấp ở phía sau của đời sống Tác giả đưa vào truyện ngắn những giấc mơ xa hơn trong dòng ý thức, cho kí ức của nhân vật sống ở trong đó Điều này thỏa mãn nhiều hơn cho chất hiện thực Bởi trong đời sống, không phải lúc nào con người cũng giải quyết được tất thảy mọi thứ trong hiện thực

Nguyễn Ngọc Tư bắt đầu truyện ngắn Áo đỏ bắt đèn với lời khẳng định đây là một giấc mơ: “Nhìn cảnh biết là chiêm bao.” [52, tr.41] Dọc theo câu chuyện, ngay

Trang 38

cả nhân vật Phước cũng tự ý thức rõ ràng hơn cả về giấc mơ này: “Cảnh này thì đúng

là chiêm bao Hoang đường đến day dứt Cái lần thấy vía ngồi trên cầu vồng ăn mây cũng không day dứt bằng.” [52, tr.42], “Chiêm bao hoang đường hơn cả giấc mơ đứng dưới cái cây thân bằng sữa bò, mỗi lá là một miếng thịt nướng.” [52, tr.44] Để rồi khi kết thúc, dẫu “Biết là mơ Biết là khi thức dậy sẽ thấy trần nhà dày mạng nhện, vài con thằn lằn nhơ nhởn, hay bậy nhằm chân mình.” [52, tr.46], nhưng con người

vẫn không thôi thổn thức và khát khao tất thảy những ấm áp, đủ đầy có trong giấc mơ

đó và chỉ có thể có trong giấc mơ đó mà thôi

Đưa ra những giấc mơ như vậy, Nguyễn Ngọc Tư muốn mượn cái ảo hóa để chở cái hiện thực Chính bởi xã hội hôm nay tạo nên những áp lực khiến con người không thể tìm được sự thỏa mãn trong thực tại nên phải mượn cái kì ảo Vì thế, hình tượng trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư còn có sự ảo hóa Tác giả đã mượn cái thực và phi thực trong trục hư cấu để đạt đến trình độ cao hơn trong việc khắc họa thế giới con người Bởi khi bước vào những giấc mơ, gặp gỡ các trục của dân gian, cổ tích, ta sẽ thấy rõ nét hơn cả những khát vọng của con người hiện đại

Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư hấp thụ được nhiều chất hiện thực như vậy chính nhờ tư duy của tiểu thuyết: không chỉ dừng lại ở chất miệt vườn Cà Mau, ở vùng sông nước Tây Nam Bộ mà đã vượt ra xa ở mọi nơi, mọi miền đất khác Đó là cuộc đời, là ước mơ của con người Chị chỉ mượn bối cảnh để làm nền cho khung truyện kể, vì thực chất, ở bên trong đó lại là hiện thực mà nói theo ý nhà phê bình Lê Ngọc Trà: hiện thực không phải là cái được phản ánh, hiện thực là cái được suy ngẫm, là cái mà

ta phải nghiền ngẫm Hình tượng phải khiến người đọc suy tư, thậm chí là ám thị, tức

là trở đi trở lại với nó Trục hình tượng như thế, thế giới nhân vật như thế mới có sự vẫy gọi, tức là đã thỏa mãn cho khu vực tiếp xúc của hiện thực được nới rộng ra xa hơn Biểu hiện bề ngoài là nhân vật truyện ngắn nhưng bên trong là con người của tiểu thuyết Tuy nhiên, vẫn phải khẳng định rằng, đó không phải là nhân vật tiểu thuyết, vì tác giả vẫn đặt nó vào những khoảnh khắc, lát cắt chứ không tái hiện liên tục, liền mạch Nhân vật vẫn thỏa mãn yêu cầu của truyện ngắn, tức là lược bớt đi, nhảy cóc, bỏ qua những điều “dư thừa” dù chỉ là cắt đứt “cơ học”, còn thực chất bên trong đã gợi

mở cả một quá trình Nguyễn Ngọc Tư chỉ gợi để người đọc tự tạo truyện cho mình

Do vậy, mỗi một tình huống hay chi tiết của Nguyễn Ngọc Tư là những chi tiết nghệ thuật có khả năng tạo truyện rất lớn, để người đọc tự tưởng tượng ra bằng trải nghiệm của chính bản thân Lối viết truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư vì thế mà đầy sức gợi, ngay cả hình tượng cũng chỉ gợi chứ không thỏa mãn tất thảy như hình tượng tiểu thuyết Đó là cái dang dở, mà dang dở mới là hiện thực

Trang 39

Lê Huy Bắc cho rằng: “Thời hiện đại, tiểu thuyết có xu thế nghiêng về truyện ngắn bởi nó ngắn về dung lượng, ít nhân vật, thời gian và không gian không có quy

mô lớn,… còn truyện ngắn thì cố mở rộng phạm vi về phía tiểu thuyết […] Chính sự xóa mờ ranh giới thể loại mà càng về cuối thế kỷ XX càng diễn ra mãnh liệt và truyện ngắn ngày càng chiếm ưu thế.” [20, tr.526]

Trong gia tài truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư, có rất nhiều truyện ngắn co rút tối đa về mặt dung lượng, chạm đến ngưỡng cửa của truyện ngắn mini với chỉ vài ba trang truyện cho một tác phẩm Bên cạnh đó, một vài truyện ngắn lại căng kéo câu chữ đến vài mươi trang sách, cố sức ôm trọn mọi góc nẻo của cuộc sống rộng lớn nơi thực tại để biến thế giới bên trong truyện ngắn trở nên mênh mông như một tiểu thuyết:

Cánh đồng bất tận với 59 trang, Gió lẻ với 48 trang, Khói trời lộng lẫy với 54 trang, Đất với 53 trang và Vào ngày linh ái nở với 42 trang truyện Nếu những truyện ngắn

rất ngắn của Nguyễn Ngọc Tư mượn tính tiểu thuyết ở khả năng tái hiện cả một kiếp người bằng những điểm cô đọng trên mặt phẳng cuộc đời thì những truyện ngắn rất dài của Nguyễn Ngọc Tư lại tiệm cận thể loại tiểu thuyết bằng cả những phương thức, phương tiện đặc trưng chỉ có ở thể loại không hạn định về câu chữ này

Truyện ngắn Mộ gió chỉ vỏn vẹn hơn 4 trang truyện Truyện bắt đầu từ lúc: “Hồi

ấy chị lên mười ba, em nhỏ hơn hai tuổi Mười bảy tháng Mười năm đó, ba má đi đám giỗ, để hai chị em lại nhà.” [55, tr.55] cho đến khi “chị phải về sụp xuống trước bàn thờ” ba má, “lưng khum khum như một ngôi mộ” [55, tr.59] Cả cuộc đời của “chị”

chỉ được Nguyễn Ngọc Tư miêu tả từ lúc em trai biến mất đến khi em trai trở về, không rõ là bao nhiêu ngày giờ, bao nhiêu năm tháng; chỉ biết rằng chừng ấy thời gian

đã đủ cho cả một đời người: một đời người không biết đến niềm vui, không bao giờ dám mơ về hạnh phúc khi bị mặc định trong tội lỗi tày trời đã đánh mất em trai, đã tạo thành mất mát tột cùng cho gia đình, đã gieo rắc nỗi đau đớn khôn kể vào lòng ba má

Để rồi lúc tuổi có lẽ vẫn còn xanh nhưng “chị” đã chôn mình xuống mộ, biến thành ngôi mộ gió chẳng cần truy điệu một thân xác cũng đủ để ai điếu một kiếp người Đó

là biểu hiện của chất tiểu thuyết khiến những truyện ngắn rất ngắn của Nguyễn Ngọc

Tư có sức dung chứa không biên giới của một tiểu thuyết trường thiên

Một trong những biểu hiện của chất tiểu thuyết là ở sự xâm lấn của những

phương diện kỹ thuật mà thông thường chỉ có trong tiểu thuyết, mà Cánh đồng bất tận là một truyện ngắn thể hiện tính chất này rất rõ nét Khảo sát Cánh đồng bất tận

trên các phương diện vốn dĩ có thế mạnh trong một tác phẩm tiểu thuyết như kỹ thuật

di chuyển điểm nhìn trần thuật, kỹ thuật lắp ghép lồng truyện và kỹ thuật phân tích

Trang 40

tâm lý, độc thoại nội tâm sẽ thấy được chất tiểu thuyết trong tác phẩm của cây bút nữ trẻ này

Cánh đồng bất tận không phải là tác phẩm có kiểu kết cấu nhân vật đa tuyến (vì

số lượng nhân vật trong tác phẩm không nhiều với sự hiện diện của bốn nhân vật chính

là Nương, Điền, Út Vũ, Sương) nhưng tác phẩm có sự tồn tại của 3 cấu trúc tự sự song song: cấu trúc theo trật tự nhân quả, cấu trúc theo trật tự thời gian tuyến tính và cấu trúc theo dòng chảy tâm lý nhân vật Truyện song hành hai hệ thống cốt truyện là cốt truyện sự kiện và cốt truyện tâm lý Tuy nhiên, trật tự thời gian tuyến tính không được xây dựng trên một trục ngang với diễn trình rành mạch theo các lớp lang mà còn có sự đan xen bởi diễn biến nội tâm của nhân vật Chính sự đan bện này làm cho tác phẩm vừa mang tính chất của một kết cấu đa tầng nhưng đồng thời lại có sự phân rã cốt truyện Truyện ngắn có sự hiện diện của dòng chảy tâm lý nhân vật và người viết đã khai thác khá thành công khả năng phân tích, miêu tả tâm lý nhân vật với dòng chảy đan xen giữa quá khứ và hiện tại, hiện thực và suy tưởng

Trong truyện ngắn Cánh đồng bất tận, độc thoại nội tâm cũng là phương diện đáng chú ý Xen lẫn với lời kể của Nương - nhân vật xưng “tôi” trong Cánh đồng bất tận là những đoạn độc thoại: “Suốt những tháng năm sống tù đọng trên đồng, tôi có biết ai ngoài những người đàn ông quê mùa cũ kỹ Tôi biết lấy ai trong số đó?” [50,

tr.207] Không ít lần nhân vật Nương đã đặt mình trong những trạng huống cụ thể với những đợt sóng nội tâm, những suy nghĩ và trăn trở về kiếp người, về cuộc sống của chính mình và những người trong gia đình mình Ở khía cạnh này, bên cạnh việc tạo dựng một không gian hiện thực qua ngôn ngữ của người trần thuật là khả năng “chiếu sáng nội tâm” của nhân vật bằng ngôn ngữ độc thoại Nhân vật được soi chiếu từ bình diện con người bên trong với nhiều xúc cảm và ý nghĩ

Kỹ thuật phối hợp độ căng chùng trong tiết tấu nhịp điệu - một đặc điểm của tiểu thuyết - được Nguyễn Ngọc Tư vận dụng đến tối đa khiến cho người đọc khi đọc tác phẩm còn có cảm giác như đang được xem một cuốn phim quay chậm, ở đó có sự chồng xếp giữa những xen ngoại cảnh và xen tâm trạng Sự điều tiết nhịp điệu trần thuật, ở đây là sự hòa phối giữa nhịp điệu trần thuật chậm rãi, trầm tĩnh trong tiểu thuyết và nhịp điệu nhanh, đột ngột, thường đẩy đến cao trào rồi kết thúc trong truyện ngắn, đã làm cho chất tiểu thuyết trong truyện ngắn này được thể hiện rõ nét

Tiểu kết:

Có thể thấy rằng, Nguyễn Ngọc Tư đã có sự kế thừa những thành tựu về tương tác thể loại trong văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt là những đổi mới mạnh mẽ và sâu sắc ở thể loại truyện ngắn sau 1986 Trên bức phông nền tương tác thể loại của thế

Ngày đăng: 31/05/2022, 11:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm