Song, do chưa thoát khỏi phương pháp tư duy siêu hình nên nhìn chung các nhà triết học duy vật thời kì cận đại đã không đưa ra được những khái quát triết học đúng đắn.Họ thường đồng nhất
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
VIỆN QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề tài số 3: Phân tích quan niệ m duy vậ t biệ n chứng về mối quan hệ giữa vậ t chất
và ý thức, từ đó xây dựng ý nghĩa phương pháp luận chung và liên hệ với thực tiễn
Họ, tên SV: Nguyễn Nhật Khánh Mã SV: 11219068
Lớp : Triết 3 Khóa: 63
Trang 2I. LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1.Vật chất 3
1.1 Định nghĩa 3
1.2 Các hình thức tồn tại của vật chất: 5
2.Ý thức 6
3.Mối quan hệ duy vật biện chứng giữa vật chất và ý thức 6
II. Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CHUNG VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN 1.Ý nghĩa của phương pháp luận 9
2.Liên hệ thực tiễn 10
NGUỒN THAM KHẢO 12
Trang 3I LUẬN CHUNG VỀ MỐI QUAN HỆ DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG
GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
1.Vật chất
1.1 Định nghĩa
A, Quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước Mác về vật chất :
Trước Mác, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã có rất nhiều định nghĩa
khác nhau về vật chất, trong đó có một số quan niệm điển hình sau :
Định nghĩa đầu tiên về vật chất cho rằng vật chất là một vật thể cụ thể, hữu hình nhất định Điều này xuất phát từ nhận thức trực quan sinh động, cảm tính Các nhà triết học cổ Hy Lạp tin rằng mọi sự vật, hiện tượng và quá trình của thế giới đều bắt nguồn từ một nguyên thể đầu tiên rõ rệt, nói cách khác là quan điểm nhất nguyên thể Chẳng hạn, Talet cho rằng vật chất là nước, nước
là yếu tố đầu tiên, là bản nguyên của mọi sự vật xuất hiện trong thế giới này Ông tin rằng mọi sự vật đều sinh ra từ nước, biến đổi không ngừng và khi chết
đi lại phân hủy thành nước, chỉ có nước là tồn tại mãi mãi
Một số nhà triết học Trung Quốc cổ đại lại tin theo thuyết ngũ hành, còn gọi
Trang 4là quan điểm đa nguyên thể Thuyết này cho rằng năm yếu tố Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là khởi nguyên, cấu thành nên mọi vật; và mọi sự biến đổi của tự
nhiên đều là do sự kết hợp khác nhau của những yếu tố vật chất đầu tiên này Bước tiến quan trọng nhất của sự phát triển về phạm trù vật chất là định nghĩa về vật chất của hai nhà triết học Hy Lạp cổ là Lờxíp (khoảng 500- 440 TCN)
và Đêmôcrít (khoảng 427- 374 TCN) Cả hai ông đã định nghĩa nguyên tử là căn nguyên của mọi vật Theo họ, nguyên tử là những hạt nhỏ nhất, không thể phân chia, không khác nhau về chất, tồn tại vĩnh viễn và sự phong phú của chúng về hình dạng, tư thế, trật tự sắp xếp quy định tính muôn vẻ của vạn vật
Bắt đầu từ thời kì Phục Hưng (XV) đến thế kỉ XVII – XVIII, chủ nghĩa duy vật
mang hình thức chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc Thuyết nguyên tử vẫn được
các nhà triết học và khoa học tự nhiên thời kì đó như Galilê, Bêcơn, Niutơn,… tiếp tục nghiên cứu và khẳng định trên lập trường khoa học Đặc biệt, những thành công kì diệu của Niutơn trong vật lý học cổ điển (nghiên cứu câu tạo và thuộc tính của các vật chất vĩ mô – bắt đầu tính từ nguyên tử trở lên) và việc khoa học vật lý thực nghiệm chứng minh được sự tồn tại thực sự của nguyên tử càng góp phần củng cố cho quan niệm trên Song, do chưa thoát khỏi phương pháp tư duy siêu
hình nên nhìn chung các nhà triết học duy vật thời kì cận đại đã không đưa ra được
những khái quát triết học đúng đắn.Họ thường đồng nhất vật chất với khối lượng, coi những định luật cơ học như những chân lý không thể thêm bớt và giải thích mọi hiện tượng của thế giới theo những chuẩn mực thuần thúy cơ học; xem vật chất, vận động, không gian, thời gian như những thực thể khác nhau, không có mối liên hệ nội tại với nhau
Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X Năm 1896, Beccơren phát hiện ra hiện
tượng phóng xạ của nguyên tố Urani Năm 1897, Tômxơn phát hiện ra điện tử Năm
1902 ,nữ bác học Marie Curie cùng chồng là Pierre Curie đã khám phá ra hai chất phóng xạ Polodium và Radium Năm 1905, Thuyết Tương đối hẹp và năm
1916, Thuyết Tương đối Tổng quát của A Anhxtanh ra đời đã chứng minh: không gian, thời gian, khối lượng luôn biến đổi cùng với sự vận động của vật chất Đứng trước những phát hiện mới của khoa học tự nhiên, quan niệm về vật chất cũng dần thay đổi
B, Định nghĩa về vật chất của V.I.Lênin :
Trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” của mình, Lênin đã đưa ra một phương pháp mới để định nghĩa vật chất và phát triển lý luận phản ánh duy vật và lý luận:
Trang 5“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác Được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác.”
Định nghĩa này của V.I.Lênin bao hàm các nội dung sau đây:
-Thứ nhất, vật chất, với tư cách là một phạm trù triết học thì nó là một sự trừu tượng Vì vậy, “chúng ta không biết, vì chưa có ai nhìn được và cảm thấy vật chất với tính cách là vật chất…bằng con đường cảm tính nào khác” Sự trừu tượng này chỉ các đặc tính chung nhất, bản chất nhất mà mọi sự vật, hiện tượng
cụ thể nào của vật chất cũng có, đó là đặc tính tồn tại khách quan và độc lập với
ý thức của loài người Đặc tính này là tiêu chuẩn cơ bản duy nhất để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không phải là vật chất Vật chất luôn có hai khía cạnh phân biệt nhau nhưng lại gắn bó với nhau, đó là tính trừu tượng và tính cụ thể -Thứ hai, thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác và không tồn tại lệ thuộc vào cảm giác,V.I Lênin làm rõ rằng thực tại khác quan là cái tồn tại trước ý thức ,độc lập và không phụ thuộc vào ý thức Còn cảm giác (ý thức)là cái có sau và phụ thuộc vào vật chất
-Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chụp lại, chép lại, phản ánh.Vật chất tồn tại khách quan nhưng không phải một cách vô hình thần bí àm tồn tại dưới dạng các sự vật, hiện tượng có thật mà con người bằng các giác quan có thể trực tiếp hoặc gián tiếp cảm nhận được
1.2 Các hình thức tồn tại của vật chất:
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng vận động là hình thức tồn tại của vật chất,và vận động ấy diễn ra trong cả không gian và thời gian, vận động là mọi sự biến đổi nói chung
Những hình thức vận động cơ bản nhất của vật chất:
+ vận động cơ học +vận động vật lý +vận động sinh học
+ vận động xã hội
Trang 62.Ý thức
Các- Mác khẳng định quan niệm duy vật biện chứng về ý thức rằng: ý niệm
chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và
được cải biến đi ở trong đó
Nguồn gốc của ý thức được chia ra làm hai
loại A, Nguồn gốc tự nhiên
Dựa trên những thành tựu của khoa học tự nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng ý thức là một thuộc tính của một dạng vật chất sống
có tổ chức cao là não bộ con người, bộ não là cơ quan vật chất và ý thức là chức năng của nó, ý thức không thể tách rời ra khỏi hoạt động não bộ
Bên cạnh đó, ý thức ra đời là kết quả phát triển lâu dài của thuộc tính phản ánh của vật chất, mà nội dung là về vật được phản ánh.Não bộ là cơ quan phản ánh ,song nếu không có tác động của thế giới bên ngoài tác động lên não bộ thù hoạt động ý thức không thể xảy ra.Như vậy bộ óc con người và thế giới khách quan là nguồn gốc tự nhiên hình thành nên ý thức
B, Nguồn gốc xã hội
Cùng với quá trình hình thành bộ não của người nhờ lao động, ngôn ngữ
và những quan hệ xã hội, ý thức là sản phẩm của sự phát triển xã hội, nó phụ thuộc vào và mang tình chất xã hội
Ý thức của con người hình thành không phải do tác động thuần túy , tự nhiên của thế giới khách quan vào bộ não con người mà chủ yếu là do hoạt động của con người làm biến đổi thế giới đó.Quá trình hình thành ý thức là kết quả của hoạt động chủ động của con người
Không có hệ thống tín hiệu là ngôn ngữ tồn tại thì ý thức không thể
được hình thành và thể hiện ra.Ngôn ngữ theo C.Mác ,là cái vỏ vật chất của tư duy ,là hiện thực trực tiếp của tư tưởng
Lao động (hoạt động vật chất)và ngôn ngữ ( tín hiệu vật chất) ở con người
là điều kiện đủ và yếu tốt quyết định đến sự hình thành của ý thức
3.Mối quan hệ duy vật biện chứng giữa vật chất và ý thức
Mối quan hệ giữa vật chât và ý thức là “Vấn đề cơ bản của mọi vấn đề triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại” Tùy theo lập trường thế giới quan khác nhau khi giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức mà hình thành hai đường lối cơ bản
Trang 7trong triết học là chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật.Tuy nhiên nắm vững phép biện chứng duy vật và cập nhật sát xao với thành tựu khoa học
tự nhiên của thời đại, vậy nên các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin
đã đưa ra nhưng quan niệm khái quát đúng đắn về mặt triết học giữa vật chất, ý thức và mối quan hệ của chúng
Theo quan điểm Mác- Lênin: vật chất và ý thức có mối quan hệ biện chứng, trong đó vật chất quyết định ý thức , ý thức tác động tích cực trở lại vật chất A,Vật chất quyết định ý thức
Vật chất có vai trò quyết định với ý thức được thể hiện qua:
- Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức
Tự nhiên , vật chất sinh ra con người cho nên theo lẽ tự nhiên thì ý thức – một thuộc tính của bộ phận con người, cũng là do tự nhiên, vật chất sinh ra Các thành tựu của khoa học tự nhiên hiện đại đã chứng minh được rằng giới tự nhiên có trước con người; vật chất là cái có trước, còn ý thức là cái
có sau Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và là nguồn gốc sinh
ra ý thức Bộ óc con người là cơ quan phản ánh để hình thành ý thức Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh hiện thực khách quan Sự vận động của thế giới vật chất là yếu tố quyết định sự ra đời của cái vật chất có tư duy là bộ óc con người
- Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức
Suy cho cùng dưới mọi hình thức thì ý thức thức chỉ là sự phản ánh của thế giới khách quan và nội dung của nó là kết quả từ sự phản ánh của hiện thực khách quan tác động lên bộ óc con người Sự phát triển của hoạt động thực tiễn là động lực mạnh mẽ nhất quyết định tính phong phú và độ sâu sắc của nội dung của tư duy, ý thức con người qua thời gian
- Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức
Phản ánh và sáng tạo lại là hai thuộc tính không thể tách rời trong bản chất của
ý thức.Khác với chủ nghĩa duy vật cũ, chủ nghĩa duy vật biện chứng xem thế giới vật chất là thế giới của con người hoạt động thực tiễn Chính thực tiễn là hoạt động vât chất có tính cải biến thế giới của con người, là cơ sở để hình thành, phát triển ý thức, trong đó ý thức của con người vừa phản ánh, vừa sáng tạo, phản ánh để sáng tạo và sáng tạo trong phản ánh
Trang 8- Thứ tư, vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức
Mọi sự tồn tại, phát triển của ý thức đều gắn liền với quá trình biến đổi của vật chất; vật chất thay đổi thì sớm hay muộn, ý thức cũng phải thay đổi theo Con người- sinh vật có tính xã hội ngày càng phát triển thì ý thức – một hình thức phản ánh của não bộ con người của phát triển về nội dung
và hình thức của nó theo Trong đời sống xã hội, vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được biểu hiện ở vai trò của kinh tế với xã hội chính trị, đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần, tồn tại xã hội đối với ý thức
xã hội.Sự phát triển của kinh tế quyết định sự phát triển của văn hóa, đời sống vật chất thay đổi thì đời sống tinh thần cũng đổi thay theo
B, Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
- Thứ nhất, mặc dù là sự phản ánh của thế giới khách quan vào bộ óc con người , nhưng khi được hình thành thí ý thức lại có “ đời sống riêng” quy luật vận động và phát triển riêng điều đó nói nên tính độc lập tương đối của ý thức Ý thức một khi ra đồi thì có tính độc lập tương đối, tác động trở lại thế giới vật chất Ý thức có thể thay đổi nhanh, chậm, song hành với hiện thực, nhưng nhìn chung nó thường thay đổi chậm so với sự biến đối của thế giới vật chất
- Thứ hai, sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua ý hoạt động thực tiễn của con người.Còn tự bản thân ý thức thì không thể biến đổi được hiện thực Nhờ hoạt động thực tiễn, ý thức có thể làm biến đổi những điều kiện, hoàn cảnh vật chất, thậm chí còn tạo ra được “thiên nhiên thứ hai” phục vụ cho cuộc sống của con người Con người dựa trên những tri thức về thế giới khách quan, hiểu biết về những quy luật khách quan, từ đó đề ra mục tiêu, phương hướng, biện pháp và ý chí quyết tâm để thực hiện thắng lợi mục tiêu đã xác định
- Thứ ba, ý thức chỉ đạo hoạt động, hành động của con người; nó có thể quyết định làm cho hoạt động của con người đúng hay sai, thành công hay thất bại Khi phản ánh đúng hiện thực, ý thức có thể dự báo, tiên đóan một cách chính xác cho hiện thực, có thể hình thành nên những lý luận, định hướng đúng đắn Ngược lại, ý thức có thể tác động tiêu cực khi nó phản ánh sai, bóp méo hiện thực
- Thứ tư, xã hội ngày càng phát triển thì bai trò của ý thức ngày càng to
lớn,nhất là trong thời đại thông tin, nơi mà ngành công nghiệp kỹ thuật số tạo ra một xã hội dựa trên tri thức bao quanh bởi một nền kinh tế toàn cầu
Trang 9công nghệ cao, bao trùm ảnh hưởng của nó đến phương pháp sản xuất trong toàn ngành và lĩnh vực, tri thức góp vai trò rất quan trọng ttrong bối cảnh hiện nay
Nói tóm lại, vật chất bao giờ cũng đóng vai trò quyết định đối với ý thức, nó là cái có trước ý thức, nhưng ý thức lại tồn tại độc lập và tác động trở lại vật chất Mối quan hệ tác động qua lại này chỉ được thực hiện thông qua hoạt động thực tiễn của con người
VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN
1.Ý nghĩa của phương pháp luận
- Vì vật chất quyết định ý thức nên trong hoạt động thực tiễn chúng ta phải tôn trọng khách quan, nhận thức và hoạt động theo đúng quy luật khách quan
Thông qua hoạt động thực tiễn của con người, ý thức có thể cải biến được tự nhiên, thâm nhập vào sự vật, hiện thực hoá những mục đích mà nó đề ra cho hoạt động của mình Mặt khác, đời sống con người là sự thống nhất không thể tách rời giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần trong đó những nhu cầu tinh thần ngày càng phong phú và đa dạng và những nhu cầu vật chất cũng bị tinh thần hoá Triết học Mác-Lênin khẳng định rằng, trong hoạt động của con người, những nhân tố vật chất và ý thức có tác động qua lại, song sự tác
động đó diễn ra trên cơ sở tính thứ nhất của nhân tố vật chất so với tính thứ hai của nhân tố ý thức.Tuy nhiên, trong hoạt động của con người, những nhu cầu vật chất xét đến cùng bao giờ cũng giữ vai trò quyết định, chi phối và quy định hoạt động của con người vì nhân tố vật chất quy định khả năng các nhân tố tinh thần
có thể tham gia vào hoạt động của con người, tạo điều kiện cho nhân tố tinh thần hoặc nhân tố tinh thần khác biến thành hiện thực và qua đó quy định mục đích chủ trương biện pháp mà con người đề ra cho hoạt động của mình bằng cách xác định, chọn lọc, sửa chữa bổ sung,cụ thể hoá mục đích,thêm vào đó, cuộc sống tinh thần của con người xét đến cùng bị chi phối và phụ thuộc vào việc thoả mãn nhu cầu vật chất và vào những điều kiện vật chất hiện có
Muốn thành công, con người phải tuân theo những quy luật khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng Phải luôn đặt mình, cơ quan, công ty trong những hoàn cảnh, điều kiện thực tế, nhất là về vật chất, kinh tế Cần luôn nỗ lực loại bỏ bệnh chủ quan, duy ý chí trong cuộc sống Đó là việc tránh xa thói quen chỉ căn cứ
Trang 10vào nhu cầu, ước muốn, niềm tin của mình để hành động mà không nghiên cứu, đánh giá đầy đủ tình hình các đối tượng vật chất
- Vì ý thức tác động trở lại vật chất nên cần phát huy tính năng động chủ quan, đặc biệt phát huy vai trò của tri thức, khoa học, chú ý giáo dục và nâng cao nhận thức cho con người
Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải luôn chủ động, phát huy hết trí thông minh, khả năng suy nghĩ của mình Phải luôn tìm tòi, sáng tạo
ra cái mới trên cơ sở tích lũy, kế thừa những cái cũ phù hợp Có như vậy, con người mới ngày càng tài năng, xã hội ngày phát triển.Con người phải không ngừng rèn luyện, tu dưỡng, nâng cao thể lực, trí lực để nâng cao năng lực nhận thức và lao động của mình Phải kiên trì, nỗ lực vượt qua khó khăn, không bỏ cuộc giữa chừng.Tuyệt đối không được thụ động, trông chờ, ỷ lại trong mọi tình huống Điều ngày cũng đồng nghĩa với việc tránh sa vào lười suy nghĩ, lười lao động.Không được tuyệt đối hóa vai trò của các điều kiện vật chất trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Vật chất có vai trò quyết định, chi phối nhưng không có nghĩa là những thiếu hụt đối tượng vật chất sẽ khiến con người thất bại trong việc tìm ra giải pháp khả thi
Để thực hiện nguyên tắc tôn trọng tính khách quan kết hợp phát huy tính năng động, chủ quan, chúng ta còn phải nhận thức và giải quyết đúng đắn các quan hệ xã hội; phải có động cơ trong sáng, thái độ thật sự khách quan, khoa học, không vụ lợi trong nhận thức và hành động của mình
2.Liên hệ thực tiễn
Hơn một năm qua , covid-19 hay nCoV hay Corona không còn là những cái tên mới lạ với thế giới nữa sự xuất hiện của loại virus này đã mang đến cơn ác mộng cho nhân loại , tính từ đầu thế kỉ XXI, dịch Covid đã kéo lùi sự phát triển kinh tế, xã hội hầu hết các quốc gia trên thế giới Ngay khi dịch COVID-19 xuất hiện, khác với thái độ chủ quan và coi thường của các quốc gia lớn khác thì Việt Nam đã có những chiến thuật riêng, Với phương châm “chống dịch như chống giặc”, Việt Nam huy động sự tham gia của chính quyền các cấp, hệ thống y tế quốc gia, các nhà khoa học, sự hỗ trợ của lực lượng quân đội…, cùng kiên quyết thực hiện cách ly tập trung, kết hợp giữa kiểm soát nguồn lây, truy tìm tiếp xúc, xét nghiệm và điều trị Chính phủ chấp nhận “hy sinh lợi ích kinh tế trong ngắn hạn để bảo vệ sức khỏe và sự an toàn của người dân” đồng thời chính phủ Việt Nam cũng nhận được sự ủng hộ hưởng ứng rộng rãi của nhân dân điều này đã dân đến sự khởi sắc trong công cuộc chống dịch của Việt Nam, đưa cái tên Việt Nam thành tấm gương sáng