1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018

117 134 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Hệ Thống Hóa Thuật Ngữ Và Danh Pháp Hóa Học Vô Cơ Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới 2018
Tác giả Đinh Thị Huyên
Người hướng dẫn ThS. Bùi Ngọc Phương Châu
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Sư phạm Hóa học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 2,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt đối với giáo viên Hóa học và HS đang phải tiếp cận với chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục về việc sử dụng các thuật ngữ hóa học và danh pháp theo khuyến nghị củ

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA HÓA HỌC

ĐINH THỊ HUYÊN

NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG HÓA THUẬT NGỮ VÀ DANH PHÁP HÓA HỌC VÔ CƠ TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 2018

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CỬ NHÂN SƯ PHẠM HÓA HỌC

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA HÓA HỌC

Đề tài:

NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG HÓA THUẬT NGỮ VÀ DANH PHÁP HÓA HỌC VÔ CƠ TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 2018

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CỬ NHÂN SƯ PHẠM HÓA HỌC

Sinh viên thực hiện : Đinh Thị Huyên

Giảng viên hướng dẫn: ThS Bùi Ngọc Phương Châu

Đà Nẵng, tháng 05 năm 2021

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

2.1.Đối tượng nghiên cứu 3

2.2.Phạm vi nghiên cứu 3

3.Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4.Phương pháp nghiên cứu 3

4.1.Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 3

4.2.Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4

4.3.Phương pháp thống kê toán học 4

5.Đóng góp của đề tài 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC HỆ THỐNG HÓA THUẬT NGỮ VÀ DANH PHÁP HÓA HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 2018 5

1.1.Sơ lược về danh pháp và thuật ngữ hóa học Việt Nam 5

1.1.1.Tình hình trước năm 1975 5

1.1.1.1.Danh pháp và thuật ngữ hóa học ở miền Bắc trước năm 1975 5

1.1.1.2.Danh pháp và thuật ngữ hóa học ở miền Nam trước năm 1975 8

1.1.2.Tình hình sau năm 1975 9

1.2.Danh pháp IUPAC (International Union of Pure and Applied Chemistry Nomenclature) 10

1.3.Khảo sát mức độ hiểu biết về thuật ngữ và danh pháp hóa học theo chương trình giáo dục phổ thông mới 11

1.3.1.Mục đích khảo sát 11

1.3.2.Đối tượng khảo sát 11

1.3.3.Nội dung khảo sát 11

1.3.4.Tiến hành khảo sát 11

1.3.5.Kết quả khảo sát 11

Trang 4

CHƯƠNG 2 THUẬT NGỮ VÀ DANH PHÁP HÓA HỌC TRONG CHƯƠNG

TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI NĂM 2018 18

2.1.Những thay đổi về thuật ngữ và danh danh pháp hóa học trong chương trình GDPT mới năm 2018 18

2.1.1.Những điểm mới về thuật ngữ và danh pháp hóa học trong chương trình GDPT mới năm 2018 18

2.1.2.Nguyên tắc sử dụng thuật ngữ và danh pháp hóa học trong chương trình GDPT mới năm 2018 18

2.2.Thuật ngữ trong chương trình giáo dục phổ thống mới 2018 19

2.2.1.Thuật ngữ hóa học phiên chuyển chuyển từ tiếng nước ngoài 19

2.2.2.Thuật ngữ hóa học bằng tiếng Việt 24

2.3.Danh pháp các nguyên tố hóa học 31

2.4.Danh pháp các hợp chất vô cơ 39

2.4.1.Cách gọi tên oxide (oxit) 39

2.4.2.Cách gọi tên hydroxide (hiđroxit) của kim loại 41

2.4.3.Cách gọi tên acid (axit) 42

2.4.3.1.Cách gọi tên acid không có oxygen 42

2.4.3.2.Cách gọi tên acid có oxygen 43

2.4.4.Cách gọi tên muối 44

2.5.Danh pháp phần phức chất trong chương trình GDPT mới 2018 47

2.5.1.Phức chất 47

2.5.2.Quy tắc đọc tên phức chất trong chương trình GDPT mới 2018 47

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 52

3.2.Chuẩn bị trước thực nghiệm sư phạm 52

3.2.1.Chọn đối tượng và địa bàn thực nghiệm 52

3.2.2.Chọn giáo viên thực nghiệm 52

3.2.3.Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 52

3.2.4.Chọn bài thực nghiệm 53

3.3.Tiến hành thực nghiệm sư phạm 53

3.4.Kết quả thực nghiệm sư phạm 54

3.4.1.Phương pháp xử lí 54

3.4.2.Xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm 56

3.5.Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 61

3.5.1.Phân tích kết quả về mặt định tính 61

3.5.2.Phân tích kết quả về mặt định lượng 62

Trang 5

3.5.3.Nhận xét 63

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC 68

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của em, với sự hướng dẫn của ThS Bùi Ngọc Phương Châu Nội dung nghiên cứu cũng như các số liệu trong bài báo cáo là hoàn toàn trung thực và chưa từng công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào khác Những nội dung của khóa luận có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web được liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo của khóa luận

Đà Nẵng, ngày 06 tháng 05 năm 2020

Sinh viên thực hiện

Đinh Thị Huyên

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành đề tài “nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh

pháp hóa học vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018”, em đã nhận

được sự hỗ trợ, giúp đỡ cũng như là quan tâm, động viên từ nhiều cơ quan, tổ chức và các cá nhân Đề tài trên hoàn thành dựa trên nhiều sự tham khảo, học tập kinh nghiệm

từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các sách báo chuyên ngành của nhiều tác giả, … Đặc biệt hơn nữa là sự hướng dẫn nhiệt tình, sự chỉ dạy của các giảng viên tại trường

ĐH Sư Phạm - Đại học Đà Nẵng và các giáo viên THCS và THPT thuộc nhiều trường

và ở nhiều địa phương khác nhau Ngoài ra còn sự giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần đến từ phía gia đình, bạn bè và quý thầy cô giáo

Trước hết, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Bùi Ngọc Phương Châu - giảng viên trực tiếp hướng dẫn đề tài khóa luận tốt nghiệp và giành nhiều thời gian, công sức chỉ dạy, góp ý và hướng dẫn nhóm trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Tiếp theo em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Sư Phạm - Đại học Đà Nẵng cùng toàn thể các thầy cô giáo tại trường đặc biệt là quý thầy cô giáo thuộc khoa Hóa học của trường đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ cho nhóm chúng em trong quá trình học tập và hoàn thành đề tài

Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong đề tài nghiên cứu khoa học này không tránh khỏi những thiếu sót Em kính mong quý thầy cô, các chuyên gia, những người quan tâm đến đề tài, gia đình và bạn vè tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, ngày 06 tháng 05 năm 2021

Sinh viên thực hiện khóa luận

Đinh Thị Huyên

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Anh

24

phiên âm tiếng Anh theo IUPAC

35

theo IUPAC

44

tra 15 nội dung “Điều chế oxi- phản ứng phân hủy”

56

tra 15 phút nội dung bài “Nước”

57

Trang 10

Bảng 3.8 Thống kê các thông số đặc trưng của lớp thực nghiệm và lớp

đối chứng theo từng bài kiểm tra

59

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra "Điều chế khí oxi -

Phản ứng phân hủy"

57

Hình 3.3 Đồ thị biểu diễn phân loại kết quả bài kiểm tra thực nhiệm "Điều

chế khí oxi - Phản ứng phân hủy"

60

Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn phân loại kết quả bài kiểm tra thực nghiệm

"Nước"

60

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hóa học là một trong những ngành khoa học sử dụng khối lượng lớn thuật ngữ và danh pháp nên việc nghiên cứu về hệ thống thuật ngữ và danh pháp hóa học luôn là mối quan tâm lớn Từ cuối thế kỷ 19, tên các hợp chất hóa học đều là tên thông thường hoặc tên có tính hệ thống với số lượng rất ít Năm 1892 tại Geneve, Hội nghị Hóa học thế giới đã đưa ra đề xuất đầu tiên về một hệ thống danh pháp có tính quốc tế Từ đó danh pháp Geneve dần được phổ biến rộng rãi Năm 1919, Hiệp hội quốc tế Hóa học thuần túy và ứng dụng (International Union of Pure and Applied Chemistry – IUPAC) được thành lập và đảm nhận việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống danh pháp Hóa học từ năm

1921 đến nay Danh pháp IUPAC được toàn thế giới công nhận làm cơ sở để đặt tên cho các nguyên tố và hợp chất hóa học [9]

Ở nước ta, một số nguyên tố và hợp chất hóa học được đặt theo tên Việt hoặc Hán–Việt, ví dụ như vàng, bạc, đồng hay thạch cao, cồn, … nhưng số lượng các hóa chất như vậy không nhiều Đa số các tên gọi còn lại đều được phiên chuyển từ tiếng nước ngoài

ra tiếng Việt Năm 1942, GS Hoàng Xuân Hãn đã cho xuất bản cuốn từ điển “Danh từ Khoa học”, trong đó có một phần dành cho hóa học gồm cách gọi tên nguyên tố, các hóa chất, quá trình hóa học Sau GS Hoàng Xuân Hãn, việc biên soạn danh từ hóa học được tiếp nối bởi nhiều nhà khoa học mà tiêu biểu là GS Nguyễn Thạc Cát (miền Bắc)

và GS Lê Văn Thới (miền Nam) Tuy nhiên, do cách tiếp cận khác nhau nên dẫn đến tình trạng phiên chuyển không thống nhất, tên hóa chất được viết dưới nhiều dạng khác nhau Do đó, sau khi thống nhất nước nhà, giới khoa học đã không có một hệ thống chung về thuật ngữ và danh pháp hóa học Đây là nỗi băn khoăn của tất cả những người làm việc trong lĩnh vực hóa học, đặc biệt là trong giới giảng dạy và nghiên cứu [9] Trong bối cảnh đó, Hội Hóa học Việt Nam đã thực hiện đề tài “Xây dựng hệ thống Danh pháp và Thuật ngữ Hóa học Việt Nam” từ năm 2005 đến năm 2008 và cho xuất bản cuốn Danh pháp và Thuật ngữ Hóa học Việt Nam vào năm 2010 với nội dung xây dựng một hệ thống danh pháp và thuật ngữ hóa học khả dĩ, có thể cung cấp cho người làm việc trong lĩnh vực hóa học cũng như các lĩnh vực liên quan những hướng dẫn thỏa đáng trong việc sử dụng thuật ngữ và danh pháp hóa học [9] Tuy nhiên, vẫn chưa có sự

Trang 13

dấu v.v… Đến nay, nhiều tài liệu tham khảo vẫn không thống nhất được tên của những nguyên tố thông dụng như hidro hay hiđro, có nơi lại viết hydro hoặc là hyđro

Hiện nay, quá trình toàn cầu hóa và sự giao lưu Quốc tế ngày càng mạnh mẽ, đòi hỏi mỗi người cần phải trang bị cho mình một nền tảng, một công cụ hỗ trợ thiết yếu để tránh cho mình bị lạc hậu về kiến thức Đối với đặc thù của ngành sư phạm, mỗi giáo viên cần trang bị cho mình vốn ngoại ngữ chuyên ngành để có thể tham khảo tài liệu nước ngoài một cách thuận tiện và giúp nâng cao kiến thức của bản thân từ đó nâng cao nội dung bài dạy và giúp đỡ HS trong quá trình tự học Đặc biệt đối với giáo viên Hóa học và HS đang phải tiếp cận với chương trình giáo dục phổ thông mới của Bộ Giáo dục

về việc sử dụng các thuật ngữ hóa học và danh pháp theo khuyến nghị của IUPAC (International Union of Pure and Applied Chemistry) thì việc nâng cao khả năng sử dụng các thuật ngữ và danh pháp chuyên ngành của GV là vô cùng cần thiết

Ngày 26/12/2018 Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành chính thức về chương trình giáo dục phổ thông mới môn Hóa học [5] So với chương trình GDPT hiện hành thì chương trình này có nhiều điểm mới về nội dung và cách thức tổ chức thực hiện đặc biệt việc đọc tên các danh pháp hóa học vô cơ theo khuyến nghị của IUPAC bằng tiếng Anh

Do vấn đề phiên chuyển và việc sắp xếp lại thứ từ các từ tố làm cho việc đọc tên các danh pháp hóa học vô cơ ở nước ta hiện nay khác so với các đọc tên theo khuyến nghị của IUPAC Như đối với các acid (axit), khi đọc tên do vấn đề sắp xếp thứ tự từ tố phần

acid được xem là quan trọng hơn nên được viết trước và tên gọi được viết sau khác với

việc đọc tên trong hệ thống danh pháp IUPAC Ví dụ như HCl được đọc tên là axit

clohiđric khác với tên theo khuyến nghị của IUPAC là hydrochloric acid Và một phần

do vấn đề phiên chuyển như “acid” đã bị phiên chuyển thành “axit”, danh pháp các nguyên tố cũng bị phiên chuyển như nguyên tố Cl được đọc là “clo” thay vì “chlorine”

Điều này gây khó khăn trong việc tìm hiểu tài liệu và gây khó khăn cho cả HS và GV trong quá trình áp dụng CT GDPT mới Vì vậy việc hệ thống hóa lại hệ thống thuật ngữ

và danh pháp hóa học vô cơ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho GV và HS tra cứu, tham khảo phục vụ cho quá trình dạy và học

Đề tài “nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong

chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018” là một đề tài vô cùng cấp bách và

cần thiết trong công cuộc cải cách, đổi mới giáo dục

Trang 14

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ được sử dụng trong môn Hóa học ở trường THPT và THCS theo chương trình giáo dục phổ thông mới

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài “nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ

và danh pháp hóa học vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018”.

- Phân tích nội dung, thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới So sánh các thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ theo chương trình GDPT hiện hành và theo khuyến nghị của IUPAC

- Hệ thống hóa bảng thuật ngữ hóa học và quy tắc gọi tên các chất vô cơ theo khuyến nghị của IUPAC áp dụng vào dạy học môn Hóa học

- Điều tra, tìm hiểu về thực trạng dạy học và sử dụng các thuật ngữ học và danh pháp hóa học vô cơ theo khuyến nghị của IUPAC ở các trường THCS và THPT hiện nay

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá khả năng tiếp cận của HS trong việc sử dụng các danh pháp và thuật ngữ hóa học đã hệ thống hóa bằng tiếng Anh theo khuyến nghị IUPAC

4 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng các nhóm phương pháp sau:

4.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Đọc và tìm kiếm các nguồn tài liệu: SGK, sách tham khảo… để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

Trang 15

- Nghiên cứu các thuật ngữ và danh pháp hóa học được sử dụng trong chương trình GDPT mới 2018

- So sánh, hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ theo khuyến nghị của IUPAC

- Sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết

- Sử dụng phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết

4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Quan sát sư phạm, điều tra về việc sử dụng thuật ngữ và danh pháp hóa học được sử

dụng trong dạy và học ở trường THCS và THPT

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia hay chính là việc trao đổi với kinh nghiệm với giáo

viên hóa học, các chuyên gia có năng lực, kinh nghiệm về việc sử dụng các thuật ngữ

và danh pháp hóa học trong giảng dạy và trong quá trình tham khảo các tài liệu

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm, kiểm nghiệm về việc sử dụng các thuật ngữ và

danh pháp hóa học trong quá trình dạy và học: bằng các phiếu khảo sát và thực hiện

phỏng vấn giáo viên và tiến hành trắc nghiệm đối với học sinh

4.3 Phương pháp thống kê toán học

Dùng phương pháp toán học thống kê để xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm

5 Đóng góp của đề tài

- Tổng quan về việc sử dụng các thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong việc dạy

và học môn hóa học ở trường THCS và THPT

- Hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong môn hóa học chương trình GDPT mới

- Đề xuất các phương án để sử dụng thuật ngữ và danh pháp hóa học trong việc dạy và học môn hóa học ở trường theo chương trình GDPT mới

Trang 16

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC HỆ THỐNG HÓA THUẬT NGỮ VÀ DANH PHÁP HÓA HỌC TRONG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO

DỤC PHỔ THÔNG MỚI 2018 1.1 Sơ lược về danh pháp và thuật ngữ hóa học Việt Nam

1.1.1 Tình hình trước năm 1975

Ngay từ trước năm 1975, ở miền Bắc và miền Nam đã tồn tại (chính thống hoặc không chính thống) những quy tắc khác nhau về danh pháp và thuật ngữ hóa học dẫn đến tình trạng không nhất quán

1.1.1.1 Danh pháp và thuật ngữ hóa học ở miền Bắc trước năm 1975

Năm 1960, Ban Khoa học cơ bản thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước đưa ra “Quy định tạm thời về những nguyên tắc biên soạn danh từ khoa học tự nhiên” [11] Bản quy định tạm thời này đã đề ra được các tiêu chuẩn của một danh từ hóa học và đã đề nghị

đặt thêm một số vần mới như như c (đọc là x trước e, i, y), f, j, p (đứng trước một nguyên

âm), w, z (thay cho d), br, cl, cr, dr, pl, pr, ps, sp, sc, st, tr, ec, el, es, al, ol, ic, yl, ad, id,

od, oz bổ sung vào hệ thống âm tiết của Việt Nam [12] Đã có nhiều ý kiến trái chiều

xoay quanh các quy định này Nhiều ý kiến phản đối vì cho rằng những quy định này rườm rà và phi thực tế không giúp gì được nhiều Ngược lại vẫn có những ý kiến ủng

hộ cho rằng việc mạnh dạn đưa thêm những âm, vần mới vào là chìa khóa để dễ phiên

âm các danh từ quốc tế sau này

Trong thời kì này, cộng đồng Hóa học còn nhỏ, các sách, tài liệu hóa học phần lớn bằng tiếng Nga nên khi dịch hoặc diễn giải nội dung bằng sách tiếng Việt thì phần lớn người ta sử dụng những thuật ngữ trong “Danh từ hóa học” của GS Bùi Xuân Hãn, nếu không thì tự đặt ra thuật ngữ mà mình cho là thích hợp hoặc sử dụng cách diễn đạt thông qua tiếng nước ngoài

Năm 1964, GS Nguyễn Thạc Cát công bố một bản Dự thảo về thuật ngữ và danh pháp hóa học [8] Đây là nền tảng của các phương án phiên chuyển tên các nguyên tố

và hợp chất hay tên gọi của các nguyên tố và hợp chất xuất hiện trong SGK, tạp chí, …

sử dụng trước năm 1975 mà tác giả là người miền Bắc, đặc biệt là trong Tự điển Bách Khoa Việt Nam phần lớn dựa theo các quy định trong bản Dự thảo này [6] Bản dự thảo

đã đưa ra nguyên tắc chung về danh pháp và thuật ngữ tiếng Việt, đối với danh pháp hóa

Trang 17

trong nhiều trường hợp có thể dựa vào thuật ngữ nước ngoài nhưng cần sửa đổi sao cho đồng hóa với tiếng Việt nhưng không quá xa với thuật ngữ của nhiều nước Có thể tóm lược một số quy tắc trong bản dự thảo như sau:

 Các phiên chuyển các thuật ngữ (đơn chất và hợp chất)

- Rút gọn (chỉ cần giữ lại những âm tiết chính đủ nhận ra thuật ngữ (tên) gốc Ví dụ: oxi, hidro, natri… Không dùng thanh dấu trong mọi trường hợp

- Về phụ âm: Có thể viết liền hai phụ âm, nhưng cố gắng chỉ áp dụng ở đầu thuật ngữ (các phụ âm kép) Ví dụ franxi, brom… Còn ở các vị trí khác thì thêm nguyên âm i ở giữa cho dễ đọc như osimi (Os), cadimi (Cd),…

- Về nguyên âm: Thay y bằng i trong mọi trường hợp, trừ trong tên và kí hiệu nguyên tố và gốc hữu cơ

- Về vần ngược: Ở vị trí phụ âm cuối của vần ngược, đổi b,f và v thành d; d và s thành t; l thành n (iot, molipden,…) trừ trong các vần al, ol, yl trong hữu cơ Bỏ

r trong các vần ngược ar, er, or (agon, asen,…)

- Giữ nguyên các tiền tố như trans, cis,…

- Thêm r giữa âm tiết tận cùng bằng một nguyên âm và âm tiết tiếp theo bắt bầu

bằng một nguyên âm để tránh nhầm lẫn âm tiết Ví dụ: clorua, peroxit,…

- Nếu dùng thuật ngữ các ngành khác thì viết y nguyên các thuật ngữ đó

- Tên các nguyên tố hóa học: Các nguyên tố có tên Việt thì viết tên Việt, đồng thời viết tên Latin trong ngoặc đơn bên cạnh

- Tên phần dương viết trước, phần âm viết sau Quy tắc này đến năm 1971 IUPAC mới đưa ra

- Dùng hậu tố ua thay cho hậu tố ure trong tiếng Pháp và ide trong tiếng Anh

(bromua, cacbua,…)

- Đối với các axit có hậu tố ique trong tiếng Pháp và ic trong tiếng Anh thì dùng hậu tố ic (sunfuric, nitric,…) Đối với các axit có hậu tố eux trong tiếng Pháp và

ous trong tiếng Anh thì dùng hậu tố ơ (sunfurơ, clorơ,…)

- Các muối của axit có hậu tố ic thì chuyển thành hậu tố at (sunfat, nitrat,…), còn muối của axit có hậu tố ơ thì chuyển thành hậu tố it (sunfit, nitrit,…)

Trang 18

- Trong công thức các phức chất, nguyên tử trung tâm viết đầu tiên, sau đó lần lượt tới các phối tử âm, trung tính và dương, nhưng trong tên gọi thì nguyên tử trung tâm viết sau tất cả các phối tử Ví dụ:

Nguyên tắc chung là theo danh pháp Geneve, tên gọi các hợp chất hữu cơ tùy thuộc vào: (i) Cấu tạo mạch cacbon chính của hợp chất; (ii) Tính chất, số lượng cùng thứ

tự ưu tiên của các nhóm thế; (iii) Đặt tên thế nào cho đơn giản nhất Tên gọi gồm 3 phần: Tên của mạch cacbon chính, tiếp đầu ngữ (tiền tố), tiếp vị ngữ (hậu tố) Ngoài danh pháp Geneve, danh pháp thông dụng vẫn được sử dụng

Có thể đưa ra nhận xét chung về tình hình sử dụng thuật ngữ và danh pháp hóa học

ở miền Bắc trước năm 1975 như sau: đối với cấu trúc về từ tố đa phần đã tuân thủ các quy tắc được cộng đồng quốc tế công nhận, tuy nhiên vẫn còn một số tranh luận nhưng không phải là trở ngại đáng kể Điểm duy nhất có lẽ là không có sự khác biệt giữa các phương án phiên chuyển là viết liền các vần như trong tiếng nước ngoài chứ không chia tách các âm ra bằng dấu gạch nối Hai nội dung có thể coi là quan trọng trong thực tế

phiên chuyển là các vần ngược và phụ âm c ở vần đầu có sự thống nhất khá cao tuy

nhiên vẫn còn một số ngoại lệ xuất phát từ sự đáp ứng chưa cao của các nguyên tắc đề

ra Đối với cách phiên chuyển tên các nguyên tố, đơn chất và hợp chất có nhiều ý kiến nhưng nhìn chung về cách phiên chuyển đã có sự thống nhất cao, quy tắc rút gọn cũng được đa số các tác giả, nhà khoa học ủng hộ hoàn toàn Mặc dù việc bỏ dấu mũ hay giữ nguyên vẫn chưa được nhất quán trong một xuất bản, hoặc cùng một tác giả nhưng tên

của một nguyên tố được viết không thống nhất như “ete” hay “ête”, “oxi” hay “ôxi”,

… sự chưa nhất quán này vẫn tồn tại trong các sách giáo khoa phổ thông hiện nay Nhìn chung có thể thấy rằng xu thế viết từ mượn nước ngoài sát với mặt chữ gốc rất đáng khích lệ Nhưng trong hầu hết các trường hợp cần phiên chuyển thì việc đề xuất các phương án liên quan đến chính tả tiếng Việt đều khó thực hiện để thỏa mãn các yêu cầu đối với một thuật ngữ hóa học vừa phải “đại chúng” để dễ đọc, dễ nhớ, vừa phải

“khoa học” để có tính hệ thống, chính xác, tạo thuận lợi trong giao tiếp, hội nhập, và phát triển

Trang 19

1.1.1.2 Danh pháp và thuật ngữ hóa học ở miền Nam trước năm 1975

Năm 1962, GS Lê Văn Thới đã chủ trì biên soạn quyển “Danh từ hóa học” [10] Năm 1967, Bộ Giáo dục miền Nam đã đề ra nghị định thành lập “Ủy ban quốc gia soạn thảo danh từ chuyên môn” do GS.Lê Văn Thới làm chủ tịch có nhiệm vụ đặt ra nguyên tắc phiên dịch và phiên âm ra các danh từ chuyên môn cần thiết Phần tổng quan này dựa vào những đề xuất của GS Lê Văn Thới [10] (được đưa ra từ năm 1962 và tổng kết lại năm 1972 cũng như bài viết của tác giả Lê Văn Thới và Nguyễn Văn dương) [13] Ngoài các nội dung trong nguyên tắc chung đã được GS Hoàng Xuân Hãn đề xuất,

Ủy ban đã đề xuất thêm một một số ý tưởng có thể được coi là táo bạo trong phương châm xây dựng hệ thống danh pháp và thuật ngữ tại miền Nam Có thể tóm lược các đề xuất của Ủy ban soạn thảo như sau:

 Thu nạp thêm: phụ âm (f,j,w,z); phụ âm kép bl, br, cl, er, … ví dụ brom, clo, ;

những vần xuôi ce, ci, pa, pe, …; những vần ngược ab, ad, af, ar, al, ib,il, ob, ub,

… ví dụ alpha, carbon và những nguyên âm kép au, eu, …

 Việt hóa những vần mới thu nạp cụ thể: (i) các vàn ce, ci đọc như xe, xi; (ii) giữ

và cố gắng đọc các vần ngược al, el, il, ol, ul, as, …; (iii) thay thế y bằng i trong tất cả các trường hợp; (iv) bỏ phụ âm h câm (trừ tên nguyên tố Rhodium, Thorium) và nguyên âm e ở cuối; (v) các nguyên âm kép au, ai, eu, … được đọc theo âm Việt; (vi) dùng d thay đ; (vii) thay tiếp ngữ ase, ose bằng az, oz

 Tên các nguyên tố nên phiên âm đầy đủ, riêng đặc danh (nhân danh, địa danh) không phiên âm và đọc theo âm vận của nguyên xứ, dù đặc danh ấy được dung làm đơn vị

Các quy tắc do Ban soạn thảo quy định và được tuân thủ đầy đủ (trong SGK, sách khảo cứu, trong giảng dạy hằng ngày,… ) ở miền Nam và được đa số các nhà hóa học từng sống và làm việc ở miền Nam đồng ý và tuân theo Do được tuân thủ đầy đủ và nhất quán nên có thể nói rằng, các danh pháp và thuật ngữ hóa học ở miền Nam có phần đồng bộ hơn, tuy nhiên rõ ràng với những quy tắc phiên chuyển vẫn có một số điều chưa hợp lý và gây khó khăn trong cách đọc, đặc biệt trong các vần ngược không có trong tiếng Việt

Trang 20

sử dụng các yếu tố gốc Hán và gốc Pháp Trong khi xã hội không ngừng phát triển mạnh

mẽ, nhu cầu hội nhập và giao tiếp không ngừng tăng lên nhưng vấn đề thống nhất danh pháp và thuật ngữ khoa học nói chung và danh pháp, thuật ngữ hóa học nói riêng vẫn là một nhu cầu cấp bách và thiết yếu cần được thực hiện

Năm 1982, Bộ Giáo dục thành lập Hội đồng xét duyệt nguyên tắc chính tả trong sách cải cách giáo dục trong đó có nội dung quy tắc cụ thể về chính tả và thuật ngữ Tiếng Việt Trên cơ sở đó Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đã ký quyết định ban hành “Quy định về chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng Việt Bản quy định trên quy định các nguyên tắc chung về các quy tắc chuyển đổi và tiêu biểu nhất là đề cao tiêu chí về tính khoa học và tính quốc tế của thuật ngữ đặc biệt là thuật ngữ của các chuyên ngành hẹp

về khoa học và kỹ thuật và đặc biệt đi đến “chuẩn chính tả” và “phát âm thống nhất” các thuật ngữ và danh pháp trong cả nước Bản quy định cụ thể là:

 Chấp nhận các phụ âm đầu vốn không có trong tiếng Việt như p, z, w,…b, cr,

str… cũng như các phụ âm cuối không có trong tiếng Việt như b, d, f, g, l, r, s, v,

w, x,… đều được dùng

 Cần tôn trọng mối quan hệ có tính hệ thống giữa các thuật ngữ

 Chấp nhận những điều chỉnh rút gọn thuật ngữ tiếng nước ngoài như: met,

gram,… Tuy vậy, những điều chỉnh theo lối phiên âm một số âm tiết tiếng nước

ngoài như ce thành “xe”, cid thành “xit”, ur thành “ua”,… thì không được chấp nhận theo nguyên tắc chung đã dùng vào tiếng Việt Những chữ cái như c,d, s, r,

x,… được dùng vào bộ phận thuật ngữ không có giá trị phát âm riêng trong tiếng

Việt

Các quy định trên gần với các quy định được phổ biến tại miền Nam trước năm

1975 Mặc dù đã có quy định của Bộ Giáo dục, tình hình chung hầu như không có

Trang 21

tác giả miền Bắc soạn thảo), cũng như ở bậc đại học với mỗi giảng viên lại có một sách hoặc giáo trình khác nhau sử dụng cách phiên chuyển mà mình cho là hợp lý

Trong giới khoa học ở miền Bắc vẫn sử dụng các quy tắc phiên chuyển trong Bản

Dự thảo của GS Nguyễn Thạc Cát, ngoài ra những đề xuất tương tự vẫn được dùng rộng rãi dù không có sự nhất quán giữa các tác giả với nhau Năm 1991, Tổng cục Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng đã ban hành hai Tiêu chuẩn Việt Nam quy định một số quy tắc cơ bản về thuật ngữ và tên gọi các nguyên tố hóa học Đối chiếu các quy định trong hai tiêu chuẩn quốc gia này với các quy tắc trong Bản dự thảo của GS Nguyễn Thạc Cát thì thấy các quy định hầu như là giống nhau Những khác biệt là rất nhỏ và hầu như không đáng kể

Năm 2010, Bộ Khoa học và Công nghệ đã có quyết định số 2950/QĐ-BKHCN về Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5529:2010 “Thuật ngữ hóa học – Nguyên tắc cơ bản” và Tiêu chuẩn quốc gia TVCN 5530:2010 “Thuật ngữ hóa học – Danh pháp các nguyên tố

và hợp chất hóa học” và đưa ra yêu cầu triển khai áp dụng hai tiêu chuẩn quốc gia nói trên [13][14] Tuy nhiên với sự phát triển không ngừng của các ngành khoa học nói riêng

và đặc biệt là ngành khoa học hóa học, yêu cầu thống nhất, hội nhập quốc tế là một nhu cầu thiết yếu và cần thiết phải giải quyết cấp bách

1.2 Danh pháp IUPAC (International Union of Pure and Applied Chemistry

Nomenclature)

Danh pháp IUPAC là danh pháp Hóa học theo Liên minh quốc tế về Hóa học thuần

túy và Hóa học ứng dụng – IUPAC (International Union of Pure and Applicated Chemistry) IUPAC được thành lập năm 1919 với tư cách là tổ chức kế nhiệm của Đại hội Quốc tế về Hóa học ứng dụng vì sự tiến bộ của khoa học IUPAC là một liên đoàn quốc tế của các tổ chức gắn kết quốc gia đại diện cho các nhà hóa học ở các quốc gia riêng lẻ IUPAC được biết đến nhiều nhất với các công trình tiêu chuẩn hóa danh pháp trong hóa học Mặc dù, qua nhiều lần chỉnh lí, hệ thống Danh pháp IUPAC ngày càng

có tính khoa học và nhất quán cao, về cơ bản đáp ứng được sự phát triển nhanh chóng của các lĩnh vực hóa học, các nhà hóa học vẫn tiếp tục đối mặt với yêu cầu hoàn thiện các quy tắc của nó [16][26]

Trang 22

1.3 Khảo sát mức độ hiểu biết về thuật ngữ và danh pháp hóa học theo chương trình giáo dục phổ thông mới

1.3.1 Mục đích khảo sát

Nhằm tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của giáo viên khi sử dụng thuật ngữ

và danh pháp Hóa học trong chương trình GDPT mới 2018 Từ đó rút ra những kết luận cần thiết và đưa ra những kiến nghị kịp thời

1.3.2 Đối tượng khảo sát

- 16 GV tại các trường THPT Nguyễn Trãi, THPT Cẩm Lệ, THCS Lương Thế Vinh, THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm thuộc quận Liên Chiểu và Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng

- 13 GV công tác tại các trường THCS và THPT trên nhiều tỉnh thành trong cả nước

1.3.3 Nội dung khảo sát

- Hiểu biết của các GV về sự đổi mới về thuật ngữ và danh pháp hóa học trong chương trình GDPT mới 2018 của Bộ giáo dục

- Lợi ích khi chuyển đổi sang sử dụng thuật ngữ và danh pháp hóa học bằng tiếng Anh theo IUPAC trong giảng dạy

Nội dung thăm dò Số lượng, tỉ lệ %

Câu hỏi Trả lời Đồng ý Không

đồng ý

1 Thầy/cô đã biết về những

thay đổi về thuật ngữ và

(6,9%)

Trang 23

danh pháp hóa học trong

Đã được nghe/giới thiệu và có tìm hiểu ở mức độ cơ bản về sự

đổi mới

4 (13,8%)

Đã tìm hiểu kĩ và nắm được nội dung thay đổi trong việc

đổi mới

2 (6,9%)

Đã bắt đầu áp dụng sửa đổi mới trong việc dạy học cho học sinh trong các bài về chất,

bài thực hành

1 (3,4%)

2 Theo các thầy/cô, việc sử

Trang 24

trong quá trình giảng dạy

môn Hóa học ở trường

Anh theo khuyến nghị

của IUPAC trong quá

trình dạy và học môn

Hóa học

Giáo viên và học sinh dễ dàng tiếp cận được một khối lượng lớn tài liệu tham khảo trong

nước và nước ngoài

25 (86,2%)

4 (13,8%)

Khắc phục được sử dụng nhiều

quy tắc phiên chuyển phức tạp

21 (80,7%)

8 (18,3%) Tạo được sự thống nhất trong

hệ thống thuật ngữ và danh

pháp hóa học Việt Nam

21 (80,7%)

8 (18,3%)

5 Việc sử dụng thuật ngữ

và danh pháp hóa học

theo khuyến nghị của

IUPAC trong quá trình

dạy hóa học khiến các

6 (20,7%)

Bị lẫn lộn giữa tên nguyên tố

cũ và mới

25 (86,2%)

4 (13,8%) Chưa quen với cấu trúc gọi tên

mới của nhiều hợp chất vô cơ

và hữu cơ

20 (69,0%)

9 (31,0%)

Không biết cách đọc tên của các nguyên tố, hợp chất vô cơ

và hữu cơ bằng tiếng Anh

13 (44,8%)

16 (55,2%)

Phải cập nhật nhiều thuật ngữ

mới bằng tiếng Anh

29 (100%)

Trang 25

Không gặp nhiều khó khăn 2

(6,9%)

27 (93,1%)

6 Mức độ tiếp thu và hứng

thú của học sinh khi được

nghe được những thuật

ngữ và danh pháp hóa

học theo chương trình

giáo dục phổ thông mới

Hào hứng, vui vẻ, tiếp thu

nhanh

22 (75,9%)

7 (24,1%) Chỉ hào hứng lúc đầu, tiếp thu

chậm

5 (17,2%)

24 (82,8%) Không hào hứng, không tiếp

thu

2 (6,9%)

27 (93,1%)

7 Theo thầy/cô, khi tiến

Tên các nguyên tố hóa học

theo khuyến nghị của IUPAC

23 (79,3%)

6 (20,7%)

Hệ thống cách gọi tên các hợp chất vô cơ bằng tiếng Anh theo

khuyến nghị của IUPAC

18 (62,1%)

11 (37,9%)

Hệ thống cách gọi tên các hơp chất hữu cơ bằng tiếng Anh

theo khuyến nghị của IUPAC

20 (69,0%)

9 (31,0%)

Hệ thống thuật ngữ hóa học bằng tiếng Anh theo khuyến

nghị của IUPAC

27 (93,1%)

2 (6,9%)

Cách gọi tên phức chất bằng tiếng Anh theo khuyến nghị IUPAC vì đây là nội dung mới

được đưa vào

29 (100%)

8 Theo thầy/cô khi sử dụng

danh pháp và thuật ngữ

hóa học trong chương

trình giáo dục phổ thông

Học sinh THCS dễ dàng tiếp thu thuật ngữ và danh pháp

Hóa học

15 (51,7%)

14 (48,3%)

Học sinh THCS sẽ khó khăn trong quá trình tiếp thu các

19 (65,5%)

10 (34,5%)

Trang 26

Phân tích khảo sát:

- Về sự thay đổi liên quan đến thuật ngữ và danh pháp hóa học trong chương trình giáo dục mới năm 2018, đa số các GV đã được nghe giới thiệu về sự đổi mới nhưng vẫn còn 6,9% GV vẫn còn chưa nắm được thông tin về sự đổi mới này Tuy nhiên, phần lớn chiếm 69% các GV đã được nghe giới thiệu về sự đổi mới nhưng chưa nắm rõ cụ thể về nội dung và những điểm đổi mới Chỉ có 6,9% GV tìm hiểu kĩ và nắm được cụ thể các nội dung thay đổi và chỉ mới có 3,4% GV đã bắt đầu áp dụng những thay đổi về thuật ngữ và danh pháp hóa học vào việc giảng dạy cho HS

- Có hơn 50% các GV đã biết đến việc sử dụng thuật ngữ và danh pháp hóa học trong chương trình GDPT mới tuân theo nguyên tắc khoa học, nguyên tắc thống nhất và nguyên tắc hội nhập Tuy nhiên về nguyên tắc thực tế chỉ có 17,2% GV biết đến Đối với nguyên tắc kế thừa, có đến 27,6% GV chọn nguyên tắc này tuy nhiên nguyên tắc này lại không nằm trong 4 nguyên tắc mà việc sử dụng các thuật ngữ và danh pháp hóa học trong CT GDPT mới phải tuân theo

- Có đến 93,1% không sử dụng các thuật ngữ và danh pháp hóa học bằng tiếng Anh theo khuyến nghị của IUPAC trong quá trình giảng dạy và chỉ có 6,9% GV đôi khi sử dụng

Tỉ lệ áp dụng còn khá thấp và gây nhiều khó khăn trong quá trình đổi mới

- Trên 80% các GV đều đồng ý về những lợi ích khi sử dụng thuật ngữ và danh pháp hóa học bằng tiếng Anh theo khuyến nghị của IUPAC trong quá tình dạy và học môn hóa học như: GV và HS dễ dàng tiếp cận được một khối lượng lớn tài liệu tham khảo trong nước và nước ngoài; khắc phục được sử dụng nhiều quy tắc phiên chuyển phức tạp và tạo được sự thống nhất trong hệ thống thuật ngữ và danh pháp hóa học Việt Nam

chương trình hiện hành

22 (75,9%)

7 (24,1%)

Trang 27

Tuy nhiên, có 18,3% GV không đồng ý việc sử dụng thuật ngữ và danh pháp hóa học trong chương trình GDPT mới sẽ khắc phục được những quy tắc phiên chuyển phức tạp

và tạo sự thống nhất trong hệ thống thuật ngữ và danh pháp hóa học Việt Nam

- Đối với việc sử dụng thuật ngữ và danh pháp hóa học bằng tiếng Anh theo khuyến nghị của IUPAC, trên 65% các GV đồng ý vấn đề gặp nhiều khó khăn Khó khăn lớn nhất chiếm 100% các GV đồng ý là phải cập nhật thuật ngữ mới bằng tiếng Anh Ngoài

ra, các GV còn gặp phải các khó khăn về vấn đề bị lẫn lộn giữa tên nguyên tố cũ và mới (chiếm 86,2%) và phải nhớ được tên mới của các nguyên tố hóa học (chiếm 79,3%) Có tới 55,2 % các GV không đồng ý với ý kiến không biết cách đọc tên của các nguyên tố, hợp chất vô cơ và hữu cơ bằng tiếng Anh Điều này chứng tỏ việc đọc tên các nguyên

tố, hợp chất hữu cơ và vô cơ bằng tiếng Anh không phải khó khăn lớn đối với GV mà khó khăn nằm ở việc chưa quen với cấu trúc gọi tên mới của nhiều hợp chất vô cơ và hữu cơ (có 69% GV đồng ý)

- Đối với mức độ tiếp thu và hứng thú của HS khi được nghe những thuật ngữ và danh pháp hóa học theo chương trình GDPT mới thì hơn 75% các GV đồng ý rằng các HS hào hứng, vui vẻ và tiếp thu nhanh Điều đó cho thấy hiệu quả của việc áp dụng thuật ngữ và danh pháp hóa học theo CT GDPT mới vào giảng dạy giúp tăng hứng thú và giúp HS học tập hiệu quả hơn

- Hơn 60% các GV đều đồng ý rằng HS sẽ gặp khó khăn khi tiến hành áp dụng các thuật ngữ và danh pháp hóa học mới trong chương trình GDPT mới Khó khăn lớn nhất mà 100% các GV cho rằng HS gặp phải là về các gọi tên các phức chất vì đây là nội dung mới được đưa vào và hệ thống thuật ngữ mới cũng khiến các HS gặp khó khăn và có tới 93,1% GV đồng ý với ý kiến này Ngoài ra khó khăn về danh pháp các nguyên tố hóa học có tới 79,3% GV đồng ý Trên 60% GV cho rằng HS sẽ gặp khó khăn về danh pháp

vô cơ và hữu cơ sẽ gây cho HS khó khăn trong quá trình học Đối với những khó khăn trên thì HS THPT sẽ gặp khó khăn hơn so với HS THCS vì HS ở cấp THPT đã tiếp xúc

và quen với các thuật ngữ và danh pháp hóa học hiện hành (75,9% GV đồng ý) Tuy nhiên HS ở cấp THCS vẫn bị gặp một số khó khăn về vấn đề nhiều từ mới bằng tiếng Anh (65,5% GV đồng ý)

Trang 28

Tiểu kết khảo sát

Việc áp dụng những thuật ngữ và danh pháp hóa học bằng tiếng Anh theo khuyến nghị của IUPAC trong CT GDP mới năm 2018 giúp GV và HS dễ dàng tiếp cận khối lượng lớn tài liệu tham khảo phục vụ cho quá trình dạy và học ngoài ra còn khắc phục được vấn đề các quy tắc phiên chuyển phức tạp và tạo được sự thống nhất trong hệ thống thuật ngữ và danh pháp hóa học Việt Nam Tuy nhiên, việc sử dụng các thuật ngữ và danh pháp hóa học bằng tiếng Anh theo khuyến nghị của IUPAC khiên GV và HS gặp nhiều khó khăn liên quan đến hệ thống thuật ngữ hóa học bằng tiếng Anh và danh pháp hóa

học vô cơ Vì vậy đề tài “nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học

vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018” là thực sự cần thiết và

giúp đỡ cho GV và HS trong quá trình dạy và học

Trang 29

CHƯƠNG 2 THUẬT NGỮ VÀ DANH PHÁP HÓA HỌC TRONG CHƯƠNG

TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI NĂM 2018 2.1 Những thay đổi về thuật ngữ và danh danh pháp hóa học trong chương trình GDPT mới năm 2018

2.1.1 Những điểm mới về thuật ngữ và danh pháp hóa học trong chương trình GDPT mới năm 2018

- Khi gọi tên danh pháp các nguyên tố hóa học, ta giữ nguyên cách gọi đối với 13 nguyên

tố đã quen dùng trong tiếng Việt và đang được sử dụng rộng rãi là vàng (Au), bạc (Ag), đồng (Cu), chì (Pb), sắt (Fe), kẽm (Zn), lưu huỳnh (S), thiếc (Sn), nitơ (N), kali (K) và thủy ngân (Hg) Tuy nhiên, đối với hợp chất của các nguyên tố này vẫn gọi tên theo

khuyến nghị của IUPAC Ví dụ: trong hợp chất ta sẽ không gọi là “kẽm” mà thay vào

đó bằng danh pháp theo IUPAC của nó là “zinc”

- Hệ thống thuật ngữ hóa học trong chương trình phổ thông hiện hành đa số vẫn tiếp tục

sử dụng trong chương trình GDPT mới như độ âm điện, bảng tuần hoàn, cân bằng hóa học, … Tuy nhiên đối với những thuật ngữ phiên chuyển sẽ thay bằng những từ tiếng

Anh như acid sẽ thay cho axit, base sẽ thay cho bazơ, enthalpy sẽ thay cho entanpi…

- Đối với danh pháp các hợp chất vô cơ và hữu cơ, chúng ta sẽ thay các quy tắc đọc hiện hành bằng danh pháp theo khuyến nghị của IUPAC để đảm bảo tính “khoa học”, “thống

nhất” và “hội nhập” Thay vì gọi tên FeO là “sắt (II) oxit” như CTHH, ta sẽ gọi tên thành “iron (II) oxide” Hay đối với hợp chất hữu cơ “amilozơ” ta sẽ đọc bằng tên tiếng Anh theo IUPAC của nó là “amylose” thay cho tên cũ

- Ngoài ra, theo CT GDPT mới năm 2018 có đưa thêm phần nội dung phức chất vào chương trình giảng dạy Tương tự, danh pháp phức chất cũng được đọc tên tuân theo theo khuyến nghị của IUPAC [5]

2.1.2 Nguyên tắc sử dụng thuật ngữ và danh pháp hóa học trong chương trình GDPT mới năm 2018

Việc sử dụng các thuật ngữ Hóa học và danh pháp Hóa học trong giảng dạy môn Hóa học theo chương trình GDPT mới được Bộ GD&ĐT công bố vào ngày 26/12/2018 tuân thủ các nguyên tắc sau [5]:

Nguyên tắc khoa học: Khái niệm mà thuật ngữ biểu thị phải được cập nhật phù

hợp với sự phát triển của khoa học thế giới, hình thức thuật ngữ phải đảm bảo tính hệ thống

Trang 30

Nguyên tắc thống nhất: Thuật ngữ phải có cách hiểu thống nhất trong toàn bộ

Chương trình môn Hóa học và chương trình Giáo dục phổ thông nói chung

Nguyên tắc hội nhập: Danh pháp hóa học sử dụng theo khuyến nghị của Liên minh

Quốc tế về Hóa học thuần túy và Hóa học ứng dụng IUPAC ( International Union of Pure and Applied Chemistry) có tham khảo Tiêu chuẩn Việt Nam ( TCVN 5529:2010

và 5530:2010 của Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường Chất lượng, quyết định số QĐ/BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ), phù hợp với thực tiễn Việt Nam, từng bước đáp ứng yêu cầu thống nhất và hội nhập

2950-Nguyên tắc thực tế: Sử dụng tên 13 nguyên tố đã quen dung trong Tiếng Việt là

vàng, bạc, đồng, chì, sắt, nhôm, kẽm, lưu huỳnh, thiếc, nitơ, kali và thủy ngân; đồng thời có chú thích thuật ngữ Tiếng Anh để tiện tra cứu Hợp chất của các nguyên tố này được gọi tên theo khuyến nghị của IUPAC

2.2 Thuật ngữ trong chương trình giáo dục phổ thống mới 2018

Danh pháp hóa học (DPHH) và thuật ngữ hóa học (TNHH) là hai khái niệm đồng hành và liên quan chặt chẽ với nhau trong một kết cấu đến mức nhiều khi ta biện giải cho những quy tắc của DPHH nhưng cũng ngầm hiểu đó cũng là những quy tắc của TNHH và ngược lại Có thể coi TNHH là một từ hay tập hợp từ chỉ các khái niệm, hiện tượng và quá trình hóa học Hiện nay, số lượng các hợp chất hóa học đã lên đến vài chục triệu, hằng ngày xuất hiện hàng trăm, hàng vạn chất mới và số khái niệm và TNHH mới cũng rất nhiều Việc sử dụng và đặc tên các thuật ngữ hóa học làm sao phải biểu đạt chính xác khái niệm, hiện tượng và quá trình hóa học, đặc biệt là những khái niệm mới

mà không gây nhầm lẫn, mù mờ Có thể phân chia hệ thống thuật ngữ Hóa học thành 2 loại chính là thuật ngữ hóa học bằng tiếng Việt và thuật ngữ hóa học phiên chuyển từ tiếng nước ngoài

2.2.1 Thuật ngữ hóa học phiên chuyển chuyển từ tiếng nước ngoài

Một số thuật ngữ hóa học chỉ tồn tại và có ý nghĩa nhất định mà không có từ tiếng Việt nào mang nghĩa tương ứng Đối với những thuật ngữ đó, người Việt Nam chúng ta

sử dụng cách phiên chuyển sao cho các thuật ngữ đó gần gũi mang tính dân tộc và người

Việt có thể tiện phát âm và hiểu được Ví dụ như đối với “acid” trong tiếng Việt không

có từ ngữ tương đướng nhưng nếu viết như vậy thì không đúng theo ngữ pháp tiếng Việt

Trang 31

và theo qui tắc phiên chuyển thuật ngữ “acid” sẽ bị phiên chuyển thành “axit” Ngoài

ra có một số thuật ngữ hóa học vẫn giữ nguyên không bị phiên chuyển như cis, trans,… Đối với những thuật ngữ phiên chuyển, để tạo sự thống nhất và nhất quán thì trong

CT GDPT mới năm 2018 sẽ thay bằng những từ tiếng Anh như “acid” sẽ thay cho

“axit”, “base” sẽ thay cho “bazơ” hay “enthalpy” sẽ thay cho “entanpi” … Ngoài ra

những thuật ngữ hóa học như cis, trans, exo, … vẫn tiếp tục sử dụng [5]

Dưới đây là bảng tổng hợp các thuật ngữ hóa học trong CTHH được phiên chuyển

từ tiếng nước ngoài và tên gọi tương ứng của chúng trong CT mới

Bảng 2.1 Thuật ngữ hóa học theo CTHH và CTM

Trang 35

2.2.2 Thuật ngữ hóa học bằng tiếng Việt

Những thuật ngữ hóa học bằng tiếng Việt phải đảm bảo được tính xác khoa học và

hệ thống đảm bảo cho người đọc hiểu được và phải thỏa mãn tính hội nhập quốc tế Ngoài ra về mặt hình thức biểu đạt phải phải ngắn gọn súc tích, tường minh và rõ ràng

và mang đậm tính dân tộc Ví dụ colour có thể dịch là màu hoặc sắc nhưng nếu dịch là

màu sắc sẽ có âm hưởng hay hơn; hay precipitation khi dịch có nghĩa là kết hoặc tủa

nhưng nếu dịch là kết tủa ta sẽ nghe mạnh nghĩa hơn Ngoài ra còn một số thuật ngữ hóa

học bằng tiếng Việt ta như bảng tuần hoàn, độ âm điện, … hay tên gọi của các dụng cụ thí nghiệm quen thuộc như cốc, ống đong, … và những thuật ngữ này hiện đang sử dụng rộng rãi và phổ biến

Trong CT GDPT mới năm 2018 vẫn tiếp tục sử dụng những thuật ngữ hóa học bằng tiếng Việt lâu nay sử dụng trong CTHH như “độ âm điện”, “bảng tuần hoàn”,… như bình thường [5] Tuy nhiên, để tiện cho GV và HS trong quá trình tham khảo các tài liệu nước ngoài, chúng tôi vẫn tiến hành hệ thống hóa một số thuật ngữ bằng tiếng Anh tương ứng của một số thuật ngữ thông dụng và thường gặp trong chương trình GDPT Dưới đây là bảng một số thuật ngữ thông dụng được hệ thống hóa

Trang 36

Bảng 2.2 Một số thuật ngữ hóa học thường gặp bằng tiếng Việt và tiếng Anh

Chủ đề Tên sử dụng trong chương

Acid Weak acid Conjugate acid Acidity

Nguyên tố Nguyên tố tự nhiên

Element Native element

Cacbon

Cacbon bậc 1 Cacbon bậc 2 Cacbon bậc 3 Cacbon bất đối xứng

Primary carbon Secondary carbon Tertiary carbon Asymmetric carbon Vòng cacbon

Hợp chất vòng cacbon

Carbocycle Carbocyclic compound

Cao su

Cao su Cao su butadien

Rubber Alternative rubber

Trang 37

Cao su clo hóa

Sự lưu hóa cao su Cao su tổng hợp

Chlorinated rubber Thiprubber

Synthetis rubber

Cân bằng

hóa học

Cân bằng hóa học Hằng số cân bằng Phương trình cân bằng

Chemical balance Equilibrium constant Equilibrium expression

Mass Molecular weight Mass average Mass excess

Nồng độ Nồng độ mol

Concentration Molarity

Trang 38

Năng lượng Năng lượng liên kết

Energy Binding energy

Thể tích Hàm lượng

Độ chính xác Tần số

Volume Content Precision Frequency Thế năng

Động năng

Potential energy Kinetic energy

Điện phân, điện giải Điện phân nóng chảy

Electrolysis Electrolysic melting

Ion âm Ion dương

Anion Cation

Điện hóa Ăn mòn điện hóa

Galvanic corrosion

Trang 39

Điện ly Điện ly Electrolytic dissociation

Định luật Định luật Law

Đọc tên Tên gốc, danh pháp gốc Parent name

Đồng phân

Đồng phân cấu dạng Cấu dạng

Cấu dạng ghế Cấu dạng thuyền

Conformational isomer Conformation

Chair conformation Boat conformation

Đồng phân hình học Đồng phân quang học

Geometric isomer Optical isomer

Đồng đẳng

Chất đồng đẳng Dãy đồng đẳng Hợp chất đồng đẳng

Homolog Homologous series Homologous compound

Đồng vị Đồng vị Isotope

Electron

Electron không liên kết Electron ghép đôi Electron tự do

Non-bonding electron Paired electron

Free electron

Hóa học

Hóa trị

Hóa trị

Đa hóa trị Hóa trị chính

Valence Multivalent Chief valence

Trang 40

Hợp chất

Amin Amin bậc 1 Amin bậc 2 Amin bậc 3

Amine Primary amine Secondary amine Tertiary amine Halogen

Dẫn xuất halogen Nguyên tố halogen

Halogen Halogenated compound Haloid element

Hợp chất Hợp chất trung gian

Compound Intermediate compound Hợp chất thơm

Dẫn xuất thơm

Aromatic compound Aromatic derivative Phức

Hợp chất phức

Complex Complex compound

Hợp kim

Hợp kim Hợp kim nhôm Hợp kim gang

Alloy Aluminum alloy Cast alloy iron

Khí

Kim loại

Kim loại Kim loại kiềm Kim loại kiềm thổ Kim loại chuyển tiếp Kim loại quý

Kim loại màu

Metal Akali metals / alkaline Earth alkali metal Transition metal Noble metal Nonferrous metals

Ngày đăng: 31/05/2022, 11:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[8] Nguyễn Thạc Cát, Dự thảo “Thuật ngữ và Danh pháp Hóa học”, tập san Hóa học, tháng 3/1964 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ và Danh pháp Hóa học
[1] Bộ giáo dục và Đào tạo, Sách giáo khoa Hóa học 8, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019 Khác
[2] Bộ giáo dục và Đào tạo, Sách giáo khoa Hóa học 10, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018 Khác
[3] Bộ giáo dục và Đào tạo, Sách giáo khoa Hóa học 11, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018 Khác
[4] Bộ giáo dục và Đào tạo, Sách giáo khoa Hóa học 12, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018 Khác
[5] Bộ giáo dục và Đào tạo, tài liệu tìm hiểu chương trình môn Hóa học, 2019 Khác
[6] Ban biên tập Hóa học: Hồ Sĩ Thoảng, Đặng Như Tại, Chu Phạm Ngọc Sơn, Từ điển bách khoa Việt Nam, 1995 Khác
[7] Trần Thị Bình, Cơ sở Hóa học phức chất, NXB Khoa học kỹ thuật, 2008 Khác
[9] Hội Hóa học Việt Nam, Danh pháp và thuật ngữ Hóa học Việt Nam, NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội, 2010 Khác
[10] Lê Văn Thới, Nội san Danh từ chuyên môn số 1, Ủy ban quốc gia soạn thảo danh từ chuyên môn, Bộ giáo dục 1972 Khác
[12] Tin tức hoạt động khoa học, số 5,6/1960 Khác
[13] Tiêu chuẩn quốc gia, TCVN 5529-2010 về thuật ngữ và danh pháp các nguyên tố hợp chất hóa học Khác
[14] Tiêu chuẩn quốc gia, TCVN 5529-2010 về thuật ngữ và danh pháp các nguyên tố hợp chất hóa học Khác
[15] Ủy ban soạn thảo danh từ chuyên môn, Nội san Danh từ chuyên môn, số 1,2,3,4,5,6 Trung tâm học liệu, Sài Gòn 1970-1972.Tiếng Anh Khác
[16] International Union of Pure and Applied Chemistry (2009), IUPAC Council Agenda Book 2009 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Gv:SGK, phấn màu, bảng phụ bài tập 4 trang 41c - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
v SGK, phấn màu, bảng phụ bài tập 4 trang 41c (Trang 1)
- Giáo viên: Bảng phụ, phiếu học tập. - Học sinh :  Ôn tập và làm các bài tập VN. - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
i áo viên: Bảng phụ, phiếu học tập. - Học sinh : Ôn tập và làm các bài tập VN (Trang 5)
DANH MỤC HÌNH - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
DANH MỤC HÌNH (Trang 11)
Bảng 1.1. Bảng kết quả khảo sát - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
Bảng 1.1. Bảng kết quả khảo sát (Trang 22)
Bảng tuần hoàn - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
Bảng tu ần hoàn (Trang 36)
Bảng 2.3. Tên các nguyên tố hóa học thường gặp trong CTHH và tên, phiên âm tiếng Anh theo IUPAC - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
Bảng 2.3. Tên các nguyên tố hóa học thường gặp trong CTHH và tên, phiên âm tiếng Anh theo IUPAC (Trang 47)
Bảng 2.4. Tên thông thường của một số KL nhiều hóa trị - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
Bảng 2.4. Tên thông thường của một số KL nhiều hóa trị (Trang 51)
Bảng 2.5. Tên một số hợp chất khí với hydrogen - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
Bảng 2.5. Tên một số hợp chất khí với hydrogen (Trang 54)
Bảng 2.6. Tên ion và tên các oxoacid tương ứng của Cl - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
Bảng 2.6. Tên ion và tên các oxoacid tương ứng của Cl (Trang 55)
Dưới đây là bảng gồm tên gọi bằng tiếng Anh theo IUPAC của một số anion thường gặp trong CT GDPT mơi [20]: - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
i đây là bảng gồm tên gọi bằng tiếng Anh theo IUPAC của một số anion thường gặp trong CT GDPT mơi [20]: (Trang 56)
Bảng 3.1. Đối tượng thực nghiệm sư phạm - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
Bảng 3.1. Đối tượng thực nghiệm sư phạm (Trang 64)
Bảng 3.4. Thống kê điểm bài kiểm tra thực nghiệm - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
Bảng 3.4. Thống kê điểm bài kiểm tra thực nghiệm (Trang 67)
Bảng 3.5. Bảng phân phối tần số, tân suất và tần suất tích lũy bài kiểm tra 15 nội dung “Điều chế oxi- phản ứng phân hủy” - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
Bảng 3.5. Bảng phân phối tần số, tân suất và tần suất tích lũy bài kiểm tra 15 nội dung “Điều chế oxi- phản ứng phân hủy” (Trang 68)
Bảng 3.6. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy bài kiểm tra 15 phút nội dung bài “Nước” - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
Bảng 3.6. Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy bài kiểm tra 15 phút nội dung bài “Nước” (Trang 69)
Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra "Điều chế khí oxi- Phản ứng phân hủy" - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học vô cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018
Hình 3.1. Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra "Điều chế khí oxi- Phản ứng phân hủy" (Trang 69)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm