1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018

103 151 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Hệ Thống Hóa Thuật Ngữ Và Danh Pháp Hóa Học Hữu Cơ Trong Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới Năm 2018
Tác giả Huỳnh Đình Quang
Người hướng dẫn Bùi Ngọc Phương Châu
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Hóa Học
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với môn Hóa học, một trong những điểm mới quan trọng là danh pháp và thuật ngữ được sử dụng theo khuyến nghị của IUPAC có tham khảo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5529:2010 và 5530:2010 củ

Trang 1

NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG HÓA THUẬT NGỮ VÀ

DANH PHÁP HÓA HỌC HỮU CƠ TRONG

CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI

NĂM 2018

HUỲNH ĐÌNH QUANG

Đà Nẵng, tháng 05/2021

Trang 2

NGHIÊN CỨU HỆ THỐNG HÓA THUẬT NGỮ VÀ

DANH PHÁP HÓA HỌC HỮU CƠ TRONG

CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN v

DANH MỤC VIẾT TẮT vi

DANH MỤC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

2.1 Đối tượng nghiên cứu 2

2.2 Phạm vi nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu: 3

4.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết 3

4.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 3

4.3 Phương pháp thống kê toán học 4

5 Đóng góp của đề tài 4

6 Bố cục 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC HỆ THỐNG HÓA DANH PHÁP HÓA HỌC HỮU CƠ 5

1.1 Sơ lược lịch sử về danh pháp hóa học Việt Nam 5

1.1.1 Tình hình trước năm 1975 5

1.1.2 Tình hình sau năm 1975 12

1.2 Danh pháp IUPAC (International Union of Pure and Applied Chemistry Nomenclature) 16

1.3 Khảo sát mức độ thuận lợi và khó khăn khi sử dụng danh pháp hóa học theo chương trình phổ thông mới 16

1.3.1 Mục đích khảo sát 16

1.3.2 Đối tượng khảo sát 16

1.3.3 Nội dung khảo sát 16

1.3.4 Tiến hành khảo sát 17

1.3.5 Kết quả kháo sát 17

CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG HÓA THUẬT NGỮ VÀ DANH PHÁP HÓA HỌC HỮU CƠ TRONG CHƯƠNG TRÌNH GDPT MỚI NĂM 2018 21

2.1 Những thay đổi về thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình GDPT mới năm 2018 21

2.1.1 Những điểm mới về danh pháp hóa học trong chương trình GDPT mới 201821 2.1.2 Nguyên tắc sử dụng thuât ngữ và danh pháp hóa học trong chương trình GDPT mới 2018 21

Trang 4

2.2 Danh pháp hóa học hợp chất hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông

mới 2018 22

2.2.1 Hydrocarbon no 22

2.2.2 Hydrocarbon không no 33

2.2.3 Hydrocarbon thơm 38

2.2.4 Dẫn xuất halogen 41

2.2.5 Alcohol (Ancol) và phenol 43

2.2.6 Ether (Ete) 46

2.2.7 Aldehyde (Anđehit) 47

2.2.8 Ketone (xeton) 49

2.2.9 Carboxylic acid (Axit cacboxylic) 51

2.2.10 Ester (Este) 53

2.2.11 Amine (Amin) 54

2.2.12 Hợp chất hữu cơ tạp chất 56

2.2.13 Carbohydrate (Cacbohiđrat) 62

2.3 Hệ thống danh pháp hữu cơ theo chương trình hiện hành và chương trình mới

65

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 75

3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 75

3.2 Chuẩn bị trước thực nghiệm sư phạm 75

3.2.1 Chọn đối tượng và địa bàn thực nghiệm 75

3.2.2 Chọn giáo viên thực nghiệm 75

3.2.3 Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 75

3.3 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 76

3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 77

3.4.1 Phương pháp xử lí 77

3.4.2 Xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm 78

81

3.5 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 81

3.5.1 Phân tích kết quả về mặt định tính 81

3.5.2 Phân tích kết quả về mặt định lượng 82

3.5.3 Nhận xét 82

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

PHỤ LỤC 86

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành đề tài “Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và

danh pháp hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018” tôi đã

nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ cũng như là quan tâm, động viên từ nhiều cơ quan, tổ chức

và các cá nhân Đề tài trên hoàn thành dựa trên nhiều sự tham khảo, học tập kinh nghiệm

từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các sách báo chuyên ngành của nhiều tác giả, … Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và thành kính tới ThS Bùi Ngọc Phương Châu

đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Tôi xin trân trọng cảm ơn các giảng viên trong khoa Hóa, trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng, cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy, giúp đỡ tôi trưởng thành trong thời gian tôi học tập tại trường, đã tạo điều kiện và đóng góp ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành khóa luận

Tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu, các thầy, cô giáo giảng dạy

bộ môn Hóa học tại trường THPT Phan Châu Trinh – thành phố Đà Nẵng Đặc biệt xin cảm ơn cô Hoàng Thị Trâm Anh cùng các học sinh của các lớp 11/14, 11/16, 11/18 và 11/20 đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng thời gian có hạn nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những lời góp ý chân thành

Xin chân trọng cảm ơn!

Trang 6

DANH MỤC VIẾT TẮT

DPHH Danh pháp hóa học TNHH Thuật ngữ hóa học

CT Chương trình GDPT Giáo dục phổ thông CTHH Chương trình hiện hành CTM Chương trình mới THPT Trung học phổ thông THCS Trung học cơ sở

GV Giáo viên IUPAC International Union of Pure and Applied Chemistry

TN Thực nghiệm

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Kết quả khảo sát thuận lợi và khó khăn của HS khi tiếp cận

thuật ngữ và danh pháp hóa học theo CTM 7 Bảng 2.1 Tên gọi các alkane không phân nhánh theo CTHH và CTM 22 Bảng 2.2 Tên gọi thông thường của một số nhóm alkyl có nhánh 26 Bảng 2.3 Tên gọi các cycloalkane không nhánh theo CTM và CTHH 28

Bảng 2.4 Tên gọi thông thường được công nhận bởi IUPAC của một số

Bảng 2.5 Tên gọi một số nhóm chức là tiền tố theo CTM và CTHH 56 Bảng 2.6 Mức độ ưu tiên của một số nhóm chức 56

Bảng 2.8 Hệ thống danh pháp hóa học của các hợp chất hữu cơ trong

Bảng 3.2 Thống kê kết quả của bài kiểm tra thực nghiệm 78

Bảng 3.3 Bảng phân phối tần số, tân suất và tần suất tích lũy bài kiểm

Bảng 3.4 Phân loại kết quả bài kiểm tra thực nghiệm 80 Bảng 3.5 Tổng hợp các thông số đặc trưng 81

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Đồ thị kết quả bài kiểm tra thực nghiệm 80 Hình 3.2 Đồ thì đường tích lũy bài kiểm tra thực nghiệm 80 Hình 3.3 Đồ thị phân loại kết quả bài kiểm tra thực nghiệm 81

Trang 9

Ở nước ta, một số nguyên tố và hợp chất hóa học được đặt theo tên Việt hoặc Hán – Việt, Ví dụ: vàng, bạc, đồng hay thạch cao, cồn, … nhưng số lượng các hóa chất như vậy không nhiều Đa số các tên gọi còn lại đều được phiên chuyển từ tiếng nước ngoài

ra tiếng Việt Năm 1942, GS Hoàng Xuân Hãn đã cho xuất bản cuốn từ điển “Danh từ Khoa học”, trong đó có một phần dành cho hóa học gồm cách gọi tên nguyên tố, các hóa chất, quá trình hóa học Sau GS Hoàng Xuân Hãn, việc biên soạn danh từ hóa học được tiếp nối bởi nhiều nhà khoa học mà tiêu biểu là GS Nguyễn Thạc Cát (miền Bắc)

và GS Lê Văn Thới (miền Nam) Tuy nhiên, do cách tiếp cận khác nhau nên dẫn đến tình trạng phiên chuyển không thống nhất, tên hóa chất được viết dưới nhiều dạng khác nhau Do đó, sau khi thống nhất nước nhà, giới khoa học đã không có một hệ thống chung về thuật ngữ và danh pháp hóa học Đây là nỗi bức xúc của tất cả những người làm việc trong lĩnh vực hóa học, đặc biệt là trong giới giảng dạy và nghiên cứu

Trong bối cảnh đó, Hội Hóa học Việt Nam đã thực hiện đề tài “Xây dựng hệ thống Danh pháp và Thuật ngữ Hóa học Việt Nam” từ năm 2005 đến năm 2008 và cho xuất bản cuốn Danh pháp và Thuật ngữ Hóa học Việt Nam vào năm 2010 Mục đích của đề tài là xây dựng một hệ thống danh pháp và thuật ngữ hóa học khả dĩ, có thể cung cấp cho người làm việc trong lĩnh vực hóa học cũng như các lĩnh vực liên quan những hướng dẫn thỏa đáng trong việc sử dụng thuật ngữ và danh pháp hóa học Tuy nhiên, vẫn chưa

có sự nhất quán về các quy tắc phiên chuyển nguyên âm, phụ âm, rút gọn phụ âm, bỏ

Trang 10

thanh dấu v.v… Đến nay, nhiều tài liệu tham khảo vẫn không thống nhất được tên của những nguyên tố thông dụng như hidro hay hiđro, có nơi lại viết hydro hoặc là hyđro Ngày 26/12/2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố Chương trình giáo dục phổ thông (CTGDPT) mới, được thực hiện theo lộ trình bắt đầu từ năm 2020 Đối với môn Hóa học, một trong những điểm mới quan trọng là danh pháp và thuật ngữ được sử dụng theo khuyến nghị của IUPAC có tham khảo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5529:2010

và 5530:2010 của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng) [11] Sự thay đổi này từng bước đáp ứng yêu cầu thống nhất hệ thống danh pháp, thuật ngữ hóa học ở nước ta và yêu cầu hội nhập quốc tế Tuy nhiên, điều này cũng khiến giáo viên (GV), học sinh (HS) gặp nhiều khó khăn trong việc gọi tên các nguyên tố, hợp chất hóa học bằng tiếng Anh

vì đã quen với cách đọc, cách viết phiên chuyển, Việt hóa như lâu nay Do đó, GV và

HS cần có tài liệu tham khảo dễ đọc, dễ tra cứu để từng bước tiếp cận với sự thay đổi

này Xuất phát từ nhu cầu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu hệ thống hóa

thuật ngữ và danh pháp hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018” với mong muốn xây dựng một tài liệu học tập, tham khảo bổ ích, hỗ trợ cho GV

và HS tự học, tự nghiên cứu để có thể nhanh chóng “hòa nhập” với sự đổi mới

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Các danh pháp hợp chất hữu cơ được sử dụng trong môn Hóa học ở trường THPT

và THCS theo chương trình giáo dục phổ thông mới

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài “Nghiên cứu hệ thống hóa hệ

thống danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018

Trang 11

- Phân tích nội dung và danh pháp hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới So sánh các danh pháp theo chương trình GDPT hiện hành và theo khuyến nghị của IUPAC

- Xây dựng bảng hệ thống danh pháp hóa học và quy tắc gọi tên các hợp chất hữu

cơ theo khuyến nghị của IUPAC áp dụng vào dạy học môn hóa học

- Thiết kế giáo án dạy bài “LUYỆN TẬP ALKANE (ANKAN)” – Hóa học lớp 11

có sử dụng các danh pháp hóa học theo khuyến nghị của IUPAC

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá khả năng tiếp cận của học sinh đối với việc giảng dạy bằng thuật ngữ và danh pháp hóa học theo chương trình mới

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Đọc và tìm kiếm các nguồn tài liệu: SGK, sách tham khảo, … để xây dựng cơ sở

lý luận của đề tài

- Nghiên cứu các thuật ngữ và danh pháp hóa học được sử dụng trong chương trình GDPT

- So sánh, hệ thống danh pháp hóa học hợp chất hữu cơ theo khuyến nghị của IUPAC

- Sửdụng phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết

- Sử dụng phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết

- Sử dụng phương pháp giả thuyết

- Quan sát sư phạm, điều tra về việc sử dụng thuật ngữ và danh pháp hóa học được

sử dụng trong dạy và học ở trường THPT

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia hay chính là việc trao đổi với kinh nghiệm với giáo viên hóa học, các chuyên gia có năng lực, kinh nghiệm về việc sử dụng các thuật ngữ và danh pháp hóa học trong giảng dạy và trong quá trình tham khảo các tài

liệu

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm, kiểm nghiệm về việc sử dụng các thuật ngữ

và danh pháp hóa học trong quá trình dạy và học: bằng các phiếu khảo sát và thực hiện

phỏng vấn giáo viên và tiến hành trắc nghiệm đối với học sinh

Trang 12

4.3 Phương pháp thống kê toán học

Dùng phương pháp toán học thống kê để xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực thiễn của đề tài

Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Kết luận và kiến nghị

Trang 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC HỆ THỐNG HÓA

1.1.1 Tình hình trước năm 1975

Ngay từ trước cách mạnh tháng Tám, Năm 1942 GS Hoàng Xuân Hãn đã cho xuất bản cuốn “Danh từ Khoa học” [5], trong đó có phần dành cho hóa học gồm cách gọi tên nguyên tố, các hóa chất, đặt tên cho các khái niệm, hiện tượng và quá trình chuyển hóa hóa học Đây là một công trình khoa học hết sức có ý nghĩa, góp phần quan trọng trong việc giảng dạy và truyền bá, phổ biến các kiến thức hóa học (bằng tiếng Việt) ở nước ta, đồng thời mở đường cho các thế hệ đi sau tiếp tục xây dựng hệ thống thuật ngữ hóa học Việt Nam Trong bối cảnh ngày càng tăng cường giao lưu và hội nhập thế giới Sau GS.Hoàng Xuân Hãn, việc biên soạn được tiếp nối bởi nhiều nhà hóa học

mà tiêu biểu là GS.Nguyễn Thạc Cát (ở miền Bắc) và GS Lê Văn Thới (ở miền Nam)

Và bắt đầu từ thập niên 60, ở cả hai miền Nam, Bắc việc xây dựng hệ thống danh pháp tương đối khẩn trương, tuy nhiên, do cách tiếp cận có phần khác nhau, đã hình thành nên những sự khác biệt nhau trong các quy tắc phiên chuyển tên hóa chất và các thuật ngữ hóa học từ tiếng nước ngoài

1.1.1.1 Danh pháp và thuật ngữ hóa học ở miền Bắc trước năm 1975

Năm 1960, Ban Khoa học cơ bản thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước đưa ra “Quy định tạm thời về những nguyên tắc biên soạn danh từ khoa học tự nhiên” [9] Bản quy định tạm thời này đã đề ra các tiêu chuẩn của một danh từ khoa học phải “(i) Rõ ràng, không thể hiểu nhầm lẫn; mỗi ý, mỗi vật, mỗi hiện tượng phải có danh từ riêng để biểu hiện (ii) Ngắn, gọn, dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ (iii) Chú ý tới thói quen, chú ý khoa học hóa các danh từ phổ thông; đồng thời chú ý quốc tế hóa trong phạm vi cần thiết (iv) Chú ý những danh từ liên quan trong một hệ thống hoàn chỉnh” Bản quy định tạm thời

này đề nghị đặt thêm một số vần mới như c (đọc là x trước e, i, y), f, j, p (đứng trước

một nguyên âm), w, z (thay cho d), br, cl, cr, dr, pl, pr, ps, sp, sc, st, tr, ec, el, es, al, ol,

ic, yl, ad, id, od, oz Bản quy định tạm thời này nhận được nhiều ý kiến trái chiều Trong

đó một bộ phận cho rằng các quy định này không cần thiết vì nó rườm rà và không hiệu quả Mặt khác, một số người cho rằng nên tăng cường thêm những âm, vần mới này để giúp phiên chuyển những từ quốc tế mới

Trang 14

Thực tế thì thời kì đó yêu cầu cần có một hệ thống danh pháp và thuật ngữ hóa học chưa phải là thật cấp bách và những điều kiện để có hệ thống như vậy cũng chưa chín muồi Cộng đồng hóa học còn nhỏ, sách hóa học phần lớn bằng tiếng Nga Khi dịch hoặc diễn giải nội dung bằng sách bằng tiếng Việt thì người ta dùng những thuật ngữ

trong “Danh từ hóa học”, nếu không có thì tự đặt ra thuật ngữ mình cho là thích hợp

hoặc sử dụng cách diễn đạt thông qua tiếng nước ngoài Cho đến năm 1963, một nhóm các nhà hóa học chủ chốt của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, trong đó GS Nguyễn Thạc Cát đóng vai trò chủ đạo, đã cho xuất bản

“Từ điển hóa học Nga-Anh-Việt” gồm 15000 từ Trong cuốn từ điển tác giả đã nhấn mạnh phương châm “khoa học, dân tộc, đại chúng” và đã để ra một số nguyên tắc biên soạn phần tiếng Việt, có thể tóm tắt như sau:

(1) Đối với các chất chưa có tên tiếng Việt thì mượn từ của tiếng Âu và sửa lại sao cho gọn và dễ đọc Khi viết cố gắng theo mặt chữ của từ mượn, gặp vần không

có trong tiếng Việt thì thay bằng tiếng Việt có âm tương tự Khi đọc thì phát

âm theo tiếng Việt, dù không giống âm của tiếng mượn Ví dụ: Calcium →

Canxi, Acetate → Axetat,…

(2) Viết liền các âm tiết chứ không nối các âm tiết với nhau bằng gạch ngang

(3) Thêm phụ âm z thay cho d để dùng d thay cho đ; thêm f thay cho ph và bỏ h

trong phụ âm kép để viết cho sát với mặt chữ từ mượn Thêm một số phụ âm

ghép như br, cl, fl, dr, kr, pl, pr, sc, st,… để viết cho gọn tên các nguyên tố và

hợp chất; khi đọc thì theo lối đánh vần của tiếng Việt Thêm một số vần mới là

al, ol, yl để biểu thị các chức hóa học Ví dụ: Bromo → Brom, Acetal → Axetal, Chlorophenol → Clorophenol

(4) Đối với tên các nguyên tố, tìm cách giữ tên có đủ con chữ trong kí hiệu Ví dụ:

Hafnium (Hf) → Hafini, Zirconium → Ziriconi

(5) Không chấp nhận các vần ce, ci, cy như đề xuất của GS Hoàng Xuân Hãn và

Ban Khoa học cơ bản trong “Quy định tạm thời về những nguyên tắc biên soạn

danh từ khoa học tự nhiên” mà viết thành xe, xi, xy Ví dụ: Aceton → Axeton (6) Phụ âm r ở vần ngược hoặc bỏ đi, ví dụ, Argon → Agon, formic → fomic, hoặc chuyển thành c, ví dụ, carbon → carbon, terpen → tecpen Phụ âm s, phụ âm d ở vần ngược chuyển thành t, ví dụ, photpho, axit, gluxit,… Mặc dù chỉ chấp nhận phụ âm cuối l trong các trường hợp biểu thị các chức hóa học,

Trang 15

còn phụ âm cuối s thì, như đã chỉ trên đây, chuyền thành t, vẫn chấp nhận các phụ âm l và s trong hợp chất hữu cơ Ví dụ: chỉ viết canxi nhưng lại được viết

alcan, viết axit sunfuric nhưng lại viết aldehyt,…

(7) Giống như “Danh từ hóa học” của GS Hoàng Xuân Hãn, viết cả i và y như từ

mượn mà không đánh dấu sắc ở vần trắc

(8) Khác với GS Hoàng Xuân Hãn giữ nguyên phụ âm h trong các trường hợp có

âm vận trong tiếng Việt (li-thi, ru-then, mê-than, ê-thy-len,… ), các tác giả từ điển bỏ hết âm h, trừ trường hợp lithi

(9) Các đuôi ase, ose thuyền thành aza, oza, ví dụ, glucoza, amylaza, xenluloza,…

(10) Về tên các hợp chất, các tác giả đã chủ trương viết phần dương trước, phần

âm sau, ví dụ, natri clorua (NaCl), chứ không phải viết cơ-lo-rua na-tri như

GS Hoàng Xuân Hãn Quy định này phù hợp với quy tắc của IUPAC được đưa ra sau đó mấy năm (1971)

Năm 1964, GS Nguyễn Thạc Cát công bố một bản Dự thảo về thuật ngữ và danh pháp hóa học [6] Thực tế, các phương án phiên chuyển tên các nguyên tố và hợp chất cũng như cách gọi tên các hóa chất ở miền Bắc trước 1975 cũng như sau này trong các sách giáo khoa và tạp chí mà tác giả là người miền Bắc, đặc biệt là trong Tự điển Bách khoa Việt Nam phần lớn dựa theo các quy định trong bản Dự thảo này Về nguyên tắc,

bản Dự thảo cho rằng “Danh pháp hóa học tiếng Việt được xây dựng dựa trên danh pháp hóa học đã được nhiều hội nghị quốc tế công nhận, chỉ riêng phần thuật ngữ phải sửa đổi cho phù hợp với quy định về cách đặt thuật ngữ tiếng Việt trên cơ sở thuật ngữ nước ngoài… Đặt thuật ngữ hóa học tiếng Việt trong nhiều trường hợp có thể dựa vào thuật ngữ nước ngoài mà sửa đổi một cách sáng tạo sao cho đồng hóa vào tiếng Việt để

dễ nhớ, dễ đọc, nhưng không quá xa với thuật ngữ của nhiều nước Khi viết phải áp dụng nguyên tắc ngữ âm học, nghĩa là nói thế nào viết thế ấy và viết thế nào đọc thế ấy” Bản Dự thảo đưa ra các quy tắc có thể tóm lược như sau:

 Các phiên chuyển các thuật ngữ (đơn chất và hợp chất)

- Rút gọn (chỉ cần giữ lại những âm tiết chính đủ nhận ra thuật ngữ (tên) gốc Ví dụ: oxi, hidro, natri… Không dùng thanh dấu trong mọi trường hợp

Trang 16

- Về phụ âm: Có thể viết liền hai phụ âm, nhưng cố gắng chỉ áp dụng ở đầu thuật ngữ (các phụ âm kép) Ví dụ franxi, brom… Còn ở các vị trí khác thì thêm nguyên âm i ở giữa cho dễ đọc như osimi (Os), cadimi (Cd),…

- Về nguyên âm: Thay y bằng i trong mọi trường hợp, trừ trong tên và kí hiệu

nguyên tố và gốc hữu cơ

- Về vần ngược: Ở vị trí phụ âm cuối của vần ngược, đổi b,f và v thành d; d và s thành t; l thành n (iot, molipden,…) trừ trong các vần al, ol, yl trong hữu cơ Bỏ

r trong các vần ngược ar, er, or (agon, asen,…)

- Giữ nguyên các tiền tố như trans, cis,…

- Thêm r giữa âm tiết tận cùng bằng một nguyên âm và âm tiết tiếp theo bắt bầu

bằng một nguyên âm để tránh nhầm lẫn âm tiết Ví dụ: clorua, peroxit,…

- Nếu dùng thuật ngữ các ngành khác thì viết y nguyên các thuật ngữ đó

- Tên các nguyên tố hóa học: các nguyên tố có tên Việt thì viết tên Việt, đồng thời viết tên Latin trong ngoặc đơn bên cạnh

 Các quy định về tên các hợp chất vô cơ

- Tên phần dương viết trước, phần âm viết sau Quy tắc này đến năm 1971 IUPAC mới đưa ra

- Dùng hậu tố ua thay cho hậu tố ure trong tiếng Pháp và ide trong tiếng Anh

(bromua, cacbua,…)

- Đối với các axit có hậu tố ique trong tiếng Pháp và ic trong tiếng Anh thì dùng hậu tố ic (sunfuric, nitric,…) Đối với các axit có hậu tố eux trong tiếng Pháp và

ous trong tiếng Anh thì dùng hậu tố ơ (sunfurơ, clorơ,…)

- Các muối của axit có hậu tố ic thì chuyển thành hậu tố at (sunfat, nitrat,…), còn muối của axit có hậu tố ơ thì chuyển thành hậu tố it (sunfit, nitrit,…)

- Trong công thức các phức chất, nguyên tử trung tâm viết đầu tiên, sau đó lần lượt tới các phối tử âm, trung tính và dương, nhưng trong tên gọi thì nguyên tử trung tâm viết sau tất cả các phối tử Ví dụ:

[Pt(OH)2(NH3)4]2+ tetrammindihidroxoplatin(IV)

 Các quy định về tên các hợp chất hữu cơ

Nguyên tắc chung là theo danh pháp Geneve, tên gọi các hợp chất hữu cơ tùy thuộc vào: (i) Cấu tạo mạch cacbon chính của hợp chất; (ii) Tính chất, số lượng cùng thứ

Trang 17

tự ưu tiên của các nhóm thế; (iii) Đặt tên thế nào cho đơn giản nhất Tên gọi gồm 3 phần: Tên của mạch cacbon chính, tiếp đầu ngữ (tiền tố), tiếp vị ngữ (hậu tố) Ngoài danh pháp Geneve, danh pháp thông dụng vẫn được sử dụng

Có thể đưa ra nhận xét chung về tình hình đồng thuận và chưa đồng thuận trong danh pháp hóa học (gồm các quy tắc phiên chuyển tên các nguyên tố, đơn chất và hợp chất và quy tắc cấu trúc các từ tố trong tên các hợp chất) trong giai đoạn từ năm 1954 đến 1975 ở miền Bắc như sau:

1 Về cấu trúc các từ tố chủ yếu là tuân thủ các quy tắc được công bố và được đa số các quốc gia tuân thủ Nếu có tình hình áp dụng khác nhau thì đó không phải là do bất đồng ý kiến mà do cách tiếp cận chưa nhất quán giữa các tác giả khác nhau Còn tranh luận với các quy tắc đó (ví dụ với quy tắc của IUPAC về trật tự từ tố trong các hợp chất

vô cơ: clorua natri/natri clorua) thì đến bây giờ vẫn còn nhưng không phải là trở ngại đáng kể

2 Về cách phiên chuyển tên các nguyên tố, đơn chất và hợp chất giữa các tác giả khác nhau, kể cả Bản Dự thảo và Quy định của Ủy ban khoa học xã hội, có nhiều nội dung trùng nhau nhưng cũng có những nội dung khác nhau Có lẽ điểm duy nhất không

có khác biệt giữa các phương án là viết liền các vần như trong tiếng nước ngoài chứ không chia tách các âm vần ra bằng các gạch nối như trong “Danh từ khoa học” của GS Hoàng Xuân Hãn Hai nội dung có thể coi là quan trọng nhất trong thực tế khi thực hiện

việc phiên chuyển là các vần ngược và phụ âm c ở đầu vần có sự thống nhất khá cao,

tuy vậy vẫn còn có những “ngoại lệ” mà thực chất là do lúng túng trong những tình huống khác nhau xuất phát từ sự đáp ứng chưa cao của các quy tắc được đề ra Quy tắc rút gọn cũng được ủng hộ hoàn toàn, tuy vậy, các tác giả cũng đưa ra những phương án rút gọn khác nhau, trong đó, có phương án có thể coi là “cực đoan”, ví dụ, viết sronti thay vì stroni, ziconi thay vì zirconi hay ziriconi (trong quy định của Ủy ban Khoa học

xã hội đề nghị viết lonafen thay vì phlonafen, tomain thay vì ptomain) Điều này có nguyên nhân là Ủy ban Khoa học xã hội ủng hộ việc sử dụng các phụ âm ghép, nhưng chỉ trong trường hợp rất hạn chế (clo, brom,…), còn khuyến khích bỏ bớt một số phụ

âm trong các tổ hợp như vậy nếu “không gây hiểu lầm” Các nguyên tố H và O có quá nhiều cách viết khác nhau, trong đó có một số tác giả đề nghị không rút gọn hơn nữa mà viết hydrogen và oxygen Hầu như tất cả các tác giả đều đồng tình bỏ dấu thanh trên các

Trang 18

từ, riêng dấu mũ thì ít thống nhất và thậm chí được sử dụng khá không nhất quán trong một xuất bản phẩm, hoặc cùng một tác giả nhưng tên của một nguyên tố cũng được viết không thống nhất (hiện nay trong các sách giáo khoa bậc phổ thông vẫn tồn tại hai cách viết, oxi, hiđro, ete,… và ôxi, hiđrô, ête ,…)

Phân tích kỹ các phương án phiên chuyển có thể thấy một đặc điểm rất khích lệ là

xu thế viết từ mượn nước ngoài sát với mặt chữ của từ gốc dễ được chấp nhận hơn cả Như vậy, ngoài việc viết liền các âm tiết, không dùng dấu mũ, dấu thanh thì những con chữ đọc được theo vần tiếng Việt không cần tìm cách phiên Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp cần phiên chuyển thì việc đề xuất các phương cách liên quan đến chính

tả tiếng Việt đều khó thực hiện để thỏa mãn các yêu cầu đối với một thuật ngữ hóa học vừa phải “đại chúng” để dễ đọc, dễ nhớ, vừa phải “khoa học” để có tính hệ thống, chính xác, tạo thuận lợi trong giao tiếp, hội nhập, và phát triển

1.1.1.2 Danh pháp và thuật ngữ hóa học ở miền Nam trước năm 1975

Năm 1962, GS Lê Văn Thới đã chủ trì biên soạn quyển “Danh từ khoa học” Năm

1967, Bộ Giáo dục (miền Nam) đã ra nghị định thành lập “Ủy ban quốc gia soạn thảo danh từ chuyên môn” do GS Lê Văn Thới làm chủ tịch Ủy ban này có nhiệm vụ đặt nguyên tắc phiên dịch và phiên âm ra Việt ngữ các danh từ chuyên môn cần thiết Ủy ban có 12 ban khoa học với trên 20 thành viên Phần tổng quan này dựa vào những đề xuất của GS Lê Văn Thới [7] (được đưa ra từ năm 1962 và tổng kết lại năm 1972 cũng như bài viết của tác giả Lê Văn Thới và Nguyễn Văn Dương) [8] Ngoài các nội dung

trong nguyên tắc chung đã được GS Hoàng Xuân Hãn đề xuất như: một danh từ phải chỉ riêng một ý mà thôi; một ý không nên có nhiều danh từ; danh từ trong một bộ phận phải nằm trong một hệ thống chung; danh từ phải gợi đến ý chính; danh từ phải gọn chừng nào tốt chừng ấy; danh từ phải nằm trong hệ thống chung của ngôn ngữ; Ủy ban

soạn thảo đã đề xuất ý tưởng có thể được coi là táo bạo trong phương châm xây dựng

hệ thống danh pháp và thuật ngữ tại miền Nam lúc đó như sau: “Có những danh từ chúng ta đã vay mượn từ lâu, nay đã được Việt Nam hóa (như pho-mát, bù-lon…) và những tiếng đã được quốc tế hóa (đặc biệt quan trọng ở ngành Hóa học) chúng ta tất nhiên phải thu dụng, mặc dù rất xa âm hưởng Việt Nam Và cũng vì lẽ đó mà các vấn

đề âm vần gồm có sự cải tiến và làm giàu tiếng Việt cũng cần được thảo luận và quy

Trang 19

định trong việc soạn thảo danh từ chuyên khoa này” Có thể tóm lược các đề xuất của

Ủy ban soạn thảo như sau:

(1) Thu nạp thêm: (i) các phụ âm: f, j, w, z; (ii) những phụ âm kép bl, br, cl, er, dr,

fl, fr,…; (iii) những vần xuôi ce, ci, pa, pe, pi, po, pu,…; (iv) những vần ngược

ab, ad, af, ar, as, ax, az, eb, ed, ef, el, er, ib, id, if, il, ob, od, of, ol,…; (v) những

nguyên âm kép au, eau, eu,…

(2) Trong phiên âm lấy tiếng Pháp làm căn bản và Việt hóa những vần mới đã được

thu nạp

(3) Một số cách rút gọn: (i) viết liền các âm tiết; (ii) bỏ các phụ âm và nguyên âm

“câm” (nghĩa là trong tiếng Pháp không đọc), ví dụ, chlore → clor, enthalpie

→ entalpi,… (iii) hai phụ âm liền nhau bỏ đi một (palladium → paladium,

succinic → sucinic,…)

(4) Ngoải ra, Ủy ban soạn thảo cho rằng, tên các nguyên tố nên phiên âm đầy đủ chứ không nên chỉ phiên âm phần đầu (như dùng hydrogen và oxygen thay cho

hidro và oxi)

(5) Riêng đặc danh (nhân danh, địa danh) Ủy ban soạn thảo đề nghị “không phiên

âm và đọc âm vận của nguyên xứ, dù đặc danh ấy dùng làm đơn vị”

Tổng quát lại, các tác giả trong Ủy ban soạn thảo đã nêu ra vài quy tắc tổng quát

để thống nhất lối phiên âm danh từ chuyên khoa Đặc biệt, đã thu nhập vào Việt ngữ những vần cần thiết, dùng lối viết liền, không dấu trên chữ, và đồng thời Việt hóa cách đọc” Ủy ban cho rằng, các vần mới này làm giàu cho âm vần Việt Nam và mặt khác, sẽ giúp ta học ngoại ngữ dễ dàng Ủy ban soạn thảo cũng thừa nhận rằng, vấn đề phiên âm

có liên hệ mật thiết với việc cải tiến Quốc ngữ, cần được nghiên cứu sâu rộng hơn

Có thể nói, các quy tắc do Ban soạn thảo quy định và được tuân thủ một cách đầy

đủ (trong sách giáo khoa, sách khảo cứu, trong giảng dạy hàng ngày…) ở miền Nam trước 1975 là khá nhất quán, mặc dù có thể thấy là trong các phương pháp phiên âm, âm hưởng của tiếng Pháp chiếm vị trí gần như chủ yếu Các nhà hóa học đã từng sống và làm việc ở miền Nam trước đây hầu như không có biểu hiện nào phản bác các quy tắc

đó Tuy nhiên rõ ràng là trong các quy tắc này có một số điều chưa hợp lý, mặc khác không thể không thừa nhận, so với các quy tắc ở miền Bắc, có gây khó khăn hơn trong cách đọc, đặc biệt là các vần ngược không có trong tiếng Việt

Trang 20

có nguồn gốc từ miền Bắc, mặc dù không thật nhất quán trong một số quy tắc, nhưng có đặc điểm chung là Việt hóa nhiều hơn là xu hướng có nguồn gốc từ miền Nam, thiên về

sử dụng các yếu tố gốc Hán và gốc Pháp Tình hình từ đó lắng xuống, trong khi xã hội vẫn phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn, nhu cầu hội nhập và giao tiếp ngày càng tăng lên, xu thế tự phát một cách tự nhiên là du nhập ngày càng nhiều các yếu tố nước ngoài, nhất là từ tiếng Anh Đã mấy chục năm trôi qua mà hầu như không có những hoạt động quy mô quốc gia để xử lý vấn đề thống nhất danh pháp và thuật ngữ khoa học nói chung, danh pháp và thuật ngữ hóa học nói riêng

Năm 1982, Bộ Giáo dục thành lập Hội đồng xét duyệt nguyên tắc chính tả trong sách cải cách giáo dục gồm 9 thành viên để đề xuất với Bộ trưởng những quy tắc cụ thể

về chính tả và thuật ngữ tiếng Viêt, trên cơ sở đó Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình đã ký quyết định (1984) ban hành “Quy định về chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng Việt” Trong quy định có đoạn viết: “Trong hệ thống thuật ngữ tiếng Việt, có bộ phận thuật ngữ được cấu tạo bằng chất liệu và theo quy tắc tiếng Việt, và có bộ phận vốn được cấu tạo bằng chất liệu và theo quy tắc của một số ngôn ngữ cổ điển và hiện đại phương tây Yêu cầu chuẩn hóa và thống nhất thuật ngữ tiếng Việt được đặt ra đối với cả hai bộ phận nói trên và cần xúc tiến khẩn trương việc biên soạn, xuất bản và phát hành các từ điển thuật ngữ để hoàn chỉnh hệ thống thuật ngữ tiếng Việt Bản quy định này chú ý nhiều hơn đến bộ phận thuật ngữ thứ hai, vì ở bộ phận này đang cần có những quy định mới”

Về nguyên tắc chung, Bản quy định nêu hai điểm:

Trang 21

1 Trong yêu cầu chuẩn hóa và thống nhất thuật ngữ tiếng Việt, rất cần coi trọng các tiêu chí về tính dân tộc, tính khoa học, tính đại chúng để xác định chuẩn hóa về từ ngữ nói chung Tuy nhiên, trong tình hình khoa học kỹ thuật tiến như vũ bão với hiện tượng

“bùng nổ thông tin”, nên đặc biệt chú ý đến các tiêu chí về tính khoa học và tính quốc

tế của thuật ngữ, nhất là thuật ngữ của các chuyên ngành hẹp về khoa học và kỹ thuật

2 Đối với những thuật ngữ đã được dùng phổ biến trong các tiếng nước ngoài thì nói chung nên dùng một hình thức đã thành quen thuộc trong phạm vi quốc tế, có thể chấp nhận một sự điều chỉnh nhất định đối với hình thức đó, nhưng không nên lấy yêu cầu đồng hóa theo ngữ âm và chữ viết tiếng Việt làm tiêu chí chỉ đạo Đối với những thuật ngữ này, chuẩn chính tả là chính; về ngữ âm, nên hướng dẫn để dần dần tiến tới cách phát âm thống nhất trong cả nước

Các quy định cụ thể là:

 Chấp nhận các phụ âm đầu vốn không có trong tiếng Việt như p, z, w,…b, cr, str… cũng như các phụ âm cuối không có trong tiếng Việt như b, d, f, g, l, r, s, v,

w, x,… đều được dùng

 Cần tôn trọng mối quan hệ có tính hệ thống giữa các thuật ngữ

 Chấp nhận những điều chỉnh rút gọn thuật ngữ tiếng nước ngoài như: met, gram,… Tuy vậy, những điều chỉnh theo lối phiên âm một số âm tiết tiếng nước ngoài như ce thành “xe”, cid thành “xit”, ur thành “ua”,… thì không được chấp nhận theo nguyên tắc chung đã dùng vào tiếng Việt Những chữ cái như c,d, s, r, x,… được dùng vào bộ phận thuật ngữ không có giá trị phát âm riêng trong tiếng Việt

Các quy định cụ thể trên đây về nhiều điểm gần với các quy định được phổ biến tại miền Nam trước năm 1975 và được sử dụng rộng rãi bởi các nhà hóa học đã từng làm việc tại miền Nam trước năm 1975 cũng như các sinh viên đã từng tốt nghiệp đại học trước năm 1975 (những sinh viên tốt nghiệp đại học sau này, do học với nhiều thầy, đọc các sách do nhiều người viết với các quy tắc áp dụng khác nhau trong phiên chuyển, nên thường bị lúng túng và sử dụng các nguyên tắc thiếu nhất quán) Nhưng mặc dù có quy định trên đây của Bộ trưởng Bộ Giáo dục, tình hình chung hầu như không có gì biến chuyển đáng kể, ngay cả trong ngành giáo dục Điều đó thể hiện trong các sách giáo khoa ở bậc phổ thông (chủ yếu do các tác giả miền Bắc soạn thảo) cũng như ở bậc đại

Trang 22

học (khi viết sách giáo khoa hoặc giáo trình mỗi thầy đại học tự áp dụng phương cách phiên chuyển mà mình cho là hợp lý)

Trong giới hóa học ở miền Bắc, các quy tắc phiên chuyển chủ yếu được đề xuất trong Bản Dự thảo của GS Nguyễn Thạc Cát và những đề xuất tương tự vẫn được dùng rộng rãi, mặc dù cũng không được nhất quán giữa các tác giả khác nhau Năm 1991, Tổng cục Tiêu chuẩn, Đo lường, Chất lượng đã ban hành hai Tiêu chuẩn Việt Nam quy định một số quy tắc cơ bản về thuật ngữ và tên gọi các nguyên tố hóa học Đối chiếu các quy định trong hai tiêu chuẩn quốc gia này với các quy tắc trong Bản dự thảo của GS Nguyễn Thạc Cát thì thấy các quy định hầu như là giống nhau Những khác biệt là rất nhỏ và hầu như không đáng kể, ví dụ, trong TCVN 5530 gọi nguyên tố Dy là Dyposi, còn trong Bản dự thảo thì gọi là Dyprozy

Trong quá trình soạn thảo Từ điển bách Khoa Việt Nam vấn đề phiên âm hay phiên chuyển danh từ nước ngoài đã gặp không ít khó khăn Ban thường trực Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa đã đưa ra một số quy định mà về cơ bản cũng lấy từ các quy định phiên âm của Ủy ban Khoa học xã hội 1968 Riêng về cách phiên

chuyển các thuật ngữ hóa học, Thường trực Hội đồng quy định: “Thuật ngữ hóa học tạm thời dùng theo quy định do Ban biên soạn hóa học đề nghị” Thực tế, Ban biên soạn

hóa học đã áp dụng các quy tắc như trong Bản Dự thảo của GS Nguyễn Thạc Cát Trong thời gian gần đây xuất hiện khá nhiều loại thuốc có nguồn gốc Đông dược nhưng họ đặt tên rất “Tây” và, đặc biệt, đã sử dụng các vần chưa có trong tiếng Việt một cách phổ biến Ví dụ, thuốc trợ gan thận có tên là Centhionin, thuốc trị u xơ tuyến tiền liệt do một công ty dược phẩm Hải Dương sản xuất từ cây trinh nữ hoàng cung có tên

là Cyroma, v.v… Thực tế, trên thị trường hiện nay tên các thuốc đều là tên nguyên gốc tiếng phương Tây

Như vậy, thực trạng hiện nay là chưa có được những quy tắc được mọi người tuân theo trong phương cách phiên chuyển các thuật ngữ hóa học từ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt Số lượng những người tuân tuân thủ một cách triệt để quy tắc này hay quy tắc khác tương đối hiếm, phần lớn đã nhiều tuổi Những quy tắc được trình bày trên đây chủ yếu được hình thành từ những năm 60, 70 của thế kỷ trước; thời gian trôi qua đã trên 30 –

40 năm Phần lớn những người làm hóa học hiện nay thuộc thế hệ trẻ, ít chịu ràng buộc bởi những quy tắc mà họ không cảm thấy thoải mái khi sử dụng, trong khi không ít quy

Trang 23

tắc đã tỏ ra bất hợp lý, thậm chí gây trở ngại không ít cho việc tiếp cận với những nguồn thông tin trên thế giới, cho nên nói chung là họ viết các danh từ hóa học tương đối tùy tiện Hầu như rất ít, thậm chí có lẽ không có một luận án tiến sĩ hay luận văn thạc sĩ nào

mà các phản biện không có nhận xét rằng, tác giả viết các thuật ngữ tùy tiện, không nhất quán Và lời khuyên là ít nhất hãy viết cho nhất quán dù theo quy tắc nào, nếu không hãy viết nguyên dạng Đó là tình trạng thực tế ở các viện, các trường đại học Trên các tạp chí khoa học, kể cả các tạp chí đầu ngành như “Tạp chí Hóa học”, “Tạp chí Khoa học và Công nghệ”, tình hình cũng không khác bao nhiêu Nghĩa là các nhà khoa học đã thành danh cũng vẫn bị phê phán là tùy tiện trong việc áp dụng các quy tắc danh pháp hóa học Có một lý do khá đơn giản là không ít, nếu không phải là đa số, các nhà khoa học, khi ngồi viết công trình nghiên cứu của mình, thực sự không biết viết một số từ thế nào là “đúng”, thế nào là “sai” ngay cả đối với những thuật ngữ khá phổ biến, như Hydro/ hyđro/ hidro/ hydrogen; catod/ catot; polyme/ polime/ polymer, anđêhit / andehyd/ andehyde…

Nếu xem xét nghiêm túc các quy tắc đã được đề ra và có thể coi là đã trở thành

“tồn tại hợp pháp” thì cũng có không ít quy định cần phải thay đổi, chưa kể là đã nhiều năm trôi qua và hiện nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế những yêu cầu mới được đặt

ra cần phải xử lý

1.1.3 Đề tài “Xây dựng hệ thống danh pháp và thuật ngữ hóa học Việt Nam”

Đề tài “Xây dựng hệ thống Danh pháp và Thuật ngữ hóa học Việt Nam” do Hội Hóa học Việt Nam chủ trì và được khởi động từ năm 2005 Mục đích của đề tài là trên

cơ sở tuân thủ các nguyên tắc chung về việc đảm bảo tính khoa học, tính hệ thống và nhất quán, tính dân tộc và phổ cập, tính quốc tế và hội nhập, tính kế thừa, xem xét lại toàn bộ những quy định (chính thức hoặc không chính thức) đã từng là những nguyên tắc cho việc phiên chuyển tên các hợp chất hóa học từ tiếng nước ngoài (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Latin) ra tiếng Việt Từ đó đi đến xây dựng một hệ thống thuật ngữ và danh pháp hóa học Việt Nam khả dĩ có thể cung cấp cho những người làm việc trong lĩnh vực hóa học và công nghệ hóa học cũng như các lĩnh vực liên quan những hướng dẫn thỏa đáng về thuật ngữ và danh pháp hóa học Năm 2010, ấn phẩm “Danh pháp và thuật ngữ hóa học Việt Nam” được hoàn thành trong khuôn khổ của đề tài Những kết quả trong công trình này được sự góp ý rộng rãi tại nhiều hội thảo ở cả ba miền đất nước và sự

Trang 24

tham gia đông đảo của các nhà hóa học thuộc nhiều thế hệ khác nhau Tuy nhiên, các quy tắc phiên chuyển trong hệ thống danh pháp và thuật ngữ hóa học mà đề tài đề xuất thống nhất là khá phức tạp từ quy tắc về sử dụng phụ âm, quy tắc sử dụng nguyên âm, quy tắc về viết rút gọn khi phiên chuyển, vần ngược, hậu tố… Việc ghi nhớ các nguyên tắc này là không hề dễ dàng Vì vậy, cho đến nay danh pháp và thuật ngữ hóa học Việt Nam vẫn chưa có sự nhất quán giữa các vùng miền và trong các tài liệu tham khảo

Nomenclature)

Danh pháp IUPAC là danh pháp Hóa học theo Liên minh quốc tế về Hóa học

thuần túy và Hóa học ứng dụng – IUPAC (International Union of Pure and Applicated Chemistry) IUPA được thành lập năm 1919 với tư cách là tổ chức kế nhiệm của Đại hội Quốc tế về Hóa học ứng dụng vì sự tiến bộ của khoa học Nó là thành viên của Hội đồng Khoa học Quốc tế (ISC) và được đăng ký tại Zürich, Thụy Sĩ với văn phòng hành chính, được gọi là "Ban Thư ký IUPAC", nằm ở Bắc Carolina, Hoa Kỳ IUPAC là một liên đoàn quốc tế của các tổ chức gắn kết quốc gia đại diện cho các nhà hóa học ở các quốc gia riêng lẻ IUPAC được biết đến nhiều nhất với các công trình tiêu chuẩn hóa danh pháp trong hóa học Mặc dù, qua nhiều lần chỉnh lí, hệ thống Danh pháp IUPAC ngày càng có tính khoa học và nhất quán cao, về cơ bản đáp ứng được sự phát triển nhanh chóng của các lĩnh vực hóa học, các nhà hóa học vẫn tiếp tục đối mặt với yêu cầu hoàn thiện các quy tắc của nó Cho nên, quan điểm của IUPAC là không xem danh pháp

là tĩnh tại, trái lại cần được phát triển liên tục

chương trình phổ thông mới

1.3.1 Mục đích khảo sát

Nhằm tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của học sinh khi được học bằng danh pháp hữu cơ trong chương trình GDPT mới 2018 Từ đó rút ra những kết luận cần thiết

và đưa ra những khuyến nghị kịp thời

1.3.2 Đối tượng khảo sát

- 4 lớp 11 trường THPT Phan Châu Trinh thành phố Đà Nẵng

1.3.3 Nội dung khảo sát

Trang 25

- Hiểu biết của các HS về sự đổi mới về thuật ngữ và danh pháp hóa học trong chương trình GDPT mới 2018 của Bộ giáo dục

- Lợi ích khi chuyển đổi sang sử dụng thuật ngữ và danh pháp hóa học bằng tiếng Anh theo IUPAC trong dạy và học

Chưa biết là có sự đổi mới 50%

Đã được nghe/giới thiệu về sự đổi mới

hóa học bằng tiếng Anh

theo IUPAC trong

CTGDPT mới có lợi ích

gì?

Không có lợi ích gì cả 8,3%

Có được sự thống nhất trong hệ thống thuật ngữ và danh pháp hóa học Việt Nam mà lâu nay chưa hề có

Trang 26

Khắc phục được việc sử dụng quá nhiều quy tắc phiên chuyển sang tiếng Việt

Chưa quen viết tên các nguyên tố, hợp

4

Những thuận lợi khi bạn

tiếp cận với danh pháp

Nên chuyển sang hoàn toàn sang CTM

27,8%

Phân tích khảo sát:

- Về sự thay đổi liên quan đến thuật ngữ và danh pháp hóa học trong chương trình giáo dục mới năm 2018, có 50% số HS chưa được nghe hoặc biết về sự đổi mới và có

Trang 27

47,2% số HS biết được nhưng chưa nắm rõ cụ thể Chỉ có 2,8% HS tìm hiểu kĩ và nắm được cụ thể các nội dung thay đổi

- Khi được hỏi về lợi ích của việc sử dụng thuật ngữ và danh pháp theo CTM thì

đa số HS cho rằng sẽ có được sự thống nhất trong hệ thống thuật ngữ và danh pháp học

ở Việt Nam Ngoải ra gần 50% số HS đồng ý với việc sử dụng danh pháp và thuật ngữ theo IUPAC sẽ khắc phục được việc sử dụng quá nhiều quy tắc phiên chuyển sang tiếng Việt phức tạp và có thể tiếp cận được một khối lượng lớn tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh Chỉ có 8,3% số HS cho rằng việc thay đổi trong thuật ngữ và danh pháp hóa học

là không có ích gì

- Về các khó khăn khi tiếp cận với sự thay đổi trong thuật ngữ và danh pháp, khó khăn được nhiều HS chọn nhất chính là việc phải nhớ nhiều tên nguyên tố và hợp chất mới (58,3% số HS) Theo sau đó có 44,4% số HS gặp khó khăn trong việc viết tên các nguyên tố và hợp chất bằng tiếng Anh trong khi có 41,7% số HS cảm thấy đã quen với danh pháp Ngoải ra, lần lượt 33,3% và 22,2% số HS chưa quen với cấu trúc gọi tên và cách đọc tên các hợp chất mới bằng tiếng Anh

- Tuy nhiên 50% số HS cho rằng cách gọi tên các hợp chất trong CTM và CTHH tương tự nhau chỉ khác nhau ở một số cách viết Bên cạnh đó, đối với các HS lớp 11 vì mới bắt đầu học hóa hữu cơ nên 50% số HS cảm thấy không có sự khác biệt giữa hai chương trình Ngoài ra vì được tiếp cận tiếng Anh từ bé nên 22,2% số HS có thuận lợi khi tiếp cận sự thay đổi

- Gần 50% tổng số HS cho rằng danh pháp và thuật ngữ hóa học theo CTM chỉ nên được giới thiệu thêm và vẫn tiếp tục sử dụng theo CTHH % số HS muốn tiếp tục

sử dụng CTHH và CTM bằng nhau ở mức 27,8%

Tiểu kết khảo sát

Việc áp dụng những thuật ngữ và danh pháp hóa học bằng tiếng Anh theo khuyến nghị của IUPAC trong CT GDP mới năm 2018 giúp GV và HS dễ dàng tiếp cận khối lượng lớn tài liệu tham khảo phục vụ cho quá trình dạy và học ngoài ra còn khắc phục được vấn đề các quy tắc phiên chuyển phức tạp và tạo được sự thống nhất trong hệ thống thuật ngữ và danh pháp hóa học Việt Nam Tuy nhiên, việc sử dụng các thuật ngữ và danh pháp hóa học bằng tiếng Anh theo khuyến nghị của IUPAC khiên HS gặp nhiều khó khăn mà khó khăn lớn nhất theo khảo sát là phải nhớ nhiều tên gọi mới của các

Trang 28

nguyên tố và hợp chất Do đó, phần lớn HS cho rằng không nên sử dụng thuật ngữ và

danh pháp hóa học theo CTM Vì vậy đề tài “Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ hóa

học và danh pháp hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018 ” là thực

sự cần thiết và giúp đỡ cho GV và HS trong quá trình dạy và học

Trang 29

CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG HÓA THUẬT NGỮ VÀ DANH PHÁP HÓA HỌC

HỮU CƠ TRONG CHƯƠNG TRÌNH GDPT MỚI NĂM 2018

2.1 Những thay đổi về thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình GDPT mới năm 2018

2.1.1 Những điểm mới về danh pháp hóa học trong chương trình GDPT mới 2018

Trong CT GDPT hiện hành, danh pháp của các hợp chất hữu cơ tuân theo các quy tắc của IUPAC nhưng lại được phiên chuyển theo các quy tắc đã nêu ở trên cả về các viết và cách đọc Trong CT GDPT mới, các hợp chất hữu cơ sẽ được gọi tên hoàn toàn theo các quy định của IUPAC, có nghĩa là danh pháp hữu cơ sẽ được viết bằng tiếng Anh

Ví dụ: hydrocarbon sẽ được dùng thay cho hiđrocacbon; alkane, alkene, alkyne

sẽ được dùng thay cho ankan, anken, ankin Các quy tắc gọi tên của từng loại hợp chất

hữu cơ sẽ được đề cập cụ thể ở phần sau

2.1.2 Nguyên tắc sử dụng thuât ngữ và danh pháp hóa học trong chương trình GDPT mới 2018

Việc sử dụng các thuật ngữ Hóa học và danh pháp Hóa học trong giảng dạy môn Hóa học theo chương trình GDPT mới được Bộ GD&ĐT công bố vào ngày 26/12/2018 tuân thủ các nguyên tắc:

Nguyên tắc khoa học: Khái niệm mà thuật ngữ biểu thị phải được cập nhật phù

hợp với sự phát triển của khoa học thế giới, hình thức thuật ngữ phải đảm bảo tính hệ thống

Nguyên tắc thống nhất: Thuật ngữ phải có cách hiểu thống nhất trong toàn bộ

Chương trình môn Hóa học và chương trình Giáo dục phổ thông nói chung

Nguyên tắc hội nhập: Danh pháp hóa học sử dụng theo khuyến nghị của Liên

minh Quốc tế về Hóa học thuần túy và Hóa học ứng dụng IUPAC ( International Union

of Pure and Applied Chemistry) có tham khảo Tiêu chuẩn Việt Nam ( TCVN 5529:2010

và 5530:2010 của Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường Chất lượng, quyết định số QĐ/BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ), phù hợp với thực tiễn Việt Nam, từng bước đáp ứng yêu cầu thống nhất và hội nhập

2950-Nguyên tắc thực tế: Sử dụng tên 13 nguyên tố đã quen dùng trong Tiếng Việt:

Vàng, Bạc, Đồng, Chì, Sắt, Nhôm, Kẽm, Lưu Huỳnh, Thiếc, Nitơ, Kali và Thủy ngân ;

Trang 30

đồng thời có chú thích thuật ngữ Tiếng Anh để tiện tra cứu Hợp chất của các nguyên tố này được gọi tên theo khuyến nghị của IUPAC

2.2 Danh pháp hóa học hợp chất hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới 2018

2.2.1 Hydrocarbon no

Như đã ví dụ ở trên, trong chương trình mới (CTM) hydrocarbon sẽ được dùng

để thay cho hiđrocacbon trong chương trình hiện hành (CTHH)

2.2.1.1 Alkane (Ankan)

Trong chương trình hiện hành (CTHH), ta dùng thuật ngữ “ankan” để chỉ dãy

đồng đẳng các “hiđrocacbon” no, mạch hở Nó được phiên chuyển từ “alkane” bằng

tiếng anh theo IUPAC

Alkane bao gồm hai loại là alkane không có nhánh và alkane có nhánh

Đối với các alkane không có nhánh, 10 alkane đầu tiên trong dãy dồng đẳng được gọi tên theo danh pháp IUPAC như sau:

Bảng 2.1 Tên gọi các alkane không phân nhánh theo CTHH và CTM

Có thể nhìn thấy, cách viết trong CTHH chỉ khác với IUPAC ở chỗ đã bỏ đi kí tự

bị lược bỏ và kí tự “đ” trong bảng chữ cái Việt Nam được sử dụng thay cho kí tự “d”

Trang 31

Đối với các alkane có nhánh (có nhóm thế) thì được gọi tên tương tự theo các bước

đã được học ở chương trình phổ thông hiện hành

Bước 2: Đánh số thứ tự các nguyên tử carbon trong mạch chính

Các nguyên tử carbon được đánh số thứ tự bắt đầu từ phía gần với nhóm thế nhất

Cách chọn mạch sai: mạch chính có

5 carbon và chỉ có 1 nhánh

Cách đánh số đúng

Cách đánh số sai

Trang 32

Nếu cả hai đầu đều gần với nhóm thế như nhau thì đánh số sao cho tổng số chỉ vị trí của các nhóm thế là thấp nhất

Bước 3: Xác định và đánh số nhóm thế

Nhóm thế: trong CTHH các nhóm thế từ các ankan được viết là “ankyl” Nó được

phiên chuyển từ “alkyl” trong danh pháp tiếng Anh theo IUPAC

Các nhóm thế alkyl không phân nhánh được gọi tên bằng cách thay đuôi –ane của alkane có cùng số carbon thành –yl ( ví dụ: methyl: -CH3, ethyl: -CH2CH3,…) và kèm theo số chỉ vị trí ở đằng trước Nếu có hai nhóm thế cùng nằm trên một carbon ở mạch chính thì cả hai đều có cùng số chỉ vị trí Có bao nhiêu số trong tên thì có bấy nhiêu nhóm thế

Mạch chính được gọi tên là heptane Các nhóm thế: ở C2 -CH3 2-methyl (CTHH: 2-metyl)

ở C3 -CH3 3-methyl (CTHH: 3-metyl)

ở C5 -CH3 5-methyl (CTHH: 5-metyl)

ở C5 -CH2CH3 5-ethyl (CTHH: 5-etyl)

Bước 4: Viết tên hợp chất hữu cơ

Đầu tiên gọi tên mạch chính, sau đó gọi tên các nhóm thế dưới dạng các tiền tố Dùng dấu “-“ để ngăn cách các tiền tố, dùng dấu “,” để ngăn cách các số Nếu có hai

Cánh đánh số đúng: tổng số chỉ vị

trí nhóm thế 2 + 3 + 6 = 11

Cách đánh số sai: tổng số chỉ vị trí

nhóm thế 2 + 5 + 6 = 13 > 11

Trang 33

nhóm thế khác nhau (hoặc nhiều hơn), các nhóm thế được ưu tiên theo thứ tự bảng chữ

cái (ví dụ Ethyl > Methyl)

Nếu có hai hoặc nhiều hơn các nhóm thế cùng một loại trong mạch thì sử dụng các

tiền tố chỉ độ bội như là di-(2), tri-(3), tetra-(4),… để biểu thị số các nhóm thế cùng loại

Trong CTHH, kí tự “đ” được sử dụng thay cho “d”, do đó đối với tiền tố chỉ độ bội ứng

với 2 sẽ là –đi và ứng với 10 sẽ là -đeca Tuy nhiên những tiền tố này không được ưu

tiên theo thứ tự bảng chữ cái mà chỉ có tên các nhóm thế mới áp dụng được như đã trình

bày ở trên Ví dụ: Ethyl > Dimethyl

 Ngoài ra ta còn có những nhóm alkyl phức tạp (phân nhánh) Tên các alkyl đó được hình thành bằng cách tiền tố hóa tên của các mạch nhánh gắn vào tên nhóm alkyl không nhánh dài nhất và việc đánh số bắt đầu từ carbon gắn vào mạch chính của hợp chất hữu cơ Ví dụ:

Trang 34

(i-amyl)

Neopentyl

Tert-pentyl hoặc tert-amyl

(t-amyl)

Đối với các hợp chất có chứa hai (hoặc nhiều hơn) nhóm thế có nhánh cùng loại

thì ta sử dụng các tiền tố chỉ độ bội phức tạp như bis-(2), tris-(3), tetrakis-(4),… (từ

Trang 35

tetrakis trở đi các tiền tố tiếp theo đều được hình thành bằng các thêm đuôi kis- vào các

tiền tố độ bội cơ bản tương ứng) Đối với các nhóm thế có nhánh đơn giản ở trên vẫn sử dụng các tiền tố chỉ độ bội cơ bản

các ký tự “i” và “n” tương ứng Còn đối với các trường có sec- hoặc tert- thì ta xét các

ký tự đầu của tên nhóm thế như là “b” trong sec-butyl hoặc “p” trong tert-pentyl Ví dụ: sec-butyl→(1,2-dimethylpentyl)→ethyl→methyl→tert-pentyl

Nếu cả nhóm thế không nhánh và nhóm thế có nhánh có cùng sự ưu tiên về bảng chữ cái thì ta ưu tiên nhóm thế có số chỉ vị trí thấp hơn

2,3-dimethyl-6-(2-methylpropyl)decane

(2 nhóm methyl ở vị trí 2,3 thấp hơn nhóm thế có nhánh ở vị trí 6)

Trang 36

Ngoài các nhóm thế alkyl thì còn có các nhóm thế từ halogen Trong chương trình giáo dục phổ thông mới, tên các halogen cũng được viết theo tiếng anh như sau: F –

fluorine (flo), Cl – chlorine (clo), Br – bromine (brom), I – iodine (Iot) Khi trở thành

các nhóm thế, hậu tố –ine được đổi thành –o: –fluoro (–F), chloro (–Cl), –bromo (–Br),

–iodo (–I) Còn trong chương trình hiện hành các nhóm thế halogen vẫn được viết như

tên các nguyên tử thông thường (–F: –flo, –Cl: –clo, –Br: –brom, –I: –iot)

2.2.1.2 Cycloalkane (Xicloankan)

Trong CTHH, “xicloankan” được dùng để chỉ các “hiđrocacbon” o nhưng mạch

vòng Nó được phiên chuyển từ “cycloalkane” bằng tiếng anh theo IUPAC

Các gọi tên cycloalkane theo danh pháp IUPAC cũng tương tự như CTHH nhưng

tiền tố “xiclo” được đổi thành “cyclo” và ta thêm kí tự “e” ở cuối

Cũng như alkane, cycloalkane cũng có mạch nhánh và mạch không nhánh Cyclolalkane không phân nhánh là hợp chất gồm các đơn vị -CH2- liên kết với nhau thành một vòng khép kín Tên các cycloalkane không phân nhánh được gọi giống như alkane không phân nhánh có cùng số carbon nhưng ta thêm tiền tố cyclo ở đằng trước

Bảng 2.3 Tên gọi các cycloalkane không nhánh theo CTM và CTHH

3 C3H8 Propane cyclopropane Xiclopropan

5 C5H12 Pentane Cyclopentane Xiclopentan

2-bromo-3-methylpentane

(CTHH: 2-brom-3-metylpentan)

Trang 37

7 C7H16 Heptane Cycloheptane Xicloheptan

Đối với các cycloalkane có nhánh, ta sử dụng các quy tắc tương tự với alkane không nhánh để gọi tên Đối với hầu hết các chất, ta tiến hành hai bước chính sau để gọi tên cycloalkane:

(CTHH: 1-xiclopropylbutan)

Bước 2: Đánh số thứ tự và gọi tên

Đối với một hợp chất có mạch chính là cycloalkane và có nhóm thế, đánh số 1 cho một carbon trong vòng chứa nhóm thế rồi lần lượt đánh số thứ tự các carbon còn lại tổng các số chỉ vị trí của các nhóm thế là thấp nhất có thể

Trang 39

Khi có hai hoặc nhiều hơn các nhóm thế alkyl trong vòng nhưng có có nhiều cách đánh số thứ tự mà đều đúng quy tắc trên thì ta sử dụng các quy tắc ưu tiên theo bảng chữ cái như gọi tên alkane để đánh số

Nếu xuất hiện nhóm thế halogen thì ta coi nó như một nhóm thế alkyl và ta cũng

áp dụng các quy tắc như trên

Trang 40

 Đồng phân cis-trans (đồng phân hình học)

Do có cấu trúc vòng nên cycloalkane chia không gian làm hai phần là “trên” và

“dưới” bề mặt của vòng Đồng phân hình học xuất hiện khi xuất hiện hai nhóm thế Đối

với các CTM và CTHH đều viết giống nhau về đồng phân hình học cis và trans

- Nếu cả hai nhóm thế đều nằm cùng phía so với bề mặt vòng thì đó là đồng phân cis

- Nếu hai nhóm thế nằm khác phía nhau so với bề mặt vòng thì đó là đồng phân trans

Ngày đăng: 31/05/2022, 11:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3] Bộ giáo dục và đào tạo, CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MÔN HOÁ HỌC, Hà Nội 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MÔN HOÁ HỌC
[4] Hội Hóa học Việt Nam, Danh pháp và Thuật ngữ Hóa học Việt Nam, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh pháp và Thuật ngữ Hóa học Việt Nam
[5] Bùi Xuân Hãn, Danh từ hóa học, Hà Nội 1942 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh từ hóa học
[6] Nguyễn Thạc Cát, Dự thảo về thuật ngữ và danh pháp hóa học, 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo về thuật ngữ và danh pháp hóa học
[7] Lê Văn Thới, Ủy ban soạn thảo chuyên môn, Nội san Danh từ chuyên môn số 1, Bộ Giáo dục 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội san Danh từ chuyên môn số 1
[8] Ủy ban soạn thảo danh từ chuyên môn, Nội san Danh từ chuyên môn số 1, 2, 3, 4, 5, 6. Trung tâm học liệu Sai Gòn 1970 – 1972 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội san Danh từ chuyên môn số 1, 2, 3, 4, 5, 6
[9] Ban Khoa học cơ bản thuộc Ủy ban Khoa học Nhà nước, Quy định tạm thời về những nguyên tắc biên soạn danh từ khoa học tự nhiên, 1960 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định tạm thời về những nguyên tắc biên soạn danh từ khoa học tự nhiên
[10] Liên hiệp hội các khoa học kỹ thuật Việt Nam, Hội hóa học Việt Nam (2010) , Danh pháp và thuật ngữ Hóa học Việt Nam, NXB khoa học và kĩ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh pháp và thuật ngữ Hóa học Việt Nam
Nhà XB: NXB khoa học và kĩ thuật
[12] John McMurry, Organic Chemistry 8 th Edition, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Organic Chemistry 8"th" Edition
[1] Bộ giáo dục và đào tạo (2018), SGK Hóa học 11 cơ bản, NXB Giáo dục Khác
[2] Bộ giáo dục và đào tạo (2018), SGK Hóa học 12 cơ bản, NXB Giáo dục Khác
[11] Tiêu chuẩn quốc gia, TCVN 5530-2010 về thuật ngữ và danh pháp các nguyên tố hợp chất hóa học.Tiếng Anh Khác
[13] G. J. Leigh, H. A. Favre and W. V. Metanomski, Principles of Chemical Nomenclature, A guide to IUPAC recommendation Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC HÌNH - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018
DANH MỤC HÌNH (Trang 8)
4. Chọn kích thước cọ vẽ, hình dáng cọ và màu cọ vẽ trong bảng bổ sung công cụ  Brush - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018
4. Chọn kích thước cọ vẽ, hình dáng cọ và màu cọ vẽ trong bảng bổ sung công cụ Brush (Trang 11)
Bảng 1.1. Kết quả khảo sát thuận lợi và khó khăn của HS khi tiếp cận thuật ngữ và danh pháp hóa học theo CTM - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018
Bảng 1.1. Kết quả khảo sát thuận lợi và khó khăn của HS khi tiếp cận thuật ngữ và danh pháp hóa học theo CTM (Trang 25)
Bảng 2.1. Tên gọi các alkane không phân nhánh theo CTHH và CTM. - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018
Bảng 2.1. Tên gọi các alkane không phân nhánh theo CTHH và CTM (Trang 30)
Bảng 2.3. Tên gọi các cycloalkane không nhánh theo CTM và CTHH. - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018
Bảng 2.3. Tên gọi các cycloalkane không nhánh theo CTM và CTHH (Trang 36)
Bảng 2.4. Tên gọi thông thường được công nhận bởi IUPAC của một số aldehyde. - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018
Bảng 2.4. Tên gọi thông thường được công nhận bởi IUPAC của một số aldehyde (Trang 57)
Bảng 2.5. Tên gọi một số nhóm chức là tiền tố theo CTM và CTHH. - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018
Bảng 2.5. Tên gọi một số nhóm chức là tiền tố theo CTM và CTHH (Trang 64)
Bảng 2.6. Mức độ ưu tiên của một số nhóm chức. - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018
Bảng 2.6. Mức độ ưu tiên của một số nhóm chức (Trang 64)
- Các nhóm thế được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái. - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018
c nhóm thế được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái (Trang 65)
Bảng 2.7. Tên gọi của các α-amino acid. - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018
Bảng 2.7. Tên gọi của các α-amino acid (Trang 66)
Để cho các GV và HS dễ tra cứu và theo dõi thì tôi đã hệ thống bảng các danh pháp hữu cơ hay gặp trong CTHH - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018
cho các GV và HS dễ tra cứu và theo dõi thì tôi đã hệ thống bảng các danh pháp hữu cơ hay gặp trong CTHH (Trang 73)
3.2.4. Chọn bài thực nghiệm - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018
3.2.4. Chọn bài thực nghiệm (Trang 84)
Bảng 3.2. Thống kê kết quả của bài kiểm tra thực nghiệm. - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018
Bảng 3.2. Thống kê kết quả của bài kiểm tra thực nghiệm (Trang 86)
- So sánh giá trị mức độ ảnh hưởng với bảng tiêu chí Cohen. - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018
o sánh giá trị mức độ ảnh hưởng với bảng tiêu chí Cohen (Trang 86)
Bảng 3.3. Bảng phân phối tần số, tân suất và tần suất tích lũy bài kiểm tra thực nghiệm. - Nghiên cứu hệ thống hóa thuật ngữ và danh pháp hóa học hữu cơ trong chương trình giáo dục phổ thông mới năm 2018
Bảng 3.3. Bảng phân phối tần số, tân suất và tần suất tích lũy bài kiểm tra thực nghiệm (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w