1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN tòa án bảo vệ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG dân và VAI TRÒ của THƯ ký TRONG VIỆC BVQCN, QCD

19 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 304 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO HỌC VIỆN TÒA ÁN ((((( ĐỀ TÀI TÒA ÁN BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN – VAI TRÒ CỦA THƯ KÝ TÒA ÁN VỚI VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN Học viên Lâm Thị Hiền Khóa 25 Đào tạo Thư ký Tòa án Đơn vị Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu HÀ NỘI 2018 LỜI NÓI ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài Với việc đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối đổi mới kể trên không chỉ t.

Trang 1

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

HỌC VIỆN TÒA ÁN

 ĐỀ TÀI:

TÒA ÁN BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN

CÔNG DÂN – VAI TRÒ CỦA THƯ KÝ TÒA ÁN

VỚI VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN

CÔNG DÂN

Học viên: Lâm Thị Hiền Khóa 25 - Đào tạo Thư ký Tòa án Đơn vị: Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với việc đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chính sách, coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của công cuộc phát triển, đường lối đổi mới kể trên không chỉ tác động đến kinh tế, xã hội mà đồng thời chi phối mạnh

mẽ nhận thức và thực tế bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở nước ta trong thời gian qua

Mặc dù đòi hỏi ở mức độ khác nhau, song việc bảo đảm bất cứ quyền con người nào cũng không thể tách rời các điều kiện vật chất Do những khó khăn về kinh tế, ở nước ta hiện nay còn thiếu các điều kiện để chăm sóc, giải quyết việc làm cho các đối tượng: những người bị nhiễm HIV/AIDS, những người làm mại dâm, những người vi phạm pháp luật sau khi mãn hạn tù

Song trên thực tế, vấn đề bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong

hệ thống Tòa án nói chung và trong nhiệm vụ, vai trò của Thư ký Tòa án nói riêng vẫn còn là một trở ngại, một thách thức và cần thiết phải hoàn thiện vấn đề này

Xuất phát từ những lý do thực tiễn và lý do lý luận nêu trên, việc nghiên cứu đề tài “Tòa án bảo vệ quyền con người, quyền công dân – Vai trò của Thư

ký Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân” trong điều kiện hiện nay là một vấn đề cấp bách, có ý nghĩa nhân quyền cũng như ý nghĩa pháp

lý và thực tiễn vô cùng sâu sắc

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của việc nghiên cứu là muốn làm rõ những vấn đề lý luận Tòa

án bảo vệ quyền con người, quyền công dân, vai trò của Thư ký Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đồng thời nghiên cứu những thực trạng và làm sáng tỏ những bất cập, hạn chế, đề ra những kiến nghị nhằm tăng cường vai trò Thư ký Tòa án với việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân

3 Phạm vi nghiên cứu

Do thời gian nghiên cứu có hạn mà đề tài này lại mang tính bao quát, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề nên người viết chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân của

Trang 3

Tòa án, vai trò của Thư ký Tòa án với việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đồng thời xoáy sâu vào thực trạng về vấn đề này

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, người viết sử dụng đồng bộ các phương pháp nghiên cứu Cụ thể:

- Phương pháp phân tích tình huống, phương pháp so sánh qua bảng, phương pháp mô tả

- Phương pháp phân tích câu chữ nhằm chỉ ra hạn chế, thiếu sót

- Phương pháp tổng hợp thông tin từ sách, báo, trang thông tin điện tử làm tài liệu nghiên cứu cho đề tài

5 Nội dung nghiên cứu

Tiểu luận chủ yếu nghiên cứu những vấn đề liên quan đến quyền con người nói chung và quyền công dân nói riêng Nêu lên thực trạng về vấn đề bảo

vệ quyền con người, quyền công dân của Tòa án nói chung và vai trò của Thư

ký Tòa án trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân nói riêng

6 Bố cục tiểu luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tiểu luận gồm 2 chương:

- Chương 1: Khái quát chung về quyền con người, quyền công dân

- Chương 2: Một số kiến nghị nhằm để Tòa án bảo vệ quyền con người, quyền công dân

- Chương 3: Vai trò của Thư ký Tòa án với việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân

Trang 4

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN

CÔNG DÂN

1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

1.1.1 Khái niệm quyền con người

Quyền con người hay còn gọi là nhân quyền theo tiếng Hán Việt (Tiếng Anh là Human rights – một thuật ngữ chung được sử dụng trong môi trường quốc tế), là những khát vọng cháy bỏng từ ngàn xưa của con người, là thành quả đấu tranh đầy máu và nước mắt ở khắp nơi trên thế giới

Theo một tài liệu của Liên hợp quốc, cho đến nay đã có gần 50 định nghĩa

về quyền con người đã được công bố Trong đó, theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc thường được trích dẫn bởi các học giả nghiên cứu thì

“Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người”1, đây là định nghĩa phổ biến nhất về quyền con người

Ở Việt Nam, khái niệm quyền con người lần đầu tiên được thừa nhận trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), cụ thể “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” Theo đó, quyền con người ở Việt Nam thường được định nghĩa là “những phẩm giá, nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và thể chế hóa trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”

Ngoài ra, quyền con người còn được hiểu là “những quyền cơ bản, không thể tước bỏ mà một người vốn được thừa hưởng đơn giản vì họ là con người”, theo cách hiểu này thì quyền con người phải là quyền “bẩm sinh”, là “đặc quyền”, nghĩa là quyền lợi của con người với tư cách là người, gắn liền với con người, không thể tách rời

1 Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tiếp cận dưới gốc độ Quyền con người, Trần Thị Tuyết Nhung,

http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=182 [Truy cập ngày 21/5/2018]

Trang 5

Có thể nói rằng, đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về quyền con người được đưa ra từ ý chí nhìn nhận, nghiên cứu của mỗi người nhưng theo quan điểm của mình, người viết đồng tình với khái niệm “Quyền con người là quyền của tất cả mọi người với tư cách là con người, là những quyền xuất phát từ nhu cầu thể chất và nhu cầu tinh thần của con người và nếu không có những quyền này thì con người không thể sống đúng với bản chất của con người

1.1.2 Tính chất của quyền con người

Dựa trên nội hàm của quyền con người và Điều 5 của Tuyên bố Vienna tại Hội nghị Thế giới về Nhân quyền ngày 25/6/1993 đã khẳng định “All human rights are universal and interdependent and interrelated” (Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia sẽ, chúng liên quan và phụ thuộc lẫn nhau), có thể thấy quyền con người bao gồm một số tính chất sau đây: Tính phổ biến, tính không thể bị tước bỏ, tính không thể phân chia, liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau

1.1.2.1 Tính phổ biến (universal)

 Phổ biến về chủ thể

Quyền con người phải có tính phổ biến và đó là một yêu cầu nội tại của quyền con người Phổ biến chính là cái chung, là vấn đề mà mọi người đều biết đến và thừa nhận nó một cách rộng rãi Tính phổ biến của quyền con người chính là ai cũng có quyền con người, mọi người đều được hưởng những quyền cơ bản của con người theo lẽ tự nhiên mà không cần đến một vị thế đặc biệt nào, quyền con người được công nhận rộng rãi bởi các quốc gia, tồn tại ở bất kỳ nơi đâu, ở bất

kỳ thời đại nào và mang tầm quốc tế, nó là vấn đề chung của cả nhân loại chứ không phải là vấn đề của riêng một đất nước nào Quyền con người không phân biệt màu da, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân,…chỉ cần

là con người sẽ có quyền con người theo như tính phổ biến đã đề cập Từ đó suy rộng ra con người, dù ở trong những chế độ xã hội riêng biệt, thuộc những truyền thống văn hóa khác nhau vẫn là chủ thể của quyền con người

 Phổ biến về nội dung

Không chỉ phổ biến về chủ thể, quyền con người còn được ghi nhận trên tất cả các lĩnh vực của đời sống từ chính trị, dân sự, kinh tế đến văn hóa và xã hội

Trang 6

1.1.2.2 Tính không thể bị tước bỏ (inalienable)

Ngoài tính phổ biến, quyền con người còn mang tính không thể bị tước bỏ Tính cách này phải được hiểu là không thể bị tước bỏ một cách tùy tiện Không thể bị tước bỏ là tính chất gắn chặt với nhân thân của cá nhân con người, không thể bị tước đoạt hay chuyển nhượng của cá nhân, là giá trị vốn có của bản thân con người mà không ai có thể xâm phạm hay tùy tiện tước bỏ, ví dụ như quyền kết hôn là quyền không thể chuyển nhượng hay từ bỏ Theo tính chất này thì quyền con người không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào Ví dụ, quyền sống là quyền không thể bị tước bỏ tùy tiện bởi bất kỳ ai

1.1.2.3 Tính không thể phân chia, liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (universal and interdependent and interrelated)

Quyền con người là không thể phân chia, tính không thể phân chia có nghĩa

là sự thống nhất trong các quyền, không thể chia quyền này với quyền kia, các quyền con người đều quan trọng như nhau, có giá trị ngang nhau, không thể đề cao quyền này mà phủ nhận quyền khác Ví dụ, cả hai quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc đều quan trọng như nhau và ta không thể chia quyền tự do quan trọng hơn quyền mưu cầu hạnh phúc và ngược lại

1.1.3 Các nhóm quyền con người cơ bản

Dựa trên từng lĩnh vực trong cuộc sống và trên nội dung của từng quyền trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (the International Covenant on Civil and Political Rights – ICCPR), Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội (the International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights – ICESCR) cùng ra đời năm 1966, ta có thể chia quyền con người thành ba nhóm quyền cơ bản: Nhóm quyền dân sự, nhóm quyền chính trị

và nhóm quyền kinh tế, văn hóa và xã hội

1.1.3.1 Nhóm quyền dân sự

Nhóm quyền dân sự bao gồm quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận và bình đẳng, quyền sống như quyền không bị tước đoạt về tính mạng một cách vô cớ, quyền không bị dùng làm vật thí nghiệm, quyền không bị tra tấn, quyền được xét xử công bằng

Trang 7

Quyền về tự do đi lại và cư trú, quyền được bảo vệ đời tư.

Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo, quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân

1.1.3.2 Nhóm quyền chính trị

Nhóm quyền chính trị bao gồm quyền tự do biểu đạt, quyền tự do lập hội, quyền tham gia vào chính trị như quyền bầu cử, ứng cử

1.1.3.3 Nhóm quyền kinh tế, văn hóa và xã hội

Nhóm quyền kinh tế bao gồm quyền được hưởng và duy trì tiêu chuẩn sống thích đáng, quyền lao động như quyền có việc làm, hưởng điều kiện làm việc công bằng,…

Nhóm quyền xã hội bao gồm quyền được hưởng an sinh xã hội, quyền được

hỗ trợ về gia đình, quyền được chăm sóc sức khỏe

Nhóm quyền văn hóa bao gồm quyền giáo dục, quyền được tham gia vào đời sống văn hóa và được hưởng các thành tựu khoa học

Từ đó cho thấy, các quyền cơ bản của con người là một bộ phận cấu thành

hệ thống nhu cầu và lợi ích của con người, con người sẽ rất khó tồn tại nếu thiếu một trong những quyền cơ bản này

1.2 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN CÔNG DÂN

1.2.1 Khái niệm quyền công dân

Quyền công dân là quyền được làm công dân của một cộng đồng xã hội, chính trị, hoặc quốc gia2

Địa vị của công dân theo Khế ước xã hội, là phải mang cả quyền và trách nhiệm

Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam (Điều 49 Hiến pháp năm 2013)

1.2.2 Các nhóm quyền công dân

Mọi công dân đều có tất cả các quyền con người, bao gồm các quyền:

2 Bách khoa toàn thư mở, Quyền công dân, https://vi.wikipedia.org/wiki/Quy%E1%BB%81n_c%C3%B4ng_d

%C3%A2n [Truy cập ngày 21/5/2018]

Trang 8

- Quyền sống của con người;

- Quyền bất khả xâm phạm về thân thể;

- Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật

gia đình;quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình; quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác;

- Quyền có nơi ở hợp pháp của công dân và quyền bất khả xâm phạm về

chỗ ở của mọi người;

- Quyền tự do đi lại và cư trú;

- Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo;

- Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội,

biểu tình;

- Quyền bình đẳng giới;

- Quyền bầu cử và quyền ứng cử của công dân;

- Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân;

- Quyền biểu quyết của công dân khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân;

- Quyền khiếu nại, tố cáo của mọi người;

- Quyền suy đoán vô tội và được xét xử công bằng; quyền được bồi thường

thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự;

- Quyền sở hữu và quyền thừa kế của mọi người;

- Quyền tự do kinh doanh của mọi người;

- Quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc, được

hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi của công dân;

- Quyền kết hôn, ly hôn;

- Quyền của trẻ em, của thanh niên, người cao tuổi;

- Quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của mọi người;

- Quyền học tập của công dân;

- Quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật

và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó của mọi người;

- Quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa của mọi người;

- Quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao

tiếp của giao tiếp của công dân;

- Quyền được sống trong môi trường trong lành của mọi người.

Trang 9

Bảng phân biệt giữa quyền con người và quyền công dân

sinh, vốn có của con người, được cộng đồng quốc tế bảo vệ, nếu không được hưởng thì không thể sống như một con người

Là những lợi ích pháp lý được các nhà nước thừa nhận và bảo vệ cho những người có quốc tịch của nước mình

Văn bản ghi

nhận

- Các văn bản pháp

lý quốc tế

- Hiến pháp, luật và các đạo luật cơ bản của quốc gia

Hiến pháp, luật và các đạo luật quốc gia

không do chủ thể nào ban phát

Được Nhà nước xác định bằng các quy định pháp luật

vi quốc tế, được bảo đảm và thực hiện giống nhau, không thay đổi theo thời gian

Chỉ áp dụng trong lãnh thổ quốc gia, mỗi quốc gia có mỗi quy định riêng về quyền mà công dân được hưởng, có thể thay đổi theo thời gian

Chủ thể nắm

quyền

Tất cả con người trên thế giới

Những chủ thể có đầy đủ điều kiện được quy định trong pháp luật mỗi quốc gia

quyền

Từ khi con người được sinh ra

Từ khi chủ thể đáp ứng được đầy đủ các điều kiện

mà mà pháp luật của mỗi

Trang 10

quốc gia quy định.

Cơ chế bảo

đảm thực hiện

Các diễn đàn, thủ tục điều tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo vi phạm nhân quyền của Liên hợp quốc và một số tổ chức liên chính phủ khu vực được thành

Bằng quyền lực nhà nước của mỗi quốc gia

Trang 11

CHƯƠNG II MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM ĐỂ TÒA ÁN BẢO VỆ QUYỀN

CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN 2.1 MỤC ĐÍCH TÒA ÁN BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN

Trong hệ thống chính trị, chỉ Tòa án có chức năng xét xử và thực hiện quyền tư pháp Khi thực hiện chức trách của mình, nhiệm vụ hàng đầu của Tòa

án là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân

Tòa án có quyền phê duyệt hay bác bỏ việc tạm giam; phê chuẩn hay bác

bỏ các biện pháp trinh sát, biện pháp nghiệp vụ điều tra, thu thập chứng cứ khi

nó xâm phạm các quyền con người, quyền công dân hay có dấu hiệu trái luật

Như vậy, nhiệm vụ “bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân” đã được đưa lên thành nhiệm vụ hàng đầu của Tòa án

Nói cách khác, bảo vệ quyền con người, quyền công dân bằng Tòa án là

một trong những cơ chế hữu hiệu Thậm chí có quan điểm cho rằng: Tòa án là nơi đầu tiên và trước nhất mà người dân trông cậy để gìn giữ quyền con người 3

Bảo vệ quyền con người bằng Tòa án là việc Tòa án trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của mình và các quy định của pháp luật, xử lý những hành vi xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân hoặc giải quyết các tranh chấp trong xã hội nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân Quyền được bảo vệ quyền con người, quyền công dân là một trong những quyền cơ bản của con người Theo Điều 8 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) thì mọi người đều có quyền được bảo vệ bởi một phương thức khắc phục hữu hiệu (right

to an effective remedy) Theo đó: “Mọi người đều có quyền được các Toà án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ mà đã được hiến pháp hay luật pháp quy định.” 4Như vậy, việc bảo vệ quyền con người bằng hệ thống cơ quan

3 Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam, Cơ chế bảo vệ Quyền con người bằng Tòa án, Đinh Thế

Hưng,

http://www.vusta.vn/vi/news/Trao-doi-Thao-luan/Co-che-bao-ve-quyen-con-nguoi-bang-toa-an-40694.html , [Truy cập ngày 21/5/2018].

Ngày đăng: 31/05/2022, 09:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w