1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BTHK 9,5đ môn Luật Đất Đai Với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn bộ đất đai, Nhà nước có quyền gì đối với đất đai? Anh (Chị) có nhận định gì về thực tiễn thực thi các quyền của Nhà nước đối với đất đai trong thời gian qua?

11 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề BTHK 9,5đ môn Luật Đất Đai Với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn bộ đất đai, Nhà nước có quyền gì đối với đất đai? Anh (Chị) có nhận định gì về thực tiễn thực thi các quyền của Nhà nước đối với đất đai trong thời gian qua?
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Đất Đai
Thể loại Bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 543,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 MỤC LỤC MỤC LỤC 1 MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 3 I Với vai trò là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai 3 II Thực tiễn thực thi các quyền của Nhà nước đối với đất đai trong thời gian qua dưới góc nhìn cá nhân 5 1 Những kết quả quan trọng 6 2 Những khó khăn, hạn chế còn tồn tại 6 III Đề xuất tăng hiệu quả thực hiện các quyền đại diện chủ sở hữu đất đai của nhà nước 8 KẾT LUẬN 10 TÀI LIỆU THAM KHẢO 11 2 MỞ ĐẦU Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai ở nư.

Trang 1

1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

MỞ ĐẦU 2 NỘI DUNG 3

I Với vai trò là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai 3

II Thực tiễn thực thi các quyền của Nhà nước đối với đất đai trong thời gian qua dưới góc nhìn cá nhân 5

1 Những kết quả quan trọng 6

2 Những khó khăn, hạn chế còn tồn tại 6 III Đề xuất tăng hiệu quả thực hiện các quyền đại diện chủ sở hữu đất đai của nhà nước 8 KẾT LUẬN 10 TÀI LIỆU THAM KHẢO 11

Trang 2

2

MỞ ĐẦU

Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai ở nước ta chính thức được xác lập một cách duy nhất và tuyệt đối trong Hiến pháp năm 1980 Chế độ SHTD về đất đai tiếp tục được duy trì, ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 (Điều 17), Hiến pháp năm 2013 và được khẳng định một cách nhất quán trong Luật Đất đai của nước ta qua các thời kỳ Tuy nhiên, thực tiễn quản lý và sử dụng đất được xác lập dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về đất đai cho thấy nhược điểm lớn nhất của chế độ sở hữu đất đai này là không xác định được người chủ sở hữu cụ thể về đất đai Hơn nữa, xem xét dưới góc độ khoa học pháp lý, toàn dân với tư cách là một cộng đồng người không thể là chủ thể của một quan hệ pháp luật Chính vì không xác định được rõ chủ sở hữu cụ thể về đất đai dẫn đến tình trạng buông lỏng công tác quản

lý đất đai, dẫn đến việc đất đai bị sử dụng không đúng mục đích, lãng phí; gây nên tình trạng đầu cơ, buôn bán đất đai kiếm lời hoặc gây thiệt hại, thất thoát tài sản quốc gia và không đảm bảo nguyên tắc công bằng xã hội trong sử dụng đất; giao, cho thuê đất không đúng quy định của pháp luật…Để khắc phục hạn chế này, Luật Đất đai 2003 được ban hành bổ sung quy định đất đai thuộc sở hữu của toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu (Điều 5) Quy định này được kế thừa trong Hiến pháp 2013 và Luật Đất đai năm 2013

Với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn bộ đất đai, Nhà nước có những quyền đặc biệt đối với việc định đoạt đất đai Ngay sau đây chúng ta hãy cùng tìm hiểu kỹ

hơn những quyền này, và việc thực thi chúng trên thực tiễn thông qua đề tài “ Với

tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn bộ đất đai, Nhà nước có quyền gì đối với đất đai? Anh (Chị) có nhận định gì về thực tiễn thực thi các quyền của Nhà nước đối với đất đai trong thời gian qua?”

Trang 3

3

NỘI DUNG

I Với vai trò là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là một hệ thống quy chế chung trong quan hệ đất đai mà toàn dân là chủ thể nhưng toàn dân không thể đứng ra để thực hiện những quyền sở hữu cụ thể (chiếm hữu – sử dụng – định đoạt) mà phải cử người thay mặt mình; nhân danh mình để làm việc đó, trong trường hợp này, Nhà nước là người đủ tư cách nhất 1Khi đó, nhà nước đóng vai trò là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai Điều này đã được ghi nhận tại điều 4 Luật Đất đai năm 2013

“Điều 4 Sở hữu đất đai

Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý…”

Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đất đai thông qua hệ thống cơ quan quyền lực là Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp Việc thực hiện này được quy định cụ thể tại Điều 21 Luật Đất đai năm 2013

Cơ sở của việc nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai:

Thứ nhất, việc quy định Nhà nước là đại diện sở hữu và thống nhất quản lý đất đai xuất phát từ bản chất của Nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa, là Nhà nước của dân, do dân và vì dân

Thứ hai, mọi tài sản, tư liệu sản xuất do Nhà nước đại diện cho dân là chủ sở hữu đều được sử dụng vào mục đích phục vụ lợi ích chung của toàn thể nhân dân Nhà nước thay mặt toàn dân quản lý và phân bổ đất đai, đảm bảo điều tiết quá trình

1 Giáo trình Luật Đất đai./ Trường đại học Luật Hà Nội

Trang 4

4

phân phối công bằng, ngăn ngừa khả năng một số người chiếm dụng phần lớn đất, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận bình đẳng và công bằng với đất đai.2

Thứ ba, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và có hạn; là tài nguyên quý giá của quốc gia, là nguồn sống của nhân dân, là nguồn lực to lớn của đất nước Do đó, đất đai phải thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định pháp luật thì việc khai thác, sử dụng đất mới đạt hiệu quả cao

Thứ tư, ở nước ta, đất đai là thành quả cách mạng, là kết quả của quá trình đấu tranh khai phá, cải tạo bồi bổ và giữ gìn đất đai của các thế hệ người Việt Nam Do

đó, đất đai phải thuộc về của chung mà đại diện là Nhà nước

Cuối cùng, nước ta là nước nông nghiệp, có khoảng 70% dân số làm nông nghiệp Muốn đất đai được sử đụng dúng mục đích, hợp lý, tiết kiệm thì cần phải đặt dưới sự quản lý của Nhà nước

Quyền định đoạt đối với đất đai của Nhà nước gồm có: (i) Quyết định quy

hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất, (ii) Quyết định mục đích sử dụng đất, (iii) Quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, (iv) Quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất, (v) Quyết định giá đất, (vi) Quyết định trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, (vii) Quyết định chính sách tài chính về đất đai, (viii) Quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.3

Quyền quyết định mục đích sử dụng đất; quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất; quyền quyết định thu hồi, trưng dụng đất đai; quyền quyết định giá đất đã được cụ thể hóa hơn so với Luật Đất đai 2003.4 Đặc biệt, quyền quyết

2 Giám sát quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước theo Luật Đất đai 2013: Luận văn thạc sĩ Luật học./ Nguyễn Văn Dụng; PGS TS Nguyễn Quang Tuyến hướng dẫn

3 Điều 13 Luật Đất đai năm 2013

4 http://tapchitaichinh.vn/thi-truong-tai-chinh/nhung-doi-moi-quan-trong-ve-chinh-sach-dat-dai-trong-luat-dat-dai-nam-2013-87355.html

Trang 5

5

định chính sách tài chính về đất đai sau khi được đề cập lần đầu ở Luật Đất đai

2003, đã được Luật Đất đai 2013 kế thừa và bổ sung; cụ thể:

“Điều 19 Nhà nước quyết định chính sách tài chính về đất đai

1 Nhà nước quyết định chính sách thu, chi tài chính về đất đai

2 Nhà nước điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại thông qua chính sách thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, đầu tư cơ sở hạ tầng và chính sách hỗ trợ cho người có đất thu hồi.”

Đây là một chính sách tài chính mới về đất đai, ra đời dựa trên những đòi hỏi bức xúc về việc thực hiện công bằng xã hội trong sử dụng đất đai và tham khảo kinh nghiệm về quản lí đất đai trong điều kiện kinh tế thị trường của một số nước khác như: Đài Loan, Pháp, Trung Quốc…

II Thực tiễn thực thi các quyền của Nhà nước đối với đất đai trong thời gian qua dưới góc nhìn cá nhân

Sau hơn 6 năm triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành, cho thấy pháp luật về đất đai ngày càng đi vào thực tiễn cuộc sống, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác quản lý, sử dụng đất đai Cùng với đó là các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật đã được ban hành tương đối đồng bộ và kịp thời, đúng quy định, phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương

Theo đánh giá của cá nhân em, công tác thực thi các quyền của Nhà nước đối với đất đai đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận trong những năm gần đây Tuy nhiên, thực tiễn triển khai thi hành các quyền này vẫn còn những bất cập và trở ngại nhất định

Trang 6

6

1 Những kết quả quan trọng

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng trong thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Bước đầu, tình trạng giao đất, cho thuê đất tràn lan, không đưa vào sử dụng, lãng phí đã được khắc phục; hạn chế được việc giao đất, cho thuê đất cho các chủ đầu tư không có năng lực, tránh được lãng phí trong việc sử dụng đất

Tại các địa phương, việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cũng đã có chuyển biến rõ rệt, hạn chế tối đa việc thu hồi đất “tùy tiện” làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người sử dụng đất Chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã bảo đảm tốt hơn quyền lợi cho người có đất thu hồi Chính sách tài chính về đất đai được hoàn thiện đã góp phần tạo nguồn thu đáng kể cho ngân sách Những quy định đổi mới về giá đất đã tạo sự chuyển biến tích cực trong quản lý nhà nước về đất đai bằng biện pháp kinh tế.5

2 Những khó khăn, hạn chế còn tồn tại

Liên quan đến quyền quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất:

Việc quy định hạn mức giao đất nông nghiệp là quá thấp so với thực tiễn, diện tích nhỏ không thể áp dụng đồng bộ cơ giới hóa và tạo ra lượng sản phẩm đủ lớn cung cấp ổn định cho thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu

Thêm nữa, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp hiện nay cũng không còn phù hợp Vì trong thực tế vẫn có rất nhiều hộ nông dân đang sử dụng đất vượt hạn mức nhưng vẫn chưa có trường hợp nào bị xử lý; quy định này đã, đang làm hạn chế phát triển sản xuất quy mô lớn dẫn đến sản xuất nông nghiệp không đạt hiệu quả cao

5 https://www.baoquangbinh.vn/phap-luat/201810/bon-nam-thuc-hien-luat-dat-dai-2013-nhung-vuong-mac-can-thao-go-2160880/

Trang 7

7

Liên quan đến quyền thu hồi đất, trưng dụng đất của nhà nước:

Việc thu hồi đất đối với các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai rất khó khăn, nhất là các dự án đã được giao đất, cho thuê đất nhưng không đưa đất vào sử dụng, chậm đưa đất vào sử dụng

Điểm a Khoản 1 Điều 16 Luật Đất đai 2013 quy định quyền thu hổi đất của nhà

nước trong trường hợp “a) Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;” Song, khi cơ quan Nhà nước có

thẩm quyền ban bành quyết định thu hồi và tiến hành thu hồi lại gặp nhiều khó khăn do người bị thu hồi đất không chấp hành quyết định thu hồi hoặc tự nguyện thực hiện quyết định nhưng chậm giao đất theo quy định, nhiều trường hợp khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức cưỡng chế thì người bị thu hồi đất gây cản trở người thi hành công vụ, có trường hợp dùng các biện pháp nguy hiểm (dùng chất nổ, vũ khí nguy hiểm khác tấn công người thi hành công vụ) làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng người thi hành công vụ,… vì họ cho rằng giá đất bồi thường, chính sách trước và sau thu hồi đất không tương xứng với thị trường và lợi ích thực tế đất bị thu hồi mang lại

Liên quan đến trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất:Trên thực tế,

Công tác giao đất tại nhiều địa phương còn hạn chế, trong đó chủ yếu là giao theo

hình thức chỉ định, không đấu giá quyền sử dụng đất

Liên quan đến quyền quyết định giá đất:

Khoản 2 Điều 18 Luật Đất đai 2013 quy định:“ Nhà nước ban hành khung giá đất, bảng giá đất và quyết định giá đất cụ thể.” Thực tế cho thấy khung giá đất,

bảng giá đất do Chính phủ quy định luôn không theo kịp biến động của thị trường, đặc biệt có nơi khung giá đất chỉ bằng 20% giá thị trường Mặc dù đã có nhiều biện

Trang 8

8

pháp khắc phục, nhưng việc Nhà nước thừa nhận tồn tại 2 loại giá khác nhau như hiện nay cho thấy, việc điều hành giá với cả hai loại công cụ hành chính (khung giá, bảng giá) và thị trường (giá cụ thể của từng lô đất) đã tạo ra sự mất công bằng

và bị động, gây khiếu khiện kéo dài trong dân…6

Theo giới chuyên gia, điều này đã gây thất thoát nguồn thu ngân sách địa phương như việc chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển công năng sử dụng của công trình xây dựng gắn liền với đất, chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp thành phi nông nghiệp 7

Liên quan đến quyền quyết định chính sách tài chính về đất đai của nhà nước:

Trên thực tiễn, công tác hỗ trợ, tái định cư vẫn còn nhiều bất cập, khiếu kiện luôn chiếm tỷ lệ cao, chưa đảm bảo sinh kế cho người bị thu hồi, phát sinh nhiều chi phí như: chuyển đổi chỗ ở, việc làm, học hành, đi lại, thu nhập, y tế, tâm lý, hòa nhập cộng đồng nơi ở mới Mặt khác, việc xác định giá đất bồi thường cho người dân vẫn còn thấp so với giá thực tế trên thị trường dẫn đến tỷ lệ khiếu kiện về thu hồi, bồi thường ở mức khá cao

III Đề xuất tăng hiệu quả thực hiện các quyền đại diện chủ sở hữu đất đai của nhà nước

Để khắc phục được ít nhiều thực tiễn thực thi các quyền đối với đất đai của nhà nước, em xin đưa ra một số ý kiến cá nhân, cũng như những quan điểm khá hợp lý

mà em tham khảo được như sau:

- Trước thực tiễn quy định hạn mức giao đất nông nghiệp quá thấp, Quốc hội nên xem xét và đưa vào thực tiễn ý kiến của Đại biểu Bùi Thanh Tùng, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố Hải Phòng về việc tăng hạn mức, tiến tới dỡ bỏ

6

http://tapchitaichinh.vn/thi-truong-tai-chinh/nhung-van-de-can-luu-y-trong-hoan-thien-chinh-sach-gia-dat-310663.html

7 http://baokiemtoannhanuoc.vn/bat-dong-san/nhieu-bat-cap-trong-van-de-dinh-gia-dat-140600

Trang 9

9

hạn mức đất nông nghiệp, tạo điều kiện phát triển sản xuất nông sản hàng hóa tập trung, an toàn thực phẩm.8

- Chính phủ cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể trách nhiệm pháp lý đối với các trường hợp người bị thu hồi đất không thi hành quyết định thu hồi đất nhằm phát triển kinh tế – xã hội và an ninh quốc phòng Đồng thời, đẩy mạnh các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến các quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất khi Nhà nước thu hồi đất nhằm giúp họ nhận thức vai trò, trách nhiệm của mình trong việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc

- Cần thống nhất về cơ chế giá đất theo cơ chế thị trường Theo đó, về lâu dài nên bỏ khung giá đất do Chính phủ ban hành và giao cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh ban hành giá đất theo mục đích sử dụng đất để tính các nghĩa vụ tài chính về đất đai, cũng như bồi thường khi thu hồi đất Đồng thời, cần có cơ chế giám sát việc xây dựng bảng giá đất, cập nhật, điều chỉnh bảng giá đất; xây dựng cơ sở dữ liệu giá đất; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác định giá đất, …

- Ðể hạn chế những khiếu nại, tố cáo về đất đai, thiết nghĩ, các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần làm rõ nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Tăng cường công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với cán bộ và nhân dân, nhất là những nơi có liên quan công tác Giải phóng mặt bằng Cần thực hiện tốt chính sách đền bù giải phóng mặt bằng theo quy định, bảo đảm nguyên tắc chung là: tính đúng, tính đủ, công khai và minh bạch Thực hiện tốt chính sách với người bị thu hồi đất, một mặt phải quan tâm tiếp nhận lao động có khả năng để đào tạo bồi dưỡng nghề tuyển dụng vào các doanh nghiệp trong dự án bảo đảm số lượng theo

8 https://nhandan.com.vn/tin-tuc-su-kien/can-som-do-bo-han-muc-dat-nong-nghiep-tao-dieu-kien-phat-trien-san-xuat-277069

Trang 10

10

quy định, mặt khác, cần quan tâm xây dựng và thực hiện các dự án đào tạo nghề cho nhân dân ở khu vực bị thu hồi đất trong địa bàn của địa phương

KẾT LUẬN

Nước ta là một nước nông nghiệp, trên 70% dân số là nông dân, nguồn sống chủ yếu là từ đất đai Sở hữu toàn dân tức là mỗi người đều có quyền, Nhà nước đại diện cho người dân thực hiện quyền quản lý Nhà nước về đất đai, bảo đảm sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả, bảo đảm khát vọng của nông dân mà thành quả cách mạng đã đem lại là “người cày có ruộng”

Quyền đại diện chủ sở hữu đất đai của Nhà nước đã được Luật Đất đai 2013 kế thừa và bổ sung khá hoàn chỉnh Tính từ khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực đến thời điểm hiện tại, chúng ta đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận, khắc phục được nhiều thiếu sót, kẽ hở mà Luật Đất đai 2003 mang lại Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy công tác thực thi các quyền đối với đất đai của Nhà nước còn chưa tốt, tồn tại nhiều khó khăn, bất cập Muốn khắc phục được những yếu điểm hiện tại, Quốc hội nên hướng tới việc xây dựng, bổ sung thêm những quy định pháp luật mới, phù hợp và đúng đắn với tình hình kinh tế của đất nước; với đường lối, chủ trương của Đảng; bên cạnh đó, các cơ quan Nhà nước cũng cần thay đổi cách thức quản lý đất đai, cán bộ Nhà nước nên chú trọng trau dồi thêm kỹ năng, kiến thức, những phẩm chất đạo đức thiết yếu Có vậy, các quyền định đoạt đất đai của Nhà nước mới được thực hiện theo hướng hiệu quả nhất

Ngày đăng: 31/05/2022, 10:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w