1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tìm hiểu về lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng tại khu di tích đồng nọc nạng

13 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 4,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 TÌM HIỂU, NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH CỦA DÂN TỘC 1 Sự cần thiết của vấn đề cần nghiên cứu 1 1 Lý do chọn đề tài Thực tiễn là cơ sở của lý luận, bởi mọi tri thức được hình thành dù gián tiếp hay trực tiếp, đều có nguồn gốc từ thực tiễn Thực tiễn là động lực của lý luận, bởi hoạt động thực tiễn làm biến đổi thế giới, biến đổi bản thân con người, làm cho con người ngày càng hoàn thiện các năng lực của chính mình, trong đó có năng lực nhận thức Thực tiễn luôn đề ra những nhu cầu, nh.

Trang 1

TÌM HIỂU, NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG ĐẤU TRANH CỦA DÂN TỘC

1 Sự cần thiết của vấn đề cần nghiên cứu:

1.1 Lý do chọn đề tài

Thực tiễn là cơ sở của lý luận, bởi mọi tri thức được hình thành dù gián tiếp hay trực tiếp, đều có nguồn gốc từ thực tiễn Thực tiễn là động lực của lý luận, bởi hoạt động thực tiễn làm biến đổi thế giới, biến đổi bản thân con người, làm cho con người ngày càng hoàn thiện các năng lực của chính mình, trong đó có năng lực nhận thức Thực tiễn luôn đề ra những nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển nhận thức, đòi hỏi phải có tri thức mới, nhất là những tri thức được khái quát thành lý luận để trở lại chỉ đạo thực tiễn Thực tiễn là mục đích của lý luận, bởi lý luận không chỉ nhằm giải thích thế giới, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người, mà cơ bản hơn là để chỉ đạo thực tiễn, cải tạo thế giới Thực tiễn là điểm khởi nguồn của lý luận và cũng là đích trở về của lý luận, nơi kiểm nghiệm tính

chân lý của lý luận Hồ Chí Minh giải thích: “Hiểu biết do thực hành mà ra Hiểu biết lại trải qua thực hành mà thành lý luận Lý luận ấy lại phải dùng vào thực hành”

Vì sự quan trọng của thực tiễn nên trong Chương trình Trung cấp lý luận chính trị - hành chính, nghiên cứu thực tế là yêu cầu bắt buộc trong nhằm tạo điều kiện cho học viên tìm hiểu công tác xây dựng Đảng, tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh, công tác cải cách hành chính ở cơ sở xã, phường, thị trấn, các huyện trong và ngoài tỉnh; kỹ năng lãnh đạo, điều hành của cán bộ chủ chốt; hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội; việc triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở, kỹ năng xử

lý và giải quyết các tình huống xảy ra ở cơ sở; tìm hiểu, khảo sát thực tế những biểu hiện, ảnh hưởng, tác động của lý luận vào đời sống kinh tế - xã hội; hiểu sâu sắc hơn kết quả chính sách và góp phần trở lại bổ sung, phát triển lý luận

Từ những yêu cầu nêu trên, thực hiện Kế hoạch số 28-KH/TCT ngày 07/04/2021 của Hiệu trưởng Trường Chính trị Châu Văn Đặng về việc tổ chức đi

Trang 2

nghiên cứu thực tế cho học viên lớp Trung cấp lý luận chính trị - hành chính hệ tập trung khóa A34; từ ngày 16/04/2021 đến ngày 20/04/2021, Trường đã tổ chức đoàn đi nghiên cứu thực tế tìm hiểu lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng tại khu di tích Đồng Nọc Nạng thuộc thị xã Giá Rai, nơi thành lập Chi bộ đầu tiên tại Rạch Rắn thuộc xã Long Điền huyện Đông Hải, và Côn Đảo thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

Đoàn do thầy Dương Văn Thạnh - Phó hiệu Trưởng trường – Trưởng đoàn, cùng các thầy cô trong khoa Xây dựng Đảng, phòng Quản lý đào tạo và nghiên cứu khoa học và 50 học viên của lớp Trung cấp lý luận chính trị - hành chính hệ tập trung khóa A34

Mục đích nghiên cứu thực tế giúp cho học viên chúng tôi củng cố lại kiến thức về mặt lý luận trên cơ sở nghiên cứu thực tế ở địa phương để nắm bắt rõ hơn tình hình thực tế từ đó sẽ có biện pháp cách thức để đáp ứng trong yêu cầu hoạt động cơ quan, đơn vị và làm cơ sở thực tiễn cho học viên ra trường vận dụng sáng tạo trong hoạt động thực tiễn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Trong bài viết này, chủ yếu tập trung nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng tại khu di tích Đồng Nọc Nạng tọa lạc tại ấp 4, xã Phong thạnh A, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu

2 Khái quát đặc điểm tình hình địa phương và những vấn đề nghiên cứu 2.1 Đặc điểm tình hình thị xã Giá Rai

2.1.1 Vị trí địa lý

Giá Rai là một thị xã ở nằm ở phía tây tỉnh Bạc Liêu, có diện tích là 354,49 km², Thị xã Giá Rai được thành lập ngày 01 tháng 05 năm 2015 theo Nghị định của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, toạ lạc tại Khóm 1, Phường 1, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu

Trang 3

Thị xã Giá Rai nằm ở phía tây tỉnh Bạc Liêu, có vị trí địa lý:

 Phía đông giáp huyện Hòa Bình

 Phía tây giáp thành phố Cà Mau và huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau

 Phía nam giáp huyện Đông Hải

 Phía bắc giáp huyện Phước Long

Thị xã Giá Rai cách trung tâm thành phố Bạc Liêu khoảng 32 km về phía tây,

có chiều dài tuyến Quốc lộ 1A đi qua hơn 30 km

2.1.2 Địa hình

Với địa hình tự nhiên khá ôn hoà và bằng phẳng, thị xã Giá Rai có nhiều sông ngòi, đặc biệt là Kênh Xáng Quản Lộ - Phụng Hiệp có đoạn chảy qua địa bàn,

có hai vùng nước ngọt và mặn

Thị xã Giá Rai nằm trên bán đảo Cà Mau ngập mặn quanh năm Đất Giá Rai là vùng đất trẻ, địa hình bằng phẳng, độ cao trung bình từ 0,6 - 0,8 m so với mực nước biển Khu vực ven quốc lộ 1A cao hơn các vùng khác Địa hình chia làm 4 nhóm:

- Địa hình cao chiếm 39%

- Địa hình trung bình 27,5%

- Địa hình thấp 26,5%

- Địa hình thấp trung bình 7%

2.1.3 Dân số

Trang 4

Theo công bố kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu năm 2019, dân số thị xã Giá Rai khoảng 143,772 người, thành thị chiếm 52.422 người (36%), nông thôn chiếm 91.350 người (64%) Trong đó dân tộc Kinh chiếm hơn 90%, còn lại là dân tộc Hoa và dân tộc Khmer

2.1.4 Truyền thống Văn hóa

Trên địa bàn dòng văn hóa đan xen nhau với 3 dân tộc chủ yếu đó là: văn hóa của dân tộc Kinh, Khơ-me và văn hóa dân tộc Hoa, Tính cách con người có tinh thần tương trợ, đoàn kết khi hoạn nạn, chân thành, cởi mở…

Phong cách ứng xử mang đậm chất nông dân thôn dã, chất phác, bộc trực, dám phản kháng mạnh mẽ trước những bất công của xã hội

Hàng năm có rất nhiều lễ hội Người Kinh có lễ hội cúng đình, thờ thần hoàng bổn cảnh có công với nước được triều đình nhà Nguyễn Sắc phong.Đồng bào Khơ-me có lễ hội vào năm mới (Chol-Chnam-Thmây) vào giữa tháng 4 dương lịch, lễ hội chào mặt trăng (Oóc-Om-Boóc) vào ngày rằm tháng 10 âm lịch, lễ hội Đôn-ta nhằm thực hiện việc xá tội vong nhân theo đạo lý nhà Phật, lễ hội “Đồng Nọc Nạng” được tổ chức từ ngày 15 đến 17/2 âm lịch hàng năm, Đồng bào Hoa có

lễ cúng Thanh Minh vào tháng 3 âm lịch, lễ thí giàng vào tháng 7 âm lịch

2.1.5 Tình hình phát triển kinh tế xã hội

Kinh tế thị xã Giá Rai phát triển dựa và du lịch, nông nghiệp và nuôi trồng, đánh bắt thủy sản

Năm 2019, cơ cấu kinh tế thị xã đạt 100% chỉ tiêu Nghị quyết Cụ thể, công nghiệp xây dựng đạt 48,1% Thương mại dịch vụ đạt 31,6% và nông nghiệp -thủy sản đạt 20,3% Tổng sản phẩm (GRDP) bình quân đầu người năm 2019 đạt 65 triệu đồng, đạt 100% chỉ tiêu Nghị quyết

Về sản xuất nông nghiệp, sản lượng lương thực đạt 167.013 tấn, tăng 12.223 tấn so với cùng kỳ Đặc biệt, đối với Chương trình xây dựng nông thôn mới, năm

2019 có 4 xã đạt 19/19 tiêu chí, đạt 200% chỉ tiêu Nghị quyết

Trang 5

Trong năm 2019, thị xã đã thành lập mới 56 doanh nghiệp, nâng tổng số doanh nghiệp trên địa bàn lên 372 doanh nghiệp với nhiều ngành nghề kinh doanh

đa dạng

Thị xã Giá Rai đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sản xuất nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Phát triển các mô hình sản xuất lúa, thủy sản chất lượng cao, bền vững

Thị xã Giá Rai còn đẩy mạnh xúc tiến, mời gọi các doanh nghiệp, thành phần kinh tế đầu tư tham gia một số dự án vào khu công nghiệp Láng Trâm Đối với khu vực phía bắc, sẽ tập trung đầu tư phát triển những ngành nghề mới như: may mặc, đóng tàu thuyền, chế biến nông sản, đóng đồ hộp Khu vực phía Nam sẽ kêu gọi đầu tư phát triển mở rộng nhà máy chế biến xuất khầu thủy sản Bên cạnh

đó, thị xã cũng từng bước mở rộng không gian đô thị, đấu nối vào các tuyến đường tỉnh làm chủ đầu tư trên địa bàn, tạo điểm nhấn quan trọng trong liên kết phát triển giữa các tỉnh lân cận, tạo bước đột phá làm thay đổi diện mạo đô thị

2.2 Thực trang vấn đề đi nghiên cứu

- Giới thiệu sơ lược về khu di tích đồng nọc nạng

Di tích lịch sử Nọc Nạng tọa lạc tại ấp 4, xã Phong thạnh A, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu Nơi đã đi vào lịch sử, thơ ca và cả điện ảnh, gọi là đồng Nọc Nạng

Trang 6

vì khi xưa nơi đây là một vùng đất sình lầy, người dân khi đến đây khai phá thì phải cắm cọc xuống sình và sau đó lát nạng nên để cất nhà

Nọc Nạng là tên một con rạch trải dài từ phía tây bắc xã Phong Thạnh đổ ra kênh sáng Bạc Liêu, Cà Mau ngang quốc lộ 1A Nơi đây trước kia là một vùng sình lầy rộng lớn đầy rừng tràm, choại, giấm, sậy chen chúc nhau mọc đầy, quanh năm nơi đây chỉ có chim rừng, và rắn đọc trú ẩn

Đế quốc pháp và chính quyền tay sai khuyến kích người dân về miền tây mở đất, để chúng mở rộng diện tích và để chúng có điều kiện bóc lột người nông dân, chúng cho phép mỗi người nông dân được khai khẩn đất, nên người nông dân đổ

sô về miền tây, đặc biệt là Bạc Liêu vì còn nhiều rừng rậm để khai khẩn đất hoang

Trang 7

Người Nông dân khai khẩn đất

- Tóm tắt câu chuyện anh em mười chức

Dân ở đây chủ là từ nhiều vùng khác đến, hay còn gọi là dân tứ xứ Người nông dân xuống đây lao động cũng đổ mồ hôi, sôi nước mắt, làm chưa ra lúa ăn đã

bị thực dân pháp cướp công Trong số những người nông dân không chịu được sự

áp bức, bốc lột của thực dân, địa chủ, nổi bật là gia đình Mười Chức Ngày 16/02/1928 gồm 2 tên cò tây Cò Tournier, Cò Bauzou, lính mã tà được trang bị vũ khí hiện đại, từ Bạc Liêu đến Phong Thạnh để tiếp tay với Hương chức làng mà thi hành lệnh án của Toàn

Cụm tượng tái hiện lại sự kiện Nọc Nạng Khi thực dân Pháp đến sân lúa của gia đình ông Mười Chức cướp lúa,bọn chúng đã đem theo thúng,táo đong lúa và trang bị súng ống và để đàn áp và cướp lúa Vừa đến sân lúa bọn chúng liền xông vào lấy lúa, ngay lúc đó thì cô Út Trong

Trang 8

mới 19 tuổi cùng Bé Tư con ông Năm nhẫn đã đại diện gia đình tiến ra sân lúa để thương thuyết với bọn cò Pháp Vừa đến sân lúa thì bị cò Bauzou ngăn cô lại và

hỏi “con gái đi đâu ?”, “Cầm đầu hả ?”, Cô Út Trong cố gắng nhịn nhục và lễ phép nói: “Bẩm quan lớn, lúa này là lúa của anh em tôi, đây là mồ hôi, là nước mắt của anh em tôi Quan lớn không được quyền lấy ngang” Lúc này cò Bauzou khoát tay nói “Ale, đi đi” Thương thuyết bất thành quá tức giận cô Út Trong đã

xông lên chỗ đóng lúa giựt cái táo không cho đong lúa, trong lúc giằng co với bọn

cò Pháp, cô bị cò Bauzou táng té nhũi Nỗi căm phẫn trong người cô trổi dậy vì chúng đến nhà mình cướp lúa còn đánh người nữa, cô đã rút con dao giấu trong người đâm cò Bauzou bị thương, bọn lính mã tà đứng gần đó thấy vậy nên đã dùng báng súng đánh vào ngực cô làm cô ngất xỉu

Ông Tư Tại đỡ cô Út Trong bị đánh ngất xỉu Lúc này Bé Tư chạy vào nhà, báo cho cha và các chú là cô Út Trong bị bọn chúng đánh ngất xỉu Anh em ông Mười Chức lúc này không còn giữ được bình

tỉnh, ông Mười Chức hét to lên “Đồ quân ăn cướp, tao quyết sống chết với bây”,

tất cả chụp lấy vũ khí tuôn ra sân như nước vỡ bờ, ông Mười Chức dẫn đầu anh em trong trận quyết tử ngày hôm đó cùng ông Năm Nhẫn, ông Sáu Nhịn và ông Lê Văn Miều mỗi người vừa chạy vừa hô, há sợ gì bọn thực dân Cả đại gia đình hừng hực khí thế tiến đến bọn ác nhơn thà chết quyết giữ lúa mà cha con ông đã làm ra Trong cơn phẫn nộ của những người dân đen bị áp bức đến đường cùng, bọn cò Pháp hoảng sợ, tên cò Tuột Nhê đã bắn chỉ thiên nhằm trấn áp, đe dọa nhưng anh

Trang 9

em ông Mười Chức chẳng hề lo sợ và không hề nao núng vì họ xem cái chết nhẹ bằng không Hai bên đánh nhau dữ dội, lớp đâm, lớp chém, lớp bắn súng, tiếng la hét làm vang dậy vùng đất làng Phong Thạnh, Giá Rai này

Ông Mười chức đâm cò Tournier Ông Mười Chức cầm mác rừng tiến tới định đâm cò Tournier nhưng vừa đến gần ông đã bị cò Tournier bắn trúng vào ngực, mặc dù bị thương rất nặng Nhưng ông đã cố gắng gượng mình dậy tiến tới đâm cò Tournier 1 nhát thấu xương rồi ông mới lịm đi Khi cò Tournier chết thì cò Bauzou và bọn lính nháo nhào, bỏ chạy toán loạn Đau đớn nhất là hình ảnh bà Nghĩa vợ ông Mười Chức là người phụ nữ thủy chung, son sắt bụng mang dạ chữa, lúc này bà đã mang thai 7 tháng, đây là đứa con thứ 4 của bà Khi thấy chồng mình bị bắn chết, bà căm phẫn đuổi theo bọn cò Pháp đến tận bờ sông, chiếc áo bà ba làm lộ rõ bụng bầu khá to của bà nhưng cò Bauzou đã không tha cho bà, dùng súng bắn vào bụng, làm bà chết cùng với thai nhi bé nhỏ chưa kịp thấy ánh sáng mặt trời đã bị giết chết trong buổi sáng ngày hôm đó Trong gia đình, ông Mười Chức được xem là gan dạ, dũng cảm nhất,ông dám đứng lên chống trả và đấu tranh với thực dân Pháp và bọn cường hào, ác bá nên khi nói về sự kiện Nọc Nạng người dân nhắc tới ông Mười Chức và trong cuộc chiến ngày hôm đó ông cũng được xem là linh hồn trong trận quyết tử Chỉ với một cây mác rừng ông đã dũng cảm tiến tới để đâm tên cò Tuột Nhê.Tan trận chiến ông Lê Văn Miều đuổi theo bọn cò Pháp và cướp được khẩu súng, thực

Trang 10

dân Pháp lui ghe lúa đi và áp giải cô Út Trong theo Sau trận quyết tử gia đình ông Mười Chức đã có 05 người tử trận là: vợ chồng ông Mười Chức (kể cả đứa bé trong bụng vợ ông) cùng người anh năm Nhẫn, còn ông sáu Nhịn bị thương,được chạy chữa nhưng thương tích quá nặng 03 ngày sau là ngày 19/2/1928 ông cũng mất

Phần mộ gia đình Mười Chức Hai vợ chồng ông Mười Chức chết để lại 03 đứa con thơ dại đang tuổi ăn tuổi lớn cho bà Tám Luông nuôi dưỡng Đứa lớn nhất tên Tổng 8 tuổi, đứa thứ hai tên Tản 4 tuổi, đứa thứ ba tên Bạc 2 tuổi.Còn bên bọn cò Pháp thì chỉ có tên cò Tournier chết, cò Bauzou bị thương

Để ghi lại sự kiện đau thường và đầy hào khí đấu tranh này, UBND tỉnh Bạc Liêu đã cho xây dựng khu di tích tại cánh đồng Nọc Nạng năm xưa, được khởi công năm 2006 và được khánh thành vào năm 2008 Hiện tại khu di tích rộng 03ha gồm các hạng mục: Khu nhà làm việc, cụm tượng tái hiện lại sự kiện Nọc Nạng, nhà trưng bày, khu mộ gia đình ông Mười Chức, những người tham gia trận quyết

tử ngày 16/2/1928

Trang 11

Công cụ lao động Dao, mác, phảng, gậy gộc, …

Sự kiện đồng Nọc Nạng đã gây tiếng vang lớn, góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh đòi ruộng đất của nông dân Nam bộ nói chung, nông dân Giá Rai, Bạc Liêu nói riêng, tạo nên làn sóng dư luận lên án bọn địa chủ, thực dân cướp đất, cướp lúa Tuy cuộc đấu tranh của nông dân vùng Nọc Nạng là một cuộc đấu tranh

tự phát, sớm bị dặm tắt, nhưng cuộc đấu tranh ấy thể hiện tinh thần kiên cường và nghĩa khí của người nông dân Nam bộ, tinh thần đó đã góp phần hun đúc cho truyền thống kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam

- Sự quan tâm của Đảng và Nhà Nước đối với di tích Nọc Nạng.

Ngày 30 tháng 8 năm 1991, Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã xếp hạng nơi diễn ra sự kiện Nọc Nạng là di tích lịch sử -văn hóa cấp quốc gia

Trang 12

Quyết định công nhận di tích lịch sử văn hóa Nọc Nạng Đây là sự quan tâm của Đảng và Nhà Nước đối với di tích nói riêng và với lịch sử Bạc Liêu nói chung Sau khi được xếp hạng, các đ/c lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã thường xuyên đến tham quan di tích

Đ/c Trương Tấn Sang, Trưởng Ban kinh tế Trung ương; đ/c Phan Quốc Hưng; đ/c Bùi Chí Hiếu cùng các đ/c trong đoàn đến thắphương tại khu di tích lịch

sử Nọc Nạng ngày 19/11/2003

Đ/c Võ Văn Kiệt, nguyên Thủ tướng nước Cộng hòa Xã hội Chủnghĩa Việt Nam cùng các đ/c lãnh đạo tỉnh Bạc Liêu tham gia đóng góp phác thảo cụm tượng

sự kiện Nọc Nạng ngày 08/11/2004

3 ý nghĩa của chuyến đi nghiên cứu thực tế

3.1 qua chuyến đi rút ra bài học kinh nghiệm gì

Qua chuyến đi tham quan di tích đồng Nọc Nạng, làm cho tôi như được trở

về thời điểm ngày 16/2/1928, ngày mà gia đình Ông Mười Chức đứng lên đấu tranh đòi quyền lợi, ruộng đất cho gia đình Ông Một bên là người nông dân bần cùng với vũ khí thô sơ, một bên là thực dân Pháp và bọn địa chủ với vũ khí hiện đại, cuộc đấu tranh để lại nhiều đau thương mất mát cho gia đình ông Mười Chức nhưng nó đã làm thức tỉnh người nông dân Nam bộ phải đứng lên đấu tranh đòi quyền lợi, đấu tranh thực dân Pháp và bọn địa chủ áp bức, bóc lột

Qua đây ta rút ra kinh nghiệm từ sự kiện Nọc Nạng như sau:

- Ưu điểm: với tinh thần đoàn kết, thống nhất ý chí, quyết tâm cao thì mọi việc sẽ thực hiện được Trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của chủ tịch

Hồ Chí Minh có đoạn như sau: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc Ai có súng dùng súng Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.” qua đó ta thấy làm việc gì có liên quan đến số đông người dân thì phải cần có sự đoàn kết, nhất chí thì mới thành công

Ngày đăng: 31/05/2022, 10:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.2 Địa hình - Khóa luận tìm hiểu về lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng tại khu di tích đồng nọc nạng
2.1.2 Địa hình (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w