Trong nhiều năm qua, Nhà nước cũng đã tổ chức rất nhiều hoạt động để đưa pháp luật vào thực tiễn hoạt động của sinh viên như thiết kế giảng dạy học phần pháp luật đại cương, tổ chức các
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN NGUYÊN CA SA
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - KẾ TOÁN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
ĐÀ NẴNG – 2021
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN NGUYÊN CA SA
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - KẾ TOÁN
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 8.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS CHÂU VĂN LƯƠNG
ĐÀ NẴNG - 2021
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
TÓM TẮT ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Giả thuyết nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
8 Cấu trúc của đề tài luận văn 4
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 5
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 6
1.2 Các khái niệm chính của đề tài 10
1.2.1 Quản lý giáo dục 10
1.2.2 Pháp luật, giáo dục pháp luật 13
1.3 Hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên trường Đại học 15
1.3.1 Mục tiêu của hoạt động giáo dục pháp luật 15
1.3.2 Hình thức của hoạt động giáo dục pháp luật 17
1.3.3 Các chủ thể tham gia hoạt động giáo dục pháp luật 18
1.3.4 Nội dung hoạt động giáo dục pháp luật 19
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên trường Đại học 21
1.4.1 Quản lý mục tiêu của hoạt động giáo dục pháp luật 21
1.4.2 Quản lý nội dung hoạt động giáo dục pháp luật 22
1.4.3 Quản lý hình thức hoạt động giáo dục pháp luật 23
1.4.4 Quản lý đối tượng được giáo dục pháp luật 23
1.4.5 Quản lý chủ thể tổ chức hoạt động giáo dục pháp luật 24
Trang 71.4.6 Quản lý kiểm tra, đánh giá về hoạt động giáo dục pháp luật 25
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên trường Đại học 26
1.5.1 Nhóm các yếu tố chủ quan 26
1.5.2 Nhóm các yếu tố khách quan 27
Tiểu kết Chương 1 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - KẾ TOÁN 30
2.1 Giới thiệu về quá trình khảo sát 30
2.1.1 Mục tiêu khảo sát 30
2.1.2 Nội dung khảo sát 30
2.1.3 Phương pháp khảo sát 30
2.1.4 Tổ chức khảo sát 30
2.2 Khái quát về chương trình đào tạo có liên quan đến hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Tài chính - Kế toán 31
2.2.1 Giới thiệu tổng quan về Trường Đại học Tài chính - Kế toán 31
2.2.2 Tổng quan về chương trình đào tạo của các chuyên ngành có liên quan đến hoạt động giáo dục pháp luật 33
2.3 Thực tiễn quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Tài chính - Kế toán 34
2.3.1 Quản lý mục tiêu của hoạt động giáo dục pháp luật 34
2.3.2 Quản lý nội dung hoạt động giáo dục pháp luật 37
2.3.3 Quản lý hình thức hoạt động giáo dục pháp luật 39
2.3.4 Quản lý đối tượng được giáo dục pháp luật 42
2.3.5 Quản lý chủ thể tổ chức hoạt động giáo dục pháp luật 43
2.3.6 Quản lý kiểm tra, đánh giá về hoạt động giáo dục pháp luật 45
2.4 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Tài chính - Kế toán 48
2.4.1 Nhóm các yếu tố chủ quan 48
2.4.2 Nhóm các yếu tố khách quan 49
2.5 Đánh giá chung về quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Tài chính - Kế toán 50
2.5.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân 50
2.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân 53
Tiểu kết Chương 2 58
Trang 8CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP
LUẬT CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH - KẾ TOÁN 59
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 59
3.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu 59
3.1.2 Đảm bảo tính đồng bộ 59
3.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả 59
3.1.4 Đảm bảo tính khả thi 60
3.2 Các biện pháp về quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Tài chính - Kế toán 60
3.2.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên, cán bộ quản lý 60
3.2.2 Xây dựng, thành lập Ban chỉ đạo về công tác giáo dục pháp luật cho sinh viên 66
3.2.3 Chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên 69
3.2.4 Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên 73
3.2.5 Đảm bảo các điều kiện cho quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên 75
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 78
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 81
3.4.1 Mô tả quá trình khảo nghiệm 81
3.4.2 Kết quả khảo nghiệm 82
Tiểu kết Chương 3 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90 PHỤ LỤC
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
Trang 102.6 Đánh giá về các nội dung của hoạt động GDPL 43 2.7 Kết quả quản lý chủ thể tổ chức hoạt động GDPL 45 2.8 Kết quả quản lý kiểm tra, đánh giá về hoạt động GDPL 46 2.9 Kết quả thực trạng quản lý hoạt động GDPL 47 2.10 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDPL 48 2.11 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDPL 49 2.12 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDPL 57 3.1 Kết quả giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động GDPL 80 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết của biện pháp 82
3.3 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của biện pháp 83
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục pháp luật luôn giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội và trong công cuộc đổi mới hiện nay của đất nước ta Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng khẳng
định “Triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật, huy động lực
lượng của đoàn thể chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng tham gia các cuộc vận động thiết lập trật tự kỷ cương và các hoạt động thường xuyên trong xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật” [9] Giáo dục pháp luật có vai trò
hết sức quan trọng, nó tác động trực tiếp đến ý thức con người, trong đó cũng phải đề cập đến sinh viên, để góp phần nâng cao ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý cho họ Giáo dục pháp luật là một trong những khâu, những mắt xích có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Đồng thời, cũng là yêu cầu
khách quan, phù hợp với mục tiêu của giáo dục toàn diện“Mục tiêu giáo dục nhằm
phát triển toàn diện con người Việt Nam có đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm
mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phát huy tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế” [28]
Trong nhiều năm qua, Nhà nước cũng đã tổ chức rất nhiều hoạt động để đưa pháp luật vào thực tiễn hoạt động của sinh viên như thiết kế giảng dạy học phần pháp luật đại cương, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về pháp luật, các buổi tuyên truyền pháp luật và cũng đã ban hành Luật Phổ biến và giáo dục pháp luật năm 2012 quy định
“Căn cứ vào nội dung, hình thức giáo dục pháp luật ở từng cấp học và trình độ đào tạo, các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân có trách nhiệm tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật, bố trí giáo viên dạy môn giáo dục công dân, giáo viên, giảng viên dạy pháp luật theo quy định của pháp luật; Phối hợp với gia đình và xã hội thực hiện mục tiêu giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân” [27] Thực tế, sự thiếu hiểu biết về pháp luật sẽ dẫn đến tình trạng vi phạm pháp
luật, nhiều nơi kể cả trong môi trường học đường Theo thống kê của Bộ Giáo dục và
Đào tạo cho thấy“Trung bình trong một năm học, trên cả nước xảy ra gần 1.600 vụ
học sinh đánh nhau ở trong hoặc ngoài trường học (khoảng năm vụ/ngày), trong giai đoạn 2010-2019, có gần 8.000 học sinh, sinh viên vì đánh nhau bị xử lý kỷ luật So với
10 năm trước, số vụ bạo hành tại trường học tăng gấp 13 lần” [19], đồng thời theo
khảo sát của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao công bố trên các phương tiện truyền
Trang 13thông cũng khiến nhiều người giật mình “Trung bình mỗi năm có 10.000 vụ phạm
pháp hình sự do người vị thành niên thực hiện; Đáng ngại hơn, tỷ lệ người vi phạm pháp luật dưới 18 tuổi chiếm 8% số vụ vi phạm” [19]
Xuất phát từ tầm quan trọng của hoạt động giáo dục pháp luật, Trường Đại học Tài chính - Kế toán cũng đã tổ chức rất nhiều hoạt động giáo dục pháp luật và cũng đã giao nhiệm vụ quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho một số đơn vị của trường như phòng Quản lý Đào tạo, phòng Công tác sinh viên và Khoa Luật Kinh tế Vì vậy, sinh viên của Trường luôn tiếp cận được sự thay đổi pháp luật, tư vấn pháp luật, định hướng tìm hiểu và nghiên cứu pháp luật, tuy nhiên, sinh viên học tại Trường chủ yếu
là người địa phương, chịu ảnh hưởng yếu tố văn hóa nông nghiệp nên còn rất thụ động, hạn chế về ý thức tham gia các hoạt động giáo dục pháp luật; đồng thời, lực lượng làm công tác quản lý hoạt động giáo dục pháp luật vì làm kiêm nhiệm nên nảy sinh quá tải trong công việc và rất ít chú trọng đến công tác này
Xã hội ngày càng phát triển kéo theo tình trạng vi phạm pháp luật tại trường học ngày càng trở thành vấn nạn đáng báo động, phản ánh hạn chế trong nhận thức, hiểu biết pháp luật của một bộ phận giới trẻ, trong đó có sinh viên Bởi vậy, việc trang bị cho sinh viên những kiến thức, hiểu biết pháp luật là yêu cầu cấp thiết, để có thể tự bảo
vệ mình và người thân, tạo chuyển biến về mặt nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật Đồng thời, cần phải có sự quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên một cách tích cực, hiệu quả từ chủ thể quản lý nhằm góp phần chung tay xây dựng một xã hội
văn minh là vô cùng quan trọng Do đó, tác giả luận văn chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Tài chính - Kế toán” để thực
hiện luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục của mình và kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần vào việc tăng cường việc tham gia hoạt động giáo dục pháp luật của sinh viên và đặc biệt, nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho
sinh viên tại Trường Đại học Tài chính - Kế toán
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên trường Đại học Tài chính - Kế toán, luận văn đề xuất biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên của Nhà trường và ý thức thực hiện pháp luật của sinh viên
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên
trường Đại học Tài chính - Kế toán
Khách thể nghiên cứu: Hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên trường Đại
học
Trang 144 Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn, tác giả tập trung phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian nghiên cứu: từ năm 2016 đến năm 2020
- Về không gian nghiên cứu và khảo sát: Trường Đại học Tài chính - Kế toán
- Chủ thể quản lý hoạt động giáo dục pháp luật: chủ thể trực tiếp là Hiệu trưởng; các chủ thể khác với tư cách tham gia tư vấn, tham mưu cho Hiệu trưởng bao gồm: các thành viên Ban Giám hiệu, phòng Quản lý Đào tạo, phòng Công tác sinh viên và Khoa Luật Kinh tế
5 Giả thuyết nghiên cứu
Trong thời gian qua, quản lý hoạt động GDPL cho SV trường Đại học Tài chính -
Kế toán đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục Quản lý hoạt động GDPL cho SV trường Đại học Tài chính - Kế toán sẽ đạt hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của xã hội nếu tăng cường thực hiện đồng bộ các giải pháp như tác động nhận thức của chủ thể quản lý, xây dựng, thành lập Ban chỉ đạo về công tác GDPL cho SV, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá quản lý hoạt động GDPL cho SV và đảm bảo các điều kiện thực hiện
6 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận bao gồm: Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu; Phương pháp phân loại, khái quát hóa, hệ thống hoá, cụ thể hóa các tài liệu nhằm cấu trúc các vấn đề về lý luận có liên quan đến đề tài, các văn kiện về đường lối, chính sách, pháp luật về giáo dục, giáo dục pháp luật của Đảng và Nhà nước hiện hành, trên cơ sở đó để hình thành cơ sở lý luận của luận văn Thu thập và phân tích, tổng hợp các tài liệu có liên quan đến mô hình quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên đang được áp dụng tại Trường Đại học Tài chính - Kế toán và các công trình nghiên cứu trong nước cũng như nước ngoài có liên quan đến đề tài để xây dựng cơ sở cho phù hợp với lý luận và các giải pháp
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra; Phương pháp tổng kết kinh nghiệm; Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động; Phương pháp lấy
ý kiến chuyên gia
- Nhóm phương pháp bổ trợ: phương pháp toán thống kê, sử dụng phần mềm
SPSS để xử lý số liệu và đưa ra kết luận từ kết quả thu được
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt lý luận: Luận văn góp phần sáng tỏ những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên sẽ làm căn cứ cho những nghiên cứu tiếp theo liên quan đến quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên Đại học và tăng
Trang 15cường hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên Đại học
Về mặt thực tiễn: kết quả phân tích thực trạng quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Tài chính - Kế toán để đề xuất các biện pháp đưa ra trong luận văn cũng như làm căn cứ thực tiễn cho các nghiên cứu khác nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Tài chính
- Kế toán; các biện pháp xác định trong luận văn có giá trị ứng dụng để quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên Trường Đại học Tài chính - Kế toán
Kết quả nghiên cứu của luận văn, có thể làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản
lý và giảng viên, nhân viên của Trường Đại học Tài chính - Kế toán để quản lý và thực thi có hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên trong thời
gian tới
8 Cấu trúc của đề tài luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung Luận văn được kết cấu gồm 03 chương như sau:
Chương 1: Lý luận về quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên trường
Đại học
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên trường
Đại học Tài chính - Kế toán
Chương 3: Biện pháp về quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên
trường Đại học Tài chính - Kế toán
Trang 16CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Giáo dục pháp luật (GDPL) luôn giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, là cầu nối để đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần hình thành, nâng cao kiến thức, kỹ năng pháp luật cho công dân Trong đó, phải đề cập đến lực lượng xã hội đông đảo đó chính là sinh viên (SV), một nguồn nhân lực dồi dào cho sự phát triển của quốc gia và việc nâng cao GDPL cho SV trường Đại học để tạo điều kiện cho SV phát triển toàn diện, có ý thức trách nhiệm công dân, hiểu biết và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật được nhiều quốc gia, tổ chức, nhà khoa học quan tâm Liên quan đến quản lý hoạt động GDPL cho SV trường Đại học có thể đề cập một số công trình cụ thể sau:
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Thứ nhất, các nghiên cứu về GDPL cho SV
Công trình của tác giả Kan Wei nghiên cứu so sánh GDPL giữa Trung Quốc và Anh cho thấy có sự khác nhau về nội dung, phương pháp GDPL cho học sinh, SV vì
sự ảnh hưởng từ yếu tố văn hóa, trong đó, giáo viên của Trung Quốc tập trung truyền tải kiến thức và kỹ năng pháp luật; còn giáo viên của Anh tập trung nội dung các giá trị pháp luật Theo quan điểm của tác giả luận văn, bên cạnh việc cung cấp thông tin pháp luật, cần phải cho SV thấy được giá trị pháp luật đem lại trong cuộc sống hằng ngày để từ đó hình thành ý thức chấp hành pháp luật và các kỹ năng pháp luật đối với việc giải quyết các tình huống mà bản thân, gia đình đối mặt [57]
Ngoài ra, tác giả Choguill, Marisa B.G chủ yếu nghiên cứu về GDPL cho học sinh phổ thông, thông qua việc phân tích đặc điểm tâm sinh lý, các yếu tố ảnh hưởng
để xây dựng mô hình và điều kiện GDPL; đồng thời, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp thay đổi phương pháp, hình thức giảng dạy, học tập các nội dung pháp luật cho phù hợp Những nội dung này tác giả luận văn tiếp tục nghiên cứu ứng dụng trong công trình nghiên cứu của mình [54]
Thứ hai, các nghiên cứu về sự tham gia đối với hoạt động GDPL cho SV
Theo quan điểm nghiên cứu của tác giả Cotton Kathleen [52] hay Marie DeLuci [49], hoạt động GDPL cần có sự tham gia của cha mẹ, cộng đồng thông qua việc giúp
đỡ con cái trong học tập, tham gia vào quá trình đào tạo của con để định hướng hình thành tính cách, cùng nhà trường thiết lập kế hoạch giáo dục có hiệu quả
Ngoài ra, cũng có thể kể đến các tác giả Ann Dykman, David R.Mandel
“Building a new model educating career and technical education teachers, 2000”
Trang 17(Tạm dịch là: Xây dựng một mô hình mới về giáo dục nghề nghiệp và kỹ năng giáo
dục của giáo viên) [50] hay tác giả Chun Gyun Jung“Vocational Training system in
Korea, 2001” (Tạm dịch là: Hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở Hàn Quốc) cần có sự
phối hợp, cộng tác giữa gia đình, doanh nghiệp, cộng đồng với trường Đại học [51] Nhìn một cách tổng thể, các công trình nghiên cứu này đánh giá cao sự tham gia của các tác nhân bên ngoài như gia đình, doanh nghiệp, cộng đồng đối với các hoạt động của trường Đại học trong giáo dục, kể cả GDPL Tuy nhiên, việc tham gia của họ cũng còn mang tính chất hạn chế và vì vậy, cần nghiên cứu một số biện pháp để kích thích họ tham gia tích cực đối với các hoạt động của trường Đại học, góp phần nâng cao hiệu quả học tập của SV
Thứ ba, các nghiên cứu về quản lý hoạt động GDPL cho SV trường Đại học
Công trình“Legal Education in Asia, Globalization, Change and Contexts” của
tác giả Stacey Steele, Kathryn Taylor (Tạm dịch là: Giáo dục pháp luật ở Châu Á, toàn cầu hóa, thay đổi và bối cảnh) nghiên cứu về tình hình GDPL, quản lý hoạt động GDPL trong trường học nói chung và trường Đại học nói riêng tại một số nước Châu Á; trên cơ sở đánh giá, nhận định về bối cảnh cần thay đổi và xây dựng một số quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường hoạt động GDPL, quản lý hoạt động GDPL trong bối cảnh toàn cầu hóa [55]
Theo công trình nghiên cứu của Hội đồng giáo dục pháp luật của trường Kenya
“2009-2012 Strategic Plan” (Tạm dịch là: Kế hoạch chiến lược giai đoạn 2009-2012)
đã đánh giá tổng quan hoạt động GDPL tại trường Kenya giai đoạn 2007- 2009, phân tích các yếu tố ảnh hưởng bên trong và bên ngoài, các yếu tố tham gia trong hoạt động GDPL trong nhà trường nói chung, trường Đại học nói riêng; đồng thời cũng đánh giá các nội dung để thực hiện chiến lược GDPL như cơ cấu tổ chức, cơ sở vật chất, đội ngũ tổ chức thực hiện, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động GDPL Trên cơ sở
đó, Hội đồng giáo dục pháp luật đề xuất một số vấn đề về chiến lược giai đoạn 2009
-2012 đối với hoạt động GDPL tại trường Kenya [56]
Nhóm tác giả Lisbeth Lundahh và Theodor Sander trong công trình“Vocational
Education anh training in Germany and Sweden” (Tạm dịch là: Giáo dục và đào tạo ở
Đức và Thụy Điển) đề xuất giải pháp về quản lý hoạt động GDPL đó là hệ thống các giải pháp về sự liên kết giữa doanh nghiệp với nhà trường [53]
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Thứ nhất, các nghiên cứu về GDPL cho SV
Nghiên cứu về GDPL nói chung đã được nhiều tác giả quan tâm từ những năm
80, 90 thế kỷ XX hình thành nhận thức bước đầu về mục tiêu, yêu cầu, nội dung và một số hình thức GDPL ở Việt Nam Trong thời gian gần đây có một số công trình tạo
Trang 18bước chuyển mạnh về cơ sở lý luận, thực tiễn về GDPL, điển hình nghiên cứu của tác
giả Trần Ngọc Đường và Dương Thị Thanh Mai “Bàn về giáo dục pháp luật” cung
cấp một số lý luận cơ bản về GDPL, tạo nguồn dữ liệu cho các nghiên cứu chuyên sâu
về GDPL đối với SV [10] Hay tác giả Tống Đức Thảo trong công trình nghiên cứu
“Giáo dục góp phần nâng cao ý thức và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật” bàn luận về vai
trò của GDPL đối với việc hình thành và nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân và đặc điểm cơ bản của ý thức pháp luật [31, tr.26-32]
Một số nghiên cứu về GDPL cho SV, có thể bàn đến công trình khoa học của Đinh Xuân Thảo nghiên cứu về GDPL bậc đại học, đào tạo nghề với các nội dung tìm hiểu thực trạng hiểu biết về pháp luật, thực hiện pháp luật, tình hình GDPL tại trường đại học và cơ sở nghề [30] Tác giả Phan Hồng Dương nghiên cứu về lý luận GDPL cho SV các trường Đại học không chuyên luật ở Việt Nam, đánh giá thực trạng GDPL cho SV, trên cơ sở đó xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng GDPL cho SV các trường Đại học không chuyên luật [8] Đồng thời, cũng có công trình nghiên cứu
của Lê Thành Nhân“Giáo dục pháp luật cho sinh viên từ thực tiễn các trường Đại
học, cao đẳng của tỉnh Bình Định”[22] hay nghiên cứu của Trần Ngọc Minh “Giáo dục pháp luật cho sinh viên từ thực tiễn các trường cao đẳng của tỉnh Bình Dương”
[21] hệ thống những vấn đề lý luận về GDPL cho SV ở Việt Nam, đánh giá thực trạng GDPL cho SV tại các trường Đại học, cao đẳng trên địa bàn tỉnh Bình Định, Bình Dương và đề xuất một số giải pháp từ thực tiễn
Ngoài ra, đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý“Giáo
dục pháp luật trong các trường không chuyên luật” với một số nội dung về nâng cao
nhận thức, hiểu biết pháp luật của cán bộ giáo viên, học sinh, SV và đề xuất thay đổi chương trình GDPL theo hướng giảm tải lý thuyết, tăng kiến thức thực tiễn Tuy nhiên,
đề tài này chủ yếu tập trung đối với học sinh, chưa chuyên sâu nghiên cứu đối với SV, chưa thiết kế mô hình GDPL gắn với hoạt động chính khóa, ngoại khóa [45]
Thứ hai, các nghiên cứu về sự tham gia đối với hoạt động GDPL cho SV
Tác giả Đinh Xuân Thảo nhấn mạnh việc đổi mới quan điểm, nhận thức về GDPL của nhà trường, xác định hình thức, phương pháp phù hợp với từng đối tượng, các loại hình trường lớp cụ thể; đổi mới và hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện GDPL trong các trường Đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề Sự tham gia đối với hoạt động GDPL, ngoài SV thì cần có vai trò của nhà trường, đội ngũ cán bộ làm công tác GDPL, các tác nhân bên ngoài và chương trình GDPL, qua đó, tác giả nhấn mạnh
về việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác GDPL Điều này, thật sự quan trọng, lực lượng này chính là người truyền tải kiến thức pháp luật, hướng dẫn kỹ năng
và ứng xử tình huống cho SV, một khi không nắm bắt kịp thời chính sách pháp luật thì
Trang 19hoạt động GDPL sẽ kém hiệu quả [30]
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý tập trung nghiên cứu chuyên sâu về ý nghĩa của GDPL, môn học giáo dục công dân đối với việc hình thành nhân cách công dân cho học sinh, SV; đồng thời, qua đó đề cập vai một số hình thức tổ chức chương trình ngoại khóa và chính khóa và như vậy, cần có sự tham gia của các cá nhân, tổ chức bên ngoài cùng với nhà trường đối với hoạt động GDPL cho học sinh, SV [45]
Với nghiên cứu của tác giả Lê Thành Nhân [22] hay nghiên cứu của tác giả Trần Ngọc Minh [21] cho rằng chủ thể làm công tác GDPL trong các trường Đại học, cao đẳng rất đa dạng, đó là những cán bộ làm công tác quản lý, giảng viên, những người làm công tác phổ biến pháp luật; chủ thể bên ngoài là các cơ quan quản lý chuyên ngành, các Sở, Ban, Ngành trong ngành giáo dục; trong đó, khẳng định chủ thể có vai trò quan trọng nhất, chủ yếu nhất trong hoạt động GDPL cho SV tại các trường Đại học, cao đẳng chính là những giảng viên giảng dạy pháp luật, tác giả luận văn đồng thuận với quan điểm này vì đây là lực lượng tiếp xúc, có nhiều thời gian để GDPL cho
SV thông qua các môn học về pháp luật
Ngoài ra, cũng phải đề cập đến một số nghiên cứu đăng trên các tạp chí của Nguyễn Tất Viễn [46], Phạm Kim Dung [7, tr.71 -75], giới thiệu quá trình GDPL trong nhà trường từ đổi mới tư duy đến hoạt động thực tiễn gắn liền với chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước và đặt ra một số vấn đề về sự tham gia đối với hoạt động GDPL
Về tổng quát, các tác giả đánh giá các tác nhân tham gia vào GDPL cho SV bao gồm các nhà trường, tổ chức, cá nhân và nội dung chương trình, phương pháp, hình thức GPDL, đồng thời nhận định về vai trò quan trọng của giảng viên giảng dạy pháp luật trong hoạt động GDPL
Thứ ba, các nghiên cứu về quản lý hoạt động GDPL cho SV trường Đại học
Theo nghiên cứu của tác giả Vũ Thúy Hường “Quản lý hoạt động giáo dục pháp
luật theo định hướng phát triển năng lực cho sinh viên trường Đại học Thủ đô Hà Nội” chú trọng tính tích cực hóa người học về các hoạt động trí tuệ, rèn luyện năng lực
giải quyết vấn đề gắn với các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp; quản lý hoạt động này phải gắn liền hoạt động của giảng viên và SV, gắn bó mật thiết với đời sống thực tiễn sinh động của gia đình, nhà trường và xã hội Đặc điểm này có những lợi thế
để giảng viên có thể sử dụng phương pháp giảng dạy tích cực nhằm phát triển năng lực cho người học, tự chịu trách nhiệm và giải quyết vấn đề pháp luật [14]
Tác giả Huỳnh Bọng với nghiên cứu“Biện pháp quản lý công tác giáo dục pháp
luật cho sinh viên Đại học Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay” đề cập các nội dung
Trang 20của công tác quản lý mục tiêu, chức năng, nội dung, phương pháp quản lý và cho rằng quản lý công tác GDPL cho SV giữ vai trò đặc biệt quan trọng thể hiện qua việc định hướng mục tiêu, xây dựng bộ máy tổ chức, lập kế hoạch và triển khai kế hoạch một cách hiệu quả, trong đó, việc lập kế hoạch cần chú ý hàng năm, xây dựng kế hoạch cụ thể, gắn các môn về GDPL với hệ thống giảng dạy của nhà trường thì việc triển khai thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động GDPL cho SV mới thông suốt, hiệu quả [3]
Tác giả Hà Trung Sơn“Quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh sinh
viên trường Cao đẳng Sư phạm Gia Lai” cũng đánh giá công tác quản lý thông qua
việc đánh giá xây dựng mục tiêu, nội dung và phương pháp quản lý, đồng thời cho rằng xác định mục tiêu GDPL được xem là trụ cột của công tác quản lý GDPL, việc thực hiện đúng mục tiêu có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và GDPL nói riêng; quản lý nội dung công tác GDPL lại có vai trò rất quan trọng, đảm bảo các khâu của quá trình GDPL được thực hiện đúng theo mục tiêu của công tác GDPL đã được xác định [29]
Hay theo tác giả Phạm Nhật Quang“Quản lý hoạt động giáo dục pháp luật ở
trường Trung cấp Quân y 1 hiện nay” đánh giá quản lý hoạt động GDPL với các nội
dung về mục tiêu, nội dung và phương pháp, còn đánh giá về nhận thức của chủ thể quản lý hoạt động GDPL, hình thức GDPL, sự chuyển biến của kết quả GDPL và khẳng định nhận thức của quản lý hoạt động GDPL là yếu tố rất quan trọng, điều kiện tiên quyết của công tác quản lý hoạt động GDPL [25] Công trình nghiên cứu của tác
giả Nguyễn Huy Phong “Quản lý công tác giáo dục pháp luật cho học sinh ở các
trường trung học phổ thông huyện An Lão, tỉnh Bình Định” đánh giá quản lý công tác
GDPL thông qua quy trình quản lý bao gồm xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo điều hành và kiểm tra, đánh giá, đồng thời để có cái nhìn khách quan, tác giả đề cập đến đặc điểm, nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm của học sinh trung học phổ thông; đề xuất hệ thống giải pháp dựa trên quy trình quản lý này [23]
Ngoài ra, theo tác giả Đỗ Thị Thu Hằng“Quản lý hoạt động tham gia giáo dục
pháp luật cho sinh viên không chuyên luật trong các trường Đại học” cho rằng quản
lý bằng việc xác lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra và đánh giá hoạt động thực hiện; quản lý hoạt động GDPL không chỉ là nhiệm vụ của nhà trường, mà còn là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị; khẳng định vai trò quyết định của giảng viên giảng dạy pháp luật để đảm bảo chất lượng của hoạt động GDPL [11]
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn cho thấy, có rất nhiều công trình nghiên cứu về GDPL cho SV và quản lý hoạt động GDPL cho SV, các công trình đã xây dựng, hệ thống cơ bản về lý luận và thực tiễn trong hoạt động GDPL trên nhiều góc độ và có những đóng góp nhất định trong việc hoàn thiện khung
Trang 21lý luận, đánh giá thực trạng, kiến nghị giải pháp về GDPL Tuy nhiên, đa phần các công trình nghiên cứu rất ít quan tâm đến nhận thức của chủ thể quản lý mà thường chú ý đến nhận thức của SV, nghiên cứu chủ yếu về SV không chuyên luật và liên quan đến nội dung quản lý hoạt động GDPL đối với SV tại trường Đại học Tài chính -
Kế toán chưa có công trình nào nghiên cứu Đây là khoảng trống nghiên cứu để tác giả tiếp tục mở rộng nghiên cứu trên một phạm vi cụ thể và có kế thừa một số kết quả nghiên cứu của các tác giả khác
1.2 Các khái niệm chính của đề tài
1.2.1 Quản lý giáo dục
1.2.1.1 Quản lý
Xét về mặt tổng thể, trong mọi hoạt động của con người đều hướng đến một mục đích nhất định, để hoàn thành được mục đích đó, cần có rất nhiều hoạt động bổ trợ, kiểm soát từng hoạt động, phối hợp giữa các cá nhân và như vậy, hoạt động quản lý xuất hiện Hiện nay, quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ, và công việc có đạt được hiệu quả hay không, phần lớn phụ thuộc vào quản lý và trình độ tổ chức quản lý của con người Chính vì vậy, xuất hiện rất nhiều quan điểm khác nhau về quản lý, cụ thể như sau:
Theo quan điểm của Harold Koontz cho rằng “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục
đích của nhóm (tổ chức); Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong
đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất
và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học” [18, tr.33] Hay tác giả James Stoner và Stephen Robbins lại cho rằng “Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra” (Dẫn theo Nguyễn Thành Vinh, 2012) [47]
Đồng thời, theo quan điểm của một số tác giả trong nước như tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc có quan điểm “Hoạt động quản lý là tác động có
định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm vận hành và đạt được mục đích của tổ
chức” [20, tr.1] Hay tác giả Đặng Quốc Bảo nhận định rằng: “Đây là hoạt động để người thủ trưởng phối hợp nỗ lực với các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra” [2, tr.5] Cũng có thể đề cập đến quan điểm của tác giả Trần Kiểm “Quản lý là hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hình thành công việc qua nỗ lực của người khác hoặc: Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả
Trang 22các hoạt động của những người công sự khác cùng chung một tổ chức” [17, tr.12, 13] Ngoài ra, cũng có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý: quản lý là những hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung hay quản lý là quá trình cùng làm việc thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hoàn thành mục đích chung của một nhóm người, một tổ chức; quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác
Như vậy, nhìn chung bản chất của hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới Quản lý bao hàm các yếu tố: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, mục tiêu đạt được, các nguồn lực để quản lý, phương thức quản lý Các yếu tố này phối hợp, tác động lẫn nhau để hoàn thành mục tiêu mà tổ chức, cá nhân hướng đến, trong đó, yếu tố mục tiêu là quan trọng, có thể được xác định theo nhiều cách khác nhau, phụ thuộc vào hình thức, lĩnh vực hoạt động và phong cách quản lý trong tổ chức, có thể do chủ thể quản lý áp đặt hoặc cũng có thể do sự cam kết giữa chủ thể và đối tượng quản lý; đồng thời, mục tiêu
có sự chia sẻ, tham gia của đối tượng là một yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả, chất lượng quản lý của một tổ chức
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, giáo dục chi phối và quy định bởi nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội và do vậy, giáo dục tồn tại, vận động, phát triển theo sự tồn tại, vận động và phát triển của xã hội Giáo dục truyền đạt kinh nghiệm của thế hệ trước để thế hệ sau rèn luyện, tự giáo dục bản thân, kế thừa, sáng tạo góp phần thúc đẩy sự phát triển của con người, xã hội Chính vì vậy, cần phải có sự quản lý trong hoạt động giáo dục và hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về quản lý giáo dục cụ thể:
Tác giả Phạm Khắc Chương quan niệm “Quản lý giáo dục theo nghĩa rộng nhất
là quản lý quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người trong các chế độ chính trị, xã hội khác nhau mà trách nhiệm là của nhà nước và hệ thống đa cấp của ngành giáo dục từ trung ương cho đến địa phương là Bộ Giáo dục, Sở giáo dục, Phòng giáo dục, ở các quận, huyện và các đơn vị cơ sở là nhà trường” [6, tr.79]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động
có mục đích, có kế hoạch, hợp với quy luật của chủ thể quản lý nhằm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng Thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái, mới về chất” [26, tr.5]
Trang 23Hay theo quan điểm của tác giả Trần Kiềm cho rằng “Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắc xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục” [16] Như vậy, nhìn tổng thể quan niệm về quản lý giáo dục được hiểu dưới hai góc độ chủ yếu đó là cấp độ vĩ mô và vi mô Dưới cấp độ vĩ mô, quản lý giáo dục là hoạt động có tính mục đích, có kế hoạch, phối hợp các lực lượng xã hội phù hợp với quy luật tác động đến toàn bộ hệ thống nhằm góp phần về sự phát triển của giáo dục, đào tạo đối với xã hội, đối với thế hệ trẻ Dưới cấp độ vi mô, quản lý giáo dục được xem là hoạt động của một chủ thể cụ thể như cha mẹ, nhà trường, giảng viên,… nhằm đạt được mục tiêu của các chủ thể, hình thành và phát triển nhân cách, trí tuệ của con cái,
SV hoặc đối tượng được xác định của mình
Cho dù quan niệm dưới cấp độ vĩ mô hay vi mô, có thể thấy quản lý giáo dục cũng giống như quản lý nói chung, thông thường bao gồm các yếu tố cơ bản đó là chủ thể quản lý, đối tượng bị quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý Thực tế các yếu tố này có quan hệ tác động qua lại với nhau nhằm đi đến mục tiêu chung của giáo dục đề ra Đồng thời, cũng cần phải quan tâm đến cách thức, phương pháp và công cụ được sử dụng trong quản lý giáo dục phù hợp và thay đổi theo sự phát triển của xã hội nhằm nâng cao hiệu quả của quản lý giáo dục
1.2.1.3 Quản lý giáo dục nhà trường
Theo quy định của Luật Giáo dục năm 2018, nhà trường là cơ sở giáo dục trong
hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, có phẩm chất nghề nghiệp cho xã hội và vì vậy, nhà trường chính là một thiết chế đặc biệt của xã hội với tư cách là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính giáo dục, vừa mang tính xã hội Xét tổng thể, quản lý nhà trường chính là bộ phận của quản
lý giáo dục ở cấp độ vi mô Quản lý nhà trường thể hiện mối quan hệ giữa nhà trường với người học và rộng hơn đó là mối quan hệ với xã hội và bao hàm các yếu tố cơ bản: chủ thể quản lý (chính là lãnh đạo nhà trường, phòng, ban, khoa, tổ bộ môn, người tham gia giảng dạy), đối tượng bị quản lý (người học), mục tiêu của nhà trường, nội dung giáo dục, cơ sở vật chất, phương pháp giáo dục Hiện nay, đa phần quản lý giáo dục của các trường học theo định hướng tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm
và giáo dục mở, có sự tham gia của xã hội để đảm bảo việc quản lý của nhà trường mang tính sáng tạo, phù hợp với các yêu cầu cấp thiết của xã hội
Ở Việt Nam, theo tinh thần của Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, quản lý giáo dục nhà trường cần hướng tới một số yêu cầu
Trang 24như: chỉ đạo nhà trường vận hành đúng quan điểm, đường lối, chính sách giáo dục của Đảng, Chính phủ; chuẩn hóa các điều kiện quá trình dạy và học; tăng cường phát huy tính dân chủ trong trường học, sự đánh giá của người học đối với chất lượng giảng dạy của người dạy, hoạt động quản lý giáo dục của nhà trường [1]
Nhìn chung, quản lý giáo dục đào tạo trong nhà trường chính là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch trên cơ sở vận dụng các nguồn lực, phương thức quản
lý, công cụ của nhà trường đối với đối tượng quản lý theo quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước nhằm đạt được mục tiêu của nhà trường nói riêng, mục tiêu của hệ thống giáo dục nói chung
1.2.2 Pháp luật, giáo dục pháp luật
1.2.2.1 Pháp luật
Theo học thuyết Mác - Lê Nin, nhà nước và pháp luật là hai hiện tượng lịch sử cơ bản nhất của đời sống chính trị - xã hội, cùng xuất hiện, cùng tồn tại phát triển, cùng tiêu vong khi nhân loại đã đạt đến một trình độ và trong những điều kiện khách quan nhất định Những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước cũng là những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của pháp luật: đó là chế độ tư hữu về tài sản và sự phân hóa xã hội thành giai cấp mà giữa các giai cấp có lợi ích đối kháng không thể điều hòa được
Để củng cố địa vị và bảo vệ lợi ích giai cấp, nhà nước ban hành hệ thống pháp luật, trong đó chứa đựng các khuôn mẫu về hành vi xử sự, bắt buộc công dân phải thực hiện theo ý chí của nhà nước, khi không thực hiện thì phải chịu trách nhiệm pháp lý
Như vậy, có thể quan niệm “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt
buộc chung do Nhà nước đặt ra và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và nhu cầu tồn tại của xã hội nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, tạo lập trật tự, ổn định cho sự phát triển của xã hội” [ 39, tr 51] Xét bình diện tổng quan,
pháp luật có các đặc trưng đó là quy tắc xử sự chung, có tính bắt buộc chung (hiệu lực pháp lý chung), do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận thông qua các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền theo quy định và được đảm bảo thi hành bởi nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng của nhà nước
Pháp luật có các chức năng khác nhau tùy thuộc góc độ nghiên cứu, đa phần theo hướng tác động của pháp luật đến các quan hệ xã hội nhằm duy trì trật tự và đem lại lợi ích cho xã hội, trong đó có lợi ích của giai cấp thống trị Pháp luật có các chức năng: điều chỉnh, bảo vệ và giáo dục
Chức năng điều chỉnh: trên cơ sở các quy phạm pháp luật, nhà nước xác định cho chủ thể trong xã hội phải có những ứng xử phù hợp với những tình huống xảy ra trong
xã hội theo ý chí của nhà nước; đồng thời, pháp luật không điều chỉnh mọi quan hệ xã hội mà chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội nào mà nhà nước cho là cần thiết
Trang 25Chức năng bảo vệ: pháp luật bảo vệ các quan hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh, tránh cho chúng bị xâm hại Khi có các hành vi vi phạm pháp luật xảy ra, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế được quy định trong bộ phận chế tài của các quy phạm pháp luật đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật
Chức năng giáo dục: Đặt ra các quy định không chỉ điều chỉnh hành vi con người
mà còn tác động vào tâm tư, tình cảm của con người, tạo nên sự thay đổi nhất định trong cách ứng xử của con người, giáo dục con người trong xã hội Pháp luật tác động đến ý thức con người giúp họ tôn trọng, thực hiện đúng pháp luật
1.2.2.2 Giáo dục pháp luật
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về giáo dục, có thể theo nghĩa rộng đó là sự tác động khách quan, chủ quan đến đối tượng được giáo dục và thông thường, các
nghiên cứu đề cập quan niệm về giáo dục theo nghĩa hẹp“Giáo dục là hoạt động nhằm
tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra”[38] Trên cơ sở đó, quan niệm về giáo dục pháp luật cũng được theo nghĩa
rộng và nghĩa hẹp Trong nhiều tài liệu nghiên cứu hiện nay, phần lớn các nhà khoa học quan niệm giáo dục pháp luật theo nghĩa hẹp, đó là hoạt động có định hướng, có tổ chức, theo ý chí chủ thể giáo dục đối với đối tượng được giáo dục nhằm hình thành kiến thức pháp luật, ý thức pháp luật, tình cảm pháp luật để điều chỉnh hành vi phù hợp yêu cầu của xã hội
Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp đồng nhất quan niệm về giáo dục pháp
luật chính là hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật, chính là “Truyền đạt tinh thần,
nội dung pháp luật giúp cho đối tượng tác động hiểu và hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm, hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành”
để hướng đến xây dựng lối sống theo pháp luật, đúng tinh thần “Sống và làm việc theo
Hiến pháp và pháp luật” [13, tr.4]
Như vậy, GDPL nhằm hình thành tri thức, tâm lý pháp luật ở mỗi cá nhân và từ
đó thực hiện hành vi phù hợp với các quy định pháp luật một cách tự giác Thông qua hoạt động GDPL, chủ thể giáo dục hình thành môi trường, định hướng hành vi xã hội theo những chuẩn mực mà pháp luật quy định, góp phần tăng cường hiệu quả, hiệu lực của pháp luật trong hoạt động quản lý của nhà nước
1.2.2.3 Giáo dục pháp luật cho sinh viên trường Đại học
Theo khoản 3 Điều 80 Luật Giáo dục năm 2018 quy định SV là người đang học tại các trường cao đẳng, trường đại học Hiện nay, giáo dục ở bậc đại học theo mô hình giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên Giáo dục chính quy là hình thức đào tạo
Trang 26theo các khoá học tập trung toàn bộ thời gian tại cơ sở giáo dục đại học để thực hiện chương trình đào tạo một trình độ của giáo dục đại học Còn giáo dục thường xuyên gồm vừa làm vừa học và đào tạo từ xa, là hình thức đào tạo theo các lớp học, khóa học tại cơ sở giáo dục đại học hoặc cơ sở liên kết đào tạo, phù hợp với yêu cầu của người học để thực hiện chương trình đào tạo ở trình độ cao đẳng, đại học Đồng thời, thời gian đào tạo thông thường của bậc đại học là 4 - 4,5 năm
Trên cơ sở quan niệm về giáo dục pháp luật, SV đại học, có thể quan niệm giáo dục pháp luật cho SV các trường đại học đó là hoạt động có định hướng, có tổ chức, theo ý chí của trường đại học tác động đến SV nhằm trang bị cho SV những kiến thức
cơ bản về nhà nước và pháp luật nói chung, kiến thức pháp luật có liên quan đến chuyên ngành, qua đó giúp SV hình thành ý thức pháp luật và điều chỉnh hành vi của mình trong cuộc sống, học tập và lao động theo quy định của pháp luật, hạn chế thấp nhất hành vi vi phạm
1.3 Hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên trường Đại học
1.3.1 Mục tiêu của hoạt động giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật nói chung, giáo dục pháp luật trình độ đại học nói riêng có vai trò rất quan trọng đó là đào tạo ra những con người phát triển toàn diện về kiến thức, được trang bị các kiến thức cơ bản nhất về chuyên môn, pháp luật; về kỹ năng có khả năng thích ứng nhanh với xu hướng pháp luật của các quốc gia, phân tích, đánh giá để hành xử hợp lý và đủ sức mạnh để cạnh tranh trong quá trình phân công lao động quốc gia và quốc tế; về thái độ giúp SV hình thành thái độ, niềm tin vào hệ thống pháp luật quốc gia và tự mình rèn luyện để trở thành người có ý thức, văn hóa pháp luật trong thực tiễn cuộc sống
Trên cơ sở mục tiêu giáo dục nhằm phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, tri thức, văn hóa, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; có phẩm chất, năng lực
và ý thức công dân; có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trung thành với lý tưởng độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…đã chính thức xác định“Giáo dục pháp luật trong
các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân được lồng ghép trong chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo; là một nội dung trong chương trình giáo dục trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học”[27] Trong quá trình giáo dục pháp luật, việc xác định đúng đắn các mục tiêu
xã hội cần phải đạt được có vai trò quan trọng để xây dựng nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật
Nhìn chung, giáo dục pháp luật nói chung, giáo dục pháp luật cho SV các trường đại học hướng đến ba mục tiêu cơ bản sau:
Mục tiêu nhận thức, trong bất kỳ hoạt động quản lý nào, mục tiêu hướng đến
Trang 27quan trọng nhất là nhận thức, yếu tố này tác động vào thái độ, tâm tư, tình cảm, niềm tin của chủ thể đối với vấn đề cụ thể, từ đó tự ý thức thực hiện một cách tự giác Quản
lý hoạt động giáo dục pháp luật cho SV các trường đại học cũng xác định mục tiêu nhận thức là yếu tố quan trọng, mục tiêu hàng đầu nhằm cung cấp cho SV kiến thức,
kỹ năng pháp luật, đồng thời sự nhận thức đúng đắn về vai trò, giá trị điều chỉnh của pháp luật đối với bản thân, xã hội, nhà nước và qua đó, hình thành lòng tin, tình cảm
về pháp luật Trên cơ sở này, SV sẽ tự ý thức thực hiện pháp luật, điều chỉnh hành vi phù hợp quy định pháp luật, trang bị kiến thức và kỹ năng pháp luật phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội và cơ hội hội nhập Vấn đề nâng cao nhận thức pháp luật cho công dân nói chung, SV các trường đại học nói riêng ở Việt Nam hiện nay là đòi hỏi cấp thiết, khi mà công dân, SV có kiến thức pháp luật, ý thức thực hiện pháp luật, sự coi trọng pháp luật còn thấp, đặc biệt, một số bộ phận còn chịu ảnh hưởng của phong tục, tập quán cổ hủ Ngoài ra, công tác giáo dục pháp luật cho SV các trường đại học chủ yếu thông qua chương trình đào tạo và phổ biến một vài nội dung pháp luật nhưng chưa thực hiện thường xuyên cũng là vấn đề tác động đến mục tiêu nhận thức pháp luật
Mục tiêu cảm xúc, chính là thái độ, tình cảm của con người đối với hệ thống pháp
luật quốc gia, hình thành nên tâm lý pháp luật phù hợp ý thức pháp luật thông thường; mục tiêu cảm xúc này phải được hình thành một cách tự phát, trực tiếp trong hoạt động thực tiễn của con người về đời sống pháp luật, qua đó, con người sẽ có thái độ, tình cảm đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác theo hướng tích cực hoặc tiêu cực Mục tiêu cảm xúc rất quan trọng, vì nếu có kiến thức pháp luật mà không có tình cảm tôn trọng và niềm tin vào pháp luật cũng như các cơ quan bảo vệ pháp luật thì con người rất dễ hành động chệch khỏi các chuẩn mực pháp luật vì lợi ích riêng tư; đặc biệt là SV, còn hạn chế trong nhận thức, tư duy nên rất dễ bị các thành phấn xấu lôi kéo mà chính bản thân các em không thể nhận biết được Vì vậy, tại các cơ sở giáo dục đại học cần cung cấp tri thức pháp luật và từ đó hình thành tình cảm pháp luật đúng đắn, ý thức trách nhiệm để SV có sự phân biệt hành vi đúng sai, bảo vệ các giá trị đạo đức và đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật Trong quá trình phát triển mục tiêu cảm xúc cho SV, các trường đại học cần phải nhận thức rõ tâm lý pháp luật chịu sự tác động mạnh mẽ, thường xuyên từ các yếu tố khách quan và chủ quan như môi trường xã hội, văn hóa, tôn giáo, tình trạng kinh tế, sức khỏe,…
Mục tiêu hành vi, trong hoạt động giáo dục pháp luật, mục tiêu cuối cùng cần đạt
được đó là hình thành động cơ, hành vi và thói quen xử sự theo pháp luật Trên cơ sở quá trình nhận thức về pháp luật, tâm lý pháp luật sẽ tác động đến động cơ và hành vi của SV theo khuynh hướng thực hiện pháp luật một cách hợp pháp; đồng thời, SV có khả năng vận dụng quy định pháp luật để bảo vệ các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của
Trang 28mình, của người khác, của nhà nước và của xã hội Ngoài ra, SV với kiến thức pháp luật được trang bị ở các trường đại học, sẽ có thể trở thành người tuyên truyền pháp luật, người ảnh hưởng, đưa kiến thức pháp luật đến các đối tượng khác trong những mối quan hệ của chính mình Nhìn chung, nhờ có hoạt động giáo dục pháp luật mà SV hiểu biết pháp luật để rồi biết thực hiện pháp luật bao gồm các hình thức cụ thể: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và sử dụng pháp luật
Tóm lại, việc phân chia các mục tiêu giáo dục pháp luật trên đây chỉ mang tính tương đối, bản thân các mục tiêu này có mối quan hệ với nhau và mục tiêu chung mà hoạt động giáo dục pháp luật cần đạt được chính là giúp nâng cao sự hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật của SV trong quá trình đào tạo, có thể vận dụng được những kiến thức đó để có thể áp dụng vào thực tế công việc, cũng như góp phần định hướng một cách toàn diện về đạo đức và trí lực cho SV
1.3.2 Hình thức của hoạt động giáo dục pháp luật
Quan niệm về hình thức giáo dục đó là:“Các hình thức tổ chức hoạt động phối
hợp giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm chiếm lĩnh nội dung giáo dục
và đạt mục đích giáo dục”[48] Như vậy, hình thức giáo dục pháp luật là các hoạt
động để thực hiện quá trình giáo dục pháp luật cho người học, người dạy tổ chức thực hiện các nội dung cần truyền đạt theo những cách thức phù hợp với những điều kiện
cơ sở vật chất, với từng loại đối tượng người học, với nhóm ngành, chuyên ngành cụ thể Thông thường, trong chương trình giáo dục pháp luật tại các cơ sở giáo dục đại học được thực hiện thông qua 2 hình thức, cụ thể:
- Giáo dục chính khóa, ở bậc đại học, đối với SV không chuyên luật thông qua học phần pháp luật đại cương - là học phần mang tính chất bắt buộc theo quy định nhằm giáo dục SV có kiến thức cơ bản nhất về pháp luật; các học phần pháp luật chuyên ngành, tùy theo chuyên ngành đào tạo sẽ được cung cấp các kiến thức chuyên sâu về pháp luật hoặc những học phần có sự lồng ghép kiến thức pháp luật và có thể là học phần tự chọn Đối với SV chuyên ngành luật, sẽ được giáo dục các học phần luật
cơ sở ngành, chuyên ngành, không tiếp cận học phần pháp luật đại cương như SV không chuyên luật; ngoài ra, tùy thuộc chuyên ngành luật cụ thể thì các học phần sẽ có khối lượng kiến thức khác nhau Như vậy, giáo dục pháp luật chính khóa cho SV được thực hiện chủ yếu thông qua: hoạt động dạy học các học phần pháp luật đại cương, pháp luật chuyên ngành và hình thức dạy học chính khóa được quy định trong các chương trình đào tạo của ngành, chuyên ngành của các trường Đại học và hình thức giáo dục chính khóa này, thể hiện sự tương tác giữa giảng viên và SV
- Giáo dục ngoại khóa và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Đối với hoạt động này, hiện nay có những hình thức chính như: hoạt động giáo dục pháp luật thông
Trang 29qua hình thức “Tuần sinh hoạt công dân - sinh viên” đầu khóa, đây là hoạt động ngoại khóa mang tính chất bắt buộc, thông thường hình thức này, nhà trường cung cấp các kiến thức về chương trình đào tạo, quy chế tín chỉ, nội quy, quyền và nghĩa vụ của SV Hình thức và nội dung của các hoạt động giáo dục pháp luật ngoại khóa khác do các nhà trường chủ động tổ chức thực hiện, thường tham gia các cuộc thi tìm hiểu về pháp luật do trường tổ chức hoặc các cơ quan chủ quản tổ chức, phối hợp với các tổ chức khác tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề Riêng đối với SV chuyên ngành luật, hình thức giáo dục pháp luật ngoại khóa phổ biến như: tham dự phiên tòa xét xử tại hệ thống Tòa án nhân dân, tổ chức phiên tòa giả định cho SV thực hiện tại trường, tham gia các câu lạc bộ pháp luật, tham gia các cuộc thi tìm hiểu về pháp luật do các cơ quan nhà nước tổ chức, các buổi văn nghệ lồng ghép sinh hoạt pháp luật, tổ chức các buổi tọa đàm chuyên đề hoặc giới thiệu các văn bản mới trong những buổi sinh hoạt thường kỳ
1.3.3 Các chủ thể tham gia hoạt động giáo dục pháp luật
Hoạt động GDPL thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể GDPL và đối tượng được GDPL và do vậy, chủ thể tham gia hoạt động GDPL tại các trường Đại học chính là chủ thể GDPL và đối tượng được GDPL - SV
Thứ nhất, về chủ thể GDPL Theo một số nghiên cứu và thực tiễn hoạt động
GDPL tại các trường Đại học, chủ thể GDPL thường xác định 3 nhóm cơ bản đó là nhóm chủ thể lãnh đạo, quản lý (Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo, Phòng Công tác học sinh SV, các Khoa đào tạo SV, giáo viên cố vấn lớp); nhóm chủ thể trực tiếp giảng dạy kiến thức về pháp luật chính là đội ngũ giảng viên, báo cáo viên của nhà trường và nhóm chủ thể hỗ trợ (các tổ chức Hội Sinh viên, Đoàn Thanh niên, câu lạc bộ và gia đình) Chủ thể GDPL là tất cả những người mà theo chức năng, nhiệm
vụ hay trách nhiệm xã hội phải tham gia vào việc thực hiện các mục đích GDPL
Đối với nhóm chủ thể lãnh đạo, quản lý có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng hoạt động GDPL, trên cơ sở đó thiết kế kế hoạch hoạt động GDPL, chương trình hành động; xây dựng chương trình đào tạo, biên soạn giáo trình, chương trình ngoại khóa nhằm truyền tải kiến thức pháp luật và thông tin pháp luật cho SV Đồng thời, chủ thể này thực hiện vai trò quản lý, xử lý các vấn đề về tổ chức thực hiện GDPL, xử lý các khiếu nại của SV, triển khai các chính sách, pháp luật, kiểm tra việc thực hiện hoạt động GDPL Ngoài ra, căn cứ vào yêu cầu cụ thể, nhiệm vụ chuyên môn đặc thù của từng phòng ban chức năng, từng khoa mà Đảng ủy, Ban Giám hiệu quyết định giao nhiệm vụ cụ thể, hình thức, phương thức triển khai phù hợp để cung cấp thông tin, kiến thức pháp luật đến SV
Đối với chủ thể trực tiếp giảng dạy kiến thức về pháp luật, chính là lực lượng
Trang 30quyết định hiệu quả của hoạt động GDPL, vì chính họ là người hỗ trợ SV tiếp cận kiến thức pháp luật, hình thành những hiểu biết cơ bản về pháp luật, chính sách của nhà nước, niềm tin vào pháp luật để hình thành ý thức tôn trọng pháp luật, tự nguyện thực hiện pháp luật Trong hoạt động GDPL tại các trường Đại học, giảng viên giảng dạy các học phần pháp luật sẽ là chủ thể chính yếu giảng dạy, truyền thụ tri thức pháp lý, vừa là người giáo dục nhân cách, ảnh hưởng không nhỏ đến sự hoàn thiện nhân cách của SV Để hoạt động GDPL hiệu quả, giảng viên phải luôn đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy, nghiên cứu khoa học, phải cập nhật kịp thời những quy định mới của pháp luật, những văn bản pháp luật được sửa đổi để phổ biến cho SV
Chủ thể hỗ trợ thường tham gia vào hoạt động ngoại khóa, các phong trào và hỗ trợ cho việc nâng cao hiệu quả của hoạt động GDPL, ý thức pháp luật của SV Trên cơ
sở kế hoạch của hoạt động GDPL, Ban giám hiệu sẽ phân công, phối hợp cùng Hội Sinh viên, Đoàn Thanh niên, câu lạc bộ và gia đình tổ chức các chương trình ngoại khóa, huy động SV tham gia vào các chương trình này; tham vấn một số mô hình, phương pháp tổ chức hoạt động GDPL phù hợp với đặc điểm, nguyện vọng của SV
Thứ hai, đối tượng được GDPL, là SV đại học, đặc biệt SV năm nhất có nhiều
điểm khác nhau so với những người đã tốt nghiệp và tham gia vào thị trường lao động
về nhận thức, khả năng tiếp nhận thông tin, khả năng tư duy, vốn kiến thức xã hội, pháp luật, kỹ năng sống cũng như một số hạn chế khác và thông thường Các SV này
có thể đến từ các địa phương khác nhau sẽ có lối sống khác nhau Chính vì điều đó, hoạt động GDPL cho SV ở các trường Đại học và cao đẳng rất cần thiết để giúp SV nhận thức rõ hơn về pháp luật, vận dụng pháp luật vào cuộc sống, góp phần vào việc giáo dục và hình thành nhân cách trong SV Như vậy, khi xây dựng kế hoạch, chương trình, phương pháp, hình thức GDPL cho SV cần phải nắm bắt rõ đặc điểm tâm sinh
lý, với điều kiện sống, học tập, giao tiếp xã hội của SV để tìm ra những nội dụng, phương pháp, hình thức GDPL sao cho phù hợp nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất
1.3.4 Nội dung hoạt động giáo dục pháp luật
Hoạt động GDPL phải bàn đến một yếu tố quan trọng đó là nội dung GDPL, việc xây dựng nội dung phù hợp sẽ giúp việc cung cấp thông tin pháp luật kịp thời, GDPL
có hiệu quả và người học cũng có thể nắm bắt thông tin, khả năng ứng dụng pháp luật vào các tình huống cụ thể đang xảy ra Khi xây dựng nội dung chương trình GDPL, các chủ thể quản lý hoạt động GDPL cần phải xét đến các yếu tố chi phối như mục tiêu của giáo dục đại học, mục tiêu của GDPL, mục tiêu đào tạo của ngành, căn cứ vào đối tượng học, tình hình kinh tế xã hội, sự thay đổi của hệ thống pháp luật và vì vậy, nội dung GDPL cho SV thường phải được hiệu chỉnh hoặc được thay đổi cho phù hợp
Trang 31với thực tiễn của xã hội và thực tiễn của pháp luật thông qua việc xây dựng hoạt động GDPL chính khóa và ngoại khóa Xét về tổng thể, nội dung GDPL cho SV tại các trường Đại học thường được chia ra thành ba nhóm cơ bản sau:
Nhóm thứ nhất là nhóm kiến thức chung Với nhóm kiến thức này, SV sẽ được
nghiên cứu và tiếp cận những vấn đề cơ bản nhất về pháp luật, hình thành nền tảng pháp luật về nguồn gốc, chức năng, bản chất, hình thức của nhà nước và pháp luật; hệ thống các ngành luật Việt Nam; xác định quan hệ xã hội nào là quan hệ pháp luật; các hình thức thực hiện pháp luật; hiểu rõ về hành vi vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý Trên cơ sở đó, SV sẽ có niềm tin vào bộ máy nhà nước Việt Nam; có thể phân tích hiểu và vận dụng được một số quy định cơ bản trong các ngành luật của hệ thống pháp luật Việt Nam; có khả năng phân tích, đánh giá một số hiện tượng pháp luật; có cách ứng xử phù hợp với các quy định của pháp luật trong thực tiễn Ngoài ra, theo tinh thần Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 12/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào giảng dạy tại các cơ sở giáo dục, đào tạo từ năm học 2013 - 2014 [36] và hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cơ sở giáo dục đại học có đào tạo trình độ đại học, cao đẳng không chuyên về luật tích hợp, lồng ghép nội dung phòng chống tham nhũng vào môn học pháp luật đại cương hoặc môn học khác phù hợp với thời lượng 5 tiết góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng
Nhóm thứ hai là kiến thức pháp luật phù hợp với ngành nghề, nhóm kiến thức
này được xây dựng tùy theo các chuyên ngành cụ thể của SV nhằm cung cấp khối lượng kiến thức pháp lý cần thiết trong lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp của SV trong tương lai Nội dung GDPL theo ngành nghề thường liên quan đến một số vấn đề như: các quyền và nghĩa vụ của công dân trong lĩnh vực hoạt động; các điều kiện hành nghề đối với các trường hợp nghề nghiệp có điều kiện; đạo đức, chuẩn mực nghề nghiệp và các trình tự giải quyết tranh chấp phổ biến liên quan trong lĩnh vực nghề nghiệp Như vậy, với khối lượng kiến thức này, SV có cách ứng xử phù hợp với các quy định của pháp luật trong hoạt động nghiệp vụ, hạn chế các vi phạm có thể xảy ra
Nhóm thứ ba là kiến thức chuyên ngành đối với sinh viên luật, đây là nhóm kiến
thức ở cấp độ cao nhất của giáo dục pháp luật (đào tạo chuyên ngành luật), bởi vì đối tượng được GDPL sẽ là những người thực thi công lý trong tương lai bằng những tri thức pháp luật liên quan đến quan điểm, học thuyết về nhà nước và pháp luật trong lịch
sử và hiện tại; hiểu biết tương đối toàn diện về hệ thống pháp luật trong nước và quốc
tế trong lĩnh vực chuyên sâu của chuyên ngành (dân sự, hình sự, hành chính, tố tụng…) Đồng thời, họ sẽ được rèn luyện các kỹ năng tư vấn pháp luật, vận dụng chính xác, linh hoạt pháp luật vào các quan hệ pháp luật vào việc xử lý, giải quyết các
Trang 32tranh chấp, vi phạm pháp luật trong hoạt động thực tiễn Vì vậy, trong quá trình đào tạo GDPL cần phải chú ý đến xây dựng các nội dung pháp luật nhằm gia tăng sự hiểu biết, thái độ, tình cảm cũng như kỹ năng sử dụng pháp luật của các SV và phải là chuẩn mực của ý thức và hành vi tuân thủ pháp luật
Trong xu thế phát triển của khoa học, công nghệ thì giáo dục đào tạo cũng phải thay đổi theo định hướng phát triển năng lực của SV, nghĩa là các cơ sở giáo dục đại học, bên cạnh cung cấp thông tin pháp luật thực định, cần hình thành và phát triển kỹ năng thể hiện năng lực tự học của SV để hình thành nền tảng kiến thức pháp luật cho riêng mình Việc phát triển nội dung hoạt động GDPL theo định hướng phát triển năng lực, các trường Đại học cần phải đảm bảo các yêu cầu khi xây dựng nội dung, đó là: phù hợp với mục tiêu GDPL trong từng giai đoạn, cung cấp hệ thống dữ liệu về hệ thống pháp luật, định hướng các yêu cầu thực tiễn của ngành, nghề đào tạo
1.4 Quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên trường Đại học
Để đảm bảo hoạt động GDPL đạt được mục tiêu, hiệu quả cần thiết, các trường Đại học phải đặt ra vấn đề cần quản lý như thế nào, quản lý những hoạt động cụ thể nào và theo quan niệm về quản lý hoạt động GDPL là hoạt động có định hướng, có tổ chức, theo ý chí của trường đại học tác động đến SV góp phần hình thành phát triển nhân cách người học một cách toàn diện, vì vậy, xem xét một số nội dung cụ thể về quản lý hoạt động GDPL cho SV trường Đại học như sau:
1.4.1 Quản lý mục tiêu của hoạt động giáo dục pháp luật
Mục tiêu của hoạt động GDPL chính là những kết quả mà chủ thể quản lý mong muốn đạt được và mục tiêu đó là nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác quản lý GDPL của các chủ thể, nắm vững các kiến thức pháp luật, điều chỉnh hành vi theo quy định, đấu tranh với những việc làm trái pháp luật, niềm tin và thái độ đối với pháp luật của SV nhằm đào tạo ra những con người phát triển toàn diện về mọi mặt, phù hợp với các chuẩn mực chung của xã hội
Mục tiêu của hoạt động GDPL điều chỉnh toàn bộ quy trình hoạt động GDPL, với ý nghĩa quan trọng như vậy, buộc các chủ thể quản lý phải quan tâm và do đó, khi quản lý mục tiêu của hoạt động GDPL cần đảm bảo một số yêu cầu cụ thể:
Kịp thời nắm bắt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, của cấp trên và yêu cầu GDPL trong từng giai đoạn cụ thể nhằm cung cấp kịp thời hệ thống tri thức về pháp luật; đồng thời tổ chức phối hợp giữa các chủ thể quản lý hướng đến hoàn thành mục tiêu chung về GDPL
Khi xây dựng mục tiêu của hoạt động GDPL cần phù hợp với chương trình hành động, mục tiêu đào tạo của nhà trường, đồng thời phải phù hợp với từng đối tượng, chuyên ngành đào tạo, từng hoạt động GDPL
Trang 33Mục tiêu của hoạt động GDPL phải hướng vào ba mức độ cụ thể đó là mục tiêu nhận thức, mục tiêu thái độ, niềm tin vào pháp luật và mục tiêu hành vi pháp luật cho SV Các chủ thể quản lý hoạt động GDPL cần nắm vững mục tiêu hoạt động GDPL
và triển khai thực hiện phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị theo sự phân công, phối hợp
Nhìn chung, việc quản lý mục tiêu hoạt động GDPL sẽ phải thông qua các mục tiêu cụ thể của hoạt động xây dựng nội dung các học phần pháp luật đại cương, chuyên ngành; xây dựng hệ thống các quy chế nội bộ của cơ sở giáo dục đại học; nội dung các hoạt động ngoại khóa; kế hoạch, phương pháp, hình thức hoạt động GDPL
1.4.2 Quản lý nội dung hoạt động giáo dục pháp luật
Nội dung quản lý hoạt động GDPL là hệ thống kiến thức pháp luật cần thiết để cung cấp cho SV và do đó, việc quản lý nội dung hoạt động GDPL phải hướng đến việc lựa chọn nội dung, xây dựng các nội dung GDPL phù hợp, hướng tới các mục tiêu giáo dục đào tạo, nhu cầu của xã hội Việc quản lý nội dung hoạt động GDPL có có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo các nội dung này có thời lượng hợp lý, phù hợp với bản chất, xu thế của các quy định pháp luật, kịp thời điều chỉnh, cập nhật các kiến thức pháp luật đã thay đổi trong quá trình đào tạo tại trường
Quản lý nội dung hoạt động GDPL phải đảm bảo việc tổ chức thực hiện đúng và chất lượng các chương trình môn học của khối đại cương, chuyên ngành, chương trình ngoại khóa nhằm cung cấp khối lượng và chất lượng kiến thức pháp luật cho SV theo đúng với mục tiêu đào tạo nói chung, mục tiêu hoạt động GDPL nói riêng, tạo khả năng vận dụng kiến thức có được vào các điều kiện thực tiễn Cụ thể, đối với các học phần trong chương trình chính khóa phải đảm bảo thời lượng, khối lượng theo quy định của Bộ Giáo dục và đào tạo; đối với chương trình ngoại khóa cần bám sát các quy định của cơ quan cấp trên, địa phương nơi diễn ra hoặc quản lý các hoạt động này
Để quản lý nội dung hoạt động GDPL, chủ thể quản lý cần xây dựng kế hoạch hoạt động GDPL hàng năm hoặc định kỳ Việc xây dựng kế hoạch cần đảm bảo đối với các hoạt động chính khóa phải có kế hoạch giảng dạy (mục tiêu học phần, thời gian và phân bổ thời gian cho khoá học, thời gian đến lớp, thời gian tự học,…), tổ chức thảo luận, xây dựng các chuyên đề pháp luật và quản lý các SV tham gia; đối với các hoạt động ngoại khóa phải bám sát kế hoạch hoạt động chính khóa, thực tiễn của nhà trường, các cơ quan, đơn vị phối hợp nhằm đảm bảo tính khả thi, thiết thực phù hợp với đối tượng được giáo dục
Trong quá trình xây dựng nội dung hoạt động GDPL cần phải tiến hành thu thập thông tin để có những điều chỉnh cần thiết về nguồn lực, hình thức, phương pháp hoạt động GDPL cũng như tiến độ thực hiện, kiểm tra việc tuân thủ các yêu cầu GDPL
Trang 34Đồng thời, triển khai phân công cho giảng viên nghiên cứu nắm bắt chương trình, nội dung hoạt động GDPL để chủ động chuẩn bị tài liệu cần thiết phục vụ nhu cầu và nâng cao chất lượng hoạt động GDPL cho SV tại các trường Đại học
1.4.3 Quản lý hình thức hoạt động giáo dục pháp luật
Quản lý hình thức hoạt động GDPL nghĩa là các chủ thể quản lý phải quản lý cả quy trình tổ chức thực hiện hoạt động GDPL cho SV thông qua các hình thức chính khóa hay ngoại khóa Việc quản lý này, chủ thể quản lý phải lựa chọn hình thức nào, cách thức tổ chức, đối tượng được GDPL, nội dung GDPL phù hợp từng giai đoạn, nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục đào tạo của trường Đại học
Hiện nay, hầu hết các trường Đại học đều tổ chức các hình thức GDPL phổ biến như giáo dục chính khóa, thông qua công tác truyên truyền, phổ biến pháp luật; hệ thống thông tin trên các bản phát thanh của Đoàn Thanh niên; đối với SV chuyên ngành có thể áp dụng hình thức GDPL thông qua các lĩnh vực hoạt động pháp lý thực tiễn; giáo dục bằng các hoạt động xã hội khác như: tư vấn, giải đáp PL, dịch vụ pháp lý, Nhìn một cách tổng thể, mỗi một hình thức sẽ có những hiệu quả khác nhau và do vậy, với những mục tiêu giáo dục đào tạo đa chiều thì cần phải phối kết hợp các hình thức GDPL khác nhau để tạo nên hiệu quả cộng hưởng đối với công tác GDPL; đồng thời, tùy đối tượng được GDPL lựa chọn hình thức GDPL nào chính yếu, hình thức GDPL nào là bổ trợ
Về mặt thực tế, để công tác GDPL đem lại hiệu quả cao, các trường Đại học không thể vận dụng duy nhất một hình thức nào đó mà cần sử dụng đồng bộ nhiều hình thức khác nhau và với sự kết hợp này thì cần đảm các điều kiện về nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, sự phối hợp thực hiện của các chủ thể quản lý
1.4.4 Quản lý đối tượng được giáo dục pháp luật
Đối tượng được GDPL tại các cơ sở giáo dục Đại học là SV, đây chính là lực lượng lao động trẻ, có chất lượng trong tương lai của đất nước Vì vậy, việc đào tạo một người phát triển toàn diện là yêu cầu cần thiết, phù hợp với xu thế phát triển, bao gồm việc đào tạo kiến thức chuyên môn và giáo dục ý thức pháp luật Đứng trước thách thức của mặt trái nền kinh tế đó là các tệ nạn xã hội và sự gia tăng lối sống thực dụng, sống gấp,… đồng thời, xét về đặc điểm tâm sinh lý của SV, rất dễ chịu sự ảnh hưởng của môi trường xã hội nên theo quan điểm của nhà nước phải GDPL cho SV Với vai trò quan trọng như vậy, các chủ thể quản lý cũng cần phải quản lý các đối tượng được GDPL này để đạt được mục tiêu của giáo dục đào tạo và khi quản lý các đối tượng này, chủ thể quản lý cần chú ý một số vấn đề sau:
SV là đối tượng dễ chịu ảnh hưởng tác động bên ngoài của xã hội, do đó, GDPL cần dựa theo lứa tuổi, giới tính, xuất thân, quê quán, tôn giáo, ngành nghề đào tạo để
Trang 35lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức hoạt động GDPL phù hợp hướng đến tác động vào chính nhận thức, tình cảm, cảm xúc, hành vi cụ thể của SV phù hợp với quy định pháp luật
Quản lý đối tượng được GDPL chính là quản lý ý thức, trách nhiệm trong quá trình học tập; quán triệt mục tiêu, nội dung, hình thức hoạt động GDPL cho SV trong các hoạt động chính khóa, ngoại khóa và các hoạt động giao tiếp, sinh hoạt tập thể đối với thầy cô, bạn bè, gia đình và xã hội
Chủ thể quản lý cần nắm bắt kịp thời những biểu hiện hành vi của SV, kịp thời phát hiện hành vi vi phạm, điều chỉnh các hành vi theo khuôn mẫu pháp luật nhằm thực hiện mục tiêu của hoạt động GDPL; đồng thời, phải tạo ra môi trường văn hóa pháp lý, tổ chức hoạt động tự quản và phối hợp với các chủ thể khác trong công tác quản lý đối tượng được GDPL
Nhìn chung, quản lý đối tượng được GDPL là sự tác động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên đối tượng được GDPL và điều đó tạo cho chủ thể quản lý xác định các nội dung, hình thức, phương tiện, biện pháp phù hợp tác động vào đối tượng một cách có hiệu quả
1.4.5 Quản lý chủ thể tổ chức hoạt động giáo dục pháp luật
Chủ thể tổ chức hoạt động GDPL thông thường bao gồm nhóm chủ thể lãnh đạo, quản lý, nhóm chủ thể trực tiếp giảng dạy kiến thức về pháp luật và nhóm chủ thể hỗ trợ; mỗi nhóm có chức năng và nhiệm vụ riêng theo sự phân công, cùng phối hợp trong tổ chức hoạt động GDPL Chủ thể này chính là lực lượng trực tiếp quản lý, điều hành thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ của GDPL, vì vậy, cần phải quản lý chủ thể này để tạo ra sự chủ động về xây dựng thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ của GDPL và cơ chế phối hợp linh hoạt giữa các chủ thể Trong quá trình quản lý chủ thể tổ chức hoạt động GDPL có hiệu quả cần quan tâm một số vấn đề sau:
Vấn đề nhận thức của chủ thể quản lý, họ phải thấy được trách nhiệm của mình trong hoạt động GDPL cho SV và xem như là nhiệm vụ của tập thể nhà trường, cùng thực hiện, sáng tạo để đạt mục tiêu hoạt động giáo dục nói chung, mục tiêu của hoạt động GDPL nói riêng
Phân định rõ về chức năng, nhiệm vụ của từng chủ thể; sự phối hợp và chỉ đạo thống nhất các lực lượng trong việc tổ chức quản lý các hoạt động GDPL từ khâu xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát, cụ thể như: Ban Giám hiệu nhà trường kết hợp cùng Đảng ủy xây dựng chiến lược, kế hoạch và chỉ đạo tổng thể việc thực hiện hoạt động GDPL; đội ngũ giảng viên là người trực tiếp chuyển tải kiến thức pháp luật và cũng chính là người nắm bắt kịp thời những vướng mắc, hạn chế trong tổ chức thực hiện và kiến nghị, tham mưu cho Ban Giám hiệu nhà trường; nhóm
Trang 36chủ thể Hội, đoàn thể hỗ trợ các hoạt động học tập, sinh hoạt ngoại khóa cho SV, thông qua các hoạt động phong trào để đẩy mạnh công tác GDPL
Lựa chọn những người làm công tác GDPL, đặc biệt chủ thể trực tiếp phải là người có khả năng tuyên truyền, phẩm chất, năng lực, trình độ, mức độ am hiểu chuyên sâu về pháp luật, về tâm sinh lý của SV
Quản lý thông qua công tác giáo viên cố vấn vì chính họ là người hướng dẫn, tổ chức, theo dõi mọi diễn biến trong hoạt động GDPL cho SV; đánh giá kết quả rèn luyện và cầu nối giữa nhà trường với gia đình Ngoài ra, nhà trường cũng cần quan tâm đến sự phối hợp với các chủ thể bên ngoài, nhằm hỗ trợ kiến thức pháp luật thực tiễn, vận dụng khả năng giải quyết các tình huống pháp lý và nhà trường đạt mục tiêu hoạt động GDPL, mục tiêu giáo dục
1.4.6 Quản lý kiểm tra, đánh giá về hoạt động giáo dục pháp luật
Kiểm tra, đánh giá hoạt động GDPL cho SV chính là việc xác định kết quả đạt được so với mục tiêu theo kế hoạch đề ra; kiểm tra, giám sát quy trình tổ chức thực hiện nhằm phát hiện sai sót và kịp thời điều chỉnh; kiểm tra, đánh giá về nội dung, phương pháp, hình thức, chủ thể thực hiện có phù hợp, phối hợp hay không Bản chất của quá trình kiểm tra chính là hệ thống phản hồi về kết quả hoạt động, đồng thời cung cấp thông tin cho hoạt động truyền thông tiếp theo
Để thực hiện việc kiểm tra, đánh giá về hoạt động GDPL cho SV, chủ thể quản lý cần quan tâm một số vấn đề, cụ thể:
Kiểm tra SV thông qua một số tiêu chí như: kết quả các bài thi các học phần liên quan đến nội dung pháp luật trong chương trình đào tạo; nắm nội quy, quy chế, chấp hành các quy định của nhà trường; một số kiến thức pháp luật khác trong công tác ngoại khóa Để thực hiện vấn đề này, các trường có thể thu thập thông tin thông qua công tác tổ chức các kỳ thi hết học phần trong đó có các học phần về pháp luật; bố trí lực lượng theo dõi tình tình chấp hành nội quy, quy chế; tọa đàm khoa học tìm hiểu về pháp luật trong SV
Xây dựng các hình thức kiểm tra dựa trên mục tiêu, hình thức, phương pháp của hoạt động GDPL và có thể kiểm tra trực tiếp, gián tiếp thông qua chính các lực lượng tham gia hoạt động GDPL Hiện nay, hình thức kiểm tra thường xuyên sử dụng đó là hình thức kiểm tra định kỳ kết hợp hình thức kiểm tra đột xuất, Ban Giám hiệu cần sử dụng linh động, thường xuyên theo dõi, kiểm tra để kịp thời phát hiện những sai sót, điều chỉnh hoạt động GDPL phù hợp và đạt hiệu quả cao hơn
Tổng kết kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị thực hiện GDPL, có những đánh giá trên cơ sở nhiệm vụ đã giao, so sánh việc hoàn thành nhiệm
vụ giữa các đơn vị và tổ chức tổng kết kinh nghiệm, xem xét và lựa chọn những điển
Trang 37hình cần tiếp tục thực hiện, định hướng phát triển nghiệp vụ cho lực lượng thực hiện công tác GDPL
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên trường Đại học
1.5.1 Nhóm các yếu tố chủ quan
Thứ nhất, nhận thức là yếu tố quyết định các hành động của các chủ thể tham gia
trong hoạt động GDPL, việc nhận thức đúng hay sai sẽ chi phối việc thực hiện pháp luật với tinh thần tự nguyện, tự giác, ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ Chủ thể quản
lý là người trực tiếp tổ chức truyền đạt các quy định pháp luật đến SV, những hành động của họ đúng hay sai sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp nhận, tuân thủ pháp luật của SV, tham gia hỗ trợ pháp lý đối với các quan hệ xã hội và hiệu quả hoạt động GDPL Vì vậy, để nhận thức đúng về hoạt động GDPL của chủ thể tham gia, cần phải nhận thức đúng quyền, nghĩa vụ, chịu trách nhiệm; tổ chức thực hiện nhiệm vụ, cách thức thực hiện tốt nhất theo kế hoạch, sự phân công và kết quả đạt được
Thứ hai, năng lực của chủ thể quản lý nói chung, chủ thể trực tiếp giảng dạy pháp
luật được hiểu là kiến thức, kỹ năng, thái độ và đặc biệt đối với chủ thể quản lý vừa phải có năng lực chuyên môn vừa phải có kỹ năng lãnh đạo, quản lý thể hiện qua: khẳng định vai trò của chủ thể quản lý trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
về hoạt động GDPL của nhà trường trong hội nhập và phát triển, cũng như quyết định việc thực hiện hoạt động GDPL có hiệu quả là quan trọng nhất, quyết định thành công hay thất bại của hoạt động này Vì vậy, trước tiên, chủ thể quản lý có kiến thức rộng và khả năng bao quát; có kiến thức về lãnh đạo, quản lý; hiểu biết và vận dụng tinh thông chính sách, pháp luật của nhà nước; ngoài ra, phải có tư duy sâu sắc dựa trên việc sử dụng kiến thức của cá nhân để giải quyết vấn đề, đưa ra các mục tiêu, nội dung, phương pháp phù hợp với đối tượng được GDPL Riêng đối với Ban Giám hiệu cần có
kỹ năng của một nhà lãnh đạo, quản lý về dự báo tình huống, ứng xử với các tình huống bất ngờ; kỹ năng giao tiếp; có khả năng thu hút người tham gia vào hoạt động GDPL; truyền cảm hứng làm việc cho mọi người
Thứ ba, yếu tố tổ chức quản lý hoạt động GDPL, yếu tố này ảnh hưởng toàn bộ
quá trình từ khâu lập kế hoạch, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và kiểm tra đánh giá; làm công tác quản lý GDPL sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động GDPL cho SV Vì vậy, tổ chức quản lý phải lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp, nhân sự hay trang bị cơ sở vật chất như thế nào trên cơ sở kế hoạch đã xây dựng, dự báo các tình huống có thể xảy ra; phải tiến hành quản lý với mức độ thường xuyên; định hướng quản lý hoạt động GDPL phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, nhu cầu của SV
Thứ tư, đặc điểm tâm sinh lý của SV, SV là những người trẻ, có tri thức, khả
Trang 38năng tiếp nhận cái mới nhanh và linh hoạt, thích nghi kịp thời với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại; độ tuổi trẻ nên nhận thức, bản lĩnh đối với mặt trái nền kinh
tế, với những cám dỗ còn yếu, dễ bị dụ dỗ; lối sống thực dụng, muốn thể hiện vai trò
cá nhân, sự du nhập văn hóa phương Tây, sự phát triển công nghệ thông tin đã hình thành tư tưởng hưởng thụ, ăn chơi, đua đòi, chịu tác động của tệ nạn xã hội, quan niệm đạo đức, thực hiện hành vi trong một bộ phận SV đang bị lệch chuẩn mực đạo đức, quy định pháp luật Do đó, việc hiểu đặc điểm tâm sinh lý của SV là cơ sở khoa học cho công tác GDPL, quản lý hoạt động GDPL, xây dựng kế hoạch, biện pháp quản lý công tác GDPL phù hợp
1.5.2 Nhóm các yếu tố khách quan
Thứ nhất, yếu tố pháp luật, các chính sách, pháp luật về giáo dục vừa là cơ sở
pháp lý vừa là một yếu tố thúc đẩy hoạt động GDPL nói chung và GDPL cho SV trong các trường Đại học nói riêng Hoạt động GDPL diễn ra thường xuyên, có hiệu quả sẽ tạo những điều kiện thuận lợi để xây dựng nguồn nhân lực có năng lực chuyên môn, yêu nghề, có kiến thức pháp luật theo yêu cầu của xã hội; khắc phục những bất cập trong hệ thống pháp luật Vì vậy, việc xây dựng và ban hành pháp luật đúng đắn, bắt kịp xu thế phát triển kinh tế xã hội, quy luật kinh tế sẽ tác động rất lớn đến việc lựa chọn nội dung, hình thức của hoạt động GDPL, kịp thời điều chỉnh hành vi của SV, cung cấp nền tảng pháp lý để áp dụng vào các tình huống thực tiễn
Thứ hai, cơ sở vật chất cho hoạt động GDPL, bao gồm tài chính, trang thiết bị,
phòng học, là điều kiện để thực hiện hoạt động GDPL và quản lý hoạt động GDPL, do
đó, có thể khẳng định rằng mọi hoạt động GDPL trong nhà trường muốn tổ chức tốt cần phải có nguồn lực và cơ sở vật chất đủ mạnh Các trường Đại học cần căn cứ vào
kế hoạch, mục tiêu của GDPL, tình hình thực tế cơ sở vật chất để khai thác và sử dụng tối đa công năng của nó, đồng thời huy động sự ủng hộ của các lực lượng khác nhằm tăng cường hơn nữa yếu tố này, có như vậy việc tổ chức, quản lý các hoạt động GDPL mới được tổ chức đa dạng, phong phú và khả thi
Thứ ba, yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội, là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến
khuynh hướng phát triển của giáo dục đào tạo nói chung, hoạt động GDPL nói riêng với những mức độ khác nhau Trường hợp điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội ổn định thì việc thực hiện quản lý hoạt động GDPL có khả năng đạt kết quả đề ra và ngược lại
vì nhận thức, đặc điểm tâm sinh lý của SV gắn liền với sự phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội sẽ tác động vào thái độ tham gia của họ vào các hoạt động GDPL
Trong các yếu tố đó, khi nghiên cứu về quản lý hoạt động GDPL, có lẽ văn hóa của đất nước, địa phương và đặc biệt là văn hóa quản lý của nhà trường tác động đến mức độ tham gia của SV rất lớn, đặc biệt trong trường hợp yếu tố pháp luật chưa hoàn
Trang 39thiện khi điều chỉnh các quan hệ xã hội Yếu tố văn hóa là các giá trị, chuẩn mực, lề lối làm việc đã được xây dựng trong quá trình phát triển của của đất nước, địa phương, nhà trường, đến lượt nó tác động, chi phối tình cảm, hành vi, trách nhiệm của SV và khiến cho SV thực hiện nhiệm vụ một cách tự giác, bổn phận phải làm để không làm ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của nhà trường, gia đình; có thái độ ứng xử đúng chuẩn mực đạo đức và quy định pháp luật Như vậy, việc tổ chức và quản lý hoạt động GDPL cho SV cần hết sức coi trọng thực tế, đặc điểm văn hóa địa phương, nhà trường, đồng thời, phải kết hợp với các yếu tố khác về văn hóa giáo tiếp, trang phục…
Trang 40Tiểu kết Chương 1
Qua việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên trường Đại học, tác giả luận văn rút ra một số kết luận như sau: Thứ nhất, quan niệm về giáo dục nói chung, giáo dục pháp luật nói riêng của các nước phụ thuộc vào nền giáo dục, văn hóa quốc gia, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi Tác giả hệ thống hóa một số quan niệm về quản lý, quản lý giáo dục, pháp luật, giáo dục pháp luật cho sinh viên trường Đại học, quản lý hoạt động giáo dục pháp luật và xác định nghiên cứu giáo dục pháp luật và quản lý hoạt động giáo dục pháp luật theo nghĩa hẹp với mục tiêu phát triển con người toàn diện
Thứ hai, xác định các hình thức hoạt động giáo dục pháp luật và phân tích làm rõ các hình thức phù hợp với sinh viên không chuyên luật và sinh viên chuyên ngành luật; các chủ thể tham gia hoạt động giáo dục pháp luật bao gồm: chủ thể quản lý trong
đó đề cao trách nhiệm của giảng viên trực tiếp truyền đạt kiến thức pháp luật; sinh viên
là đối tượng được giáo dục pháp luật; Hội, đoàn thể, gia đình, chủ thể bên ngoài với tư cách là nhóm hỗ trợ hiệu quả hoạt động giáo dục pháp luật Đồng thời, xác định nội dung hoạt động tham gia giáo dục pháp luật gồm: nhóm kiến thức đại cương, chuyên ngành và chuyên ngành luật
Thứ ba, xác định nội dung quản lý hoạt động giáo dục pháp luật bao gồm: Quản
lý mục tiêu của hoạt động giáo dục pháp luật; quản lý nội dung hoạt động giáo dục pháp luật; quản lý hình thức hoạt động giáo dục pháp luật; quản lý đối tượng được giáo dục pháp luật; quản lý chủ thể tổ chức hoạt động giáo dục pháp luật; quản lý kiểm tra, đánh giá về hoạt động giáo dục pháp luật Mỗi một nội dung quản lý góp phần vào tổng thể hiệu quả của công tác quản lý hoạt động giáo dục pháp luật
Thứ tư, khẳng định quản lý hoạt động giáo dục pháp luật chịu tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau, nhưng nhìn chung, tác giả luận văn chỉ nghiên cứu một số yếu tố với mức độ tác động vào hiệu quả của quản lý hoạt động giáo dục pháp luật như nhận thức của chủ thể tham gia, năng lực của chủ thể quản lý, tổ chức quản lý hoạt động giáo dục pháp luật, đặc điểm tâm sinh lý của sinh viên, yếu tố pháp luật, cơ sở vật chất, yếu tố kinh tế văn hóa, xã hội