Dựa vào các lý luận mới như trên, tác giả đã nghiên cứu về "vương triều phụ hệ" lâu dài đầu tiên của Việt Nam tức nhà Lý Momoki, 2000, chủ trương rằng, chế độ con đích tôn kế thừa ngai
Trang 1NHÀ TRẦN NHƯ LÀ SỰ NGHIỆP DÒNG HỌ:
KHẢ NĂNG SO SÁNH VIỆT - NHẬT
VỀ LỊCH SỬ TRUNG ĐẠI
GS Momoki Shiro Đại học Osaka, Nhật Bản
Gần đây, Nhật Bản học ở Việt Nam cũng như Việt Nam học ở Nhật Bản phát triển
rất nhanh, có không ít đề tài lịch sử liên quan đến mối quan hệ Việt - Nhật với ý nghĩa hẹp (tức quan hệ trực tiếp như giao lưu, hợp tác, đối lập v.v ) được nghiên cứu một cách
công phu Song, hai bên có vẻ chưa nhận thức được đầy đủ về khả năng tìm hiểu quan
hệ với ý nghĩa rộng (như môi trường quốc tế trong đó hai nước cùng thuộc về, sự tương
tự và khác nhau của hai xã hội v.v ) về hai nước cũng có văn minh lúa nước và văn
minh Đông Á Bài viết này nhằm mục dích tìm hiểu khả năng so sánh trung đại của hai
nước trong lĩnh vực gia đình và phụ nữ
1 Vương quyền thời Trần và nghiên cứu gia đình - phụ nữ
Từ cuối những năm 1970 đến những năm 1980, vương quyền và thiết chế chính trị Việt Nam trong giai đoạn Lý - Trần đã được giới khoa học lịch sử quan tâm khá nhiều: Phía sau đó œ những lý luận mới như "sự phong kiến hóa của xã hội phương thức sản
xuất châu a” trong giới sử học Việt Nam (như Lê Kim Ngân, 1981), và sự "Đông Á hóa
của xã hội và quốc gia mang tính chất Đông Nam Á" trong giới sử học - khu vực học ở
My (Wolters, 1976 ) và Nhat (Sakurai, 1980; Momoki, 1982 ) Nói chung, các học giả nhất trí nghĩ rằng thiết chế trung ương tập quyềr#&iểu Trung Hoa cũng như chế độ phụ
hệ kiểu Nho giáo được xác lập trong các thế kỷ XIII - XIV -XV
Mặt khác, có quan niệm cho rằng phu nữ Việt Nam trong thời phong kiến, nhất là trước thế ky XV, œ địa vị tương đối cao và đóng vai trỏ tương đối lớn Quan niệm nay được phổ biến từ khá sớm thông qua các đề tài nghiên cứu như Quốc triều hinh luật (Makino Tatsumi 1950, 1954; Niida Noboru, 1954; Phan Huy Lê, 1959; Tạ Văn Tải, 1981;
Yu Insun, 1990; ) hoặc đấu tranh chống ngoại xâm Nhưng quan niệm đó thường mơ
hồ, ít được nghiên cứu bằng phương pháp chính trị và vương quyền (Katâym, 1997) Các luận điểm của học giả Việt Nam về "tàn dư chế độ mẫu hệ" (Lê Thị Nhâm Thuyết, 1975),
"chế đô gia trưởng kiểu Nho giáo" cũng như luận điểm nhân học phương Tây về mô hinh
156
Trang 2gia đình bilaferal hoặc cognaffc (Lưỡng hệ hoặc song phương - không phải phụ hệ, cũng không phải mẫu hệ - Makio, 1950, 1954; Wollers, 1976, 1982; Yu Inssun, 1990,2001)
đều quá đơn giản trước lý luận hiện đại về gia đình và phụ nữ (Suenari, 1995) Ngay cả các chuyên gia Mỹ nhấn mạnh tính bilateral của vương quyền Lý - Trần (Wolters, Taylor,
1995 v.v ) vẫn coi những người vợ của vua chỉ là tay sai của dong họ mình muốn nắm quyền lực (tức là tay sai của các đàn ông?) Điều đó tượng trưng cho sự kém phát triển
của lĩnh vực nghiên cứu này
Tinh hình nghiên cứu lịch sử oổ trung đại của các nước Đông Nam Á khác cũng
không phát triển lắm (Day, 2002) Nếu loại trừ một vài chuyên gia về giai đoạn sơ kỳ cận
dai (early modern) thi Nhật Bản chỉ ó Aoyama Toru (1992) nghiên cứu gia đình - phụ nữ
và vương quyền Majapahit ở Java
Trước cuối những năm 1970, nghiên cứu lịch sử gia đình và phụ nữ Nhật Bản trong
giai đoạn cổ trung đại cũng kém phát triển (Wakita, 1992; Momoki, 2000) Nhưng sau đó
nó thay đổi, ban đầu dưới ảnh hưởng của lý luận chế độ bilateral của xã hội học Đông Nam Á Thành tựu nổi bật đầu tiên là bộ Lịch sử phụ nữ Nhật Bản gồm năm quyển xuất bản năm 1982 Sau đó ngành lịch sử phụ nữ - gia đình Nhật Bản phát triển rất mạnh và toàn diện, đã bổ sung được nhiều luận điểm cho lý luận Angghen vốn thiếu kiến thức về châu Á Vì thế các nhà Đông Nam Á học cũng cần tham khảo một số công trình tiêu
biểu của lịch sử phụ nữ - gia đình Nhật Bản Và giới nghiên cứu Trung Quốc, Mông Cổ,
Mãn Châu v.v của Nhật Bản gần đây cũng cố gắng tìm hiểu về gia đình - phụ nữ và
vương quyền trong đó cũng có mấy công trình bổ ích để so sánh
Dựa vào các lý luận mới như trên, tác giả đã nghiên cứu về "vương triều phụ hệ"
lâu dài đầu tiên của Việt Nam tức nhà Lý (Momoki, 2000), chủ trương rằng, chế độ con
đích tôn kế thừa ngai vàng theo huyết thống phụ hệ được liên tục thực hiện trong thời Lý,
chủ yếu dựa vào sự cộng tác (đồng cai trị) tạm thời của các thành viên gắn bó (như mẹ,
vợ, anh chị em, con trai, con gái) trong gia đình vua với điều kiện là tập đoàn dòng họ
phụ hệ chưa phát triển và mọi người trong hoàng tộc đều có những vị trí khá độc lập trên
cơ sở tài sản riêng và bộ máy quản lý tài sản riêng của mình Vậy thì thiết chế hoàng tộc (dòng họ) nắm độc quyền của nhà Trần đã phát triển như thế nào và có cấu trúc ra sao? Bài này muốn tìm hiểu các vấn đề đó với quan điểm phụ nữ - gia đình và vương quyền", những quan điểm mà tác giả chưa có khi lần đầu tiên nghiên cứu thiết chế chính trị thời Trần vào năm 1982 (Momoki, 1982)
2 Phả hệ và hôn nhân của hoàng tộc nhà Trần
Thói quen trai gái cùng hộ lấy nhau là nét nổi bật của hoàng tộc thời Trần (xem sơ
Trang 3đồ 1, 2} Xét về quan hệ hoàng đế - hoàng hậu thì Thái Tông đã thực hién cross cousin
marriage với phía bố (hôn nhân con cô - con cau) Nếu nhìn từ hai chị em hoàng hậu
(Thuận Thiên và Chiêu Thánh) thì hôn nhân với Thái Tông là eross cousin marriage phía
bố (con của anh trai và con của em trai lấy nhau) Nếu Thiên Thánh trưởng công chúa,
vợ của Trần Quốc Tuấn, là con gái của Thái Tông, thì cũng có thể nói rằng anh em Trần Liễu và Thái Tông đã trao đổi con gái mình cho nhau Trường hợp Nhân Tông lấy Khâm
Từ (con gái Trần Quốc Tuấn) thì trở về cross cousin mariage phia me Nhung, néu me
đẻ của Khâm Từ là Thiên Thánh và Bảo Huệ (vợ của Quốc Tảng) la con gái Thánh Tông
thì có lẽ Thánh Tông và Quốc Tuấn (con của anh em Thái Tông - Liễu) cũng đã trao đổi con gái mình Anh Tông cũng đã lấy con gái thuộc ngành Trần Liễu làm hoàng hậu'
Đến đời Minh Tông thì hôn nhân giữa hoàng đế và ngành Trần Liễu - Quốc Tuấn bị chấm dứt, có lẽ vì Quang Triều (con trai của Quốc Tảng) không có con, thì Minh Tông lại
thực hiện parallel cousin mariage phía bố với con gái của em trai bố là Quốc Chẩn Huệ Túc đại vương (bố của hoàng hậu Hiến Tông và hoàng hậu Dụ Tông) chưa rõ là con của
ai Trường hợp Dương Nhật Lệ (lấy con gái của Nghệ Tông) cũng thực hiện parallel cousin marriage phía bố“ Từ đời Duệ Tông xuất hiện hoàng hậu thuộc dỏng họ Hồ Quý
Ly (Duệ Tông đã thực hién cross cousin marriage phia me), nhung Phé dé lai thuc hiện
parallel cousin marriage phia bố Thuận Tông, lấy con gai cla Quy Ly) thuc cross cousin marriage phía bố vì me vợ (vợ cả của Quý Ly) là con gái của Minh Tông Nếu Hiến Gia hoàng hậu họ Trần của Hồ Hán Thương là con gái của Nghệ Tông thi Nghệ Tông và Hồ
Quý Ly cũng đã trao đổi con gái mình Nếu œó quan niệm ưu tiên parallel cousin marriage thi nó có thể giống mô hình dadia phổ biến trong vương tộc đảo Bali (Geertz, 1980:28-33), nhưng cũng có thể nghĩ rằng cái mà quan trọng hơn là việc hai đản ông
trao đổi con gái như dân tộc Mông Cổ (Uno, 1997)
Trước khi nhà Trần thành lập, họ Trần œ lạ chưa có thói quen hôn nhân củng họ,
vì vợ cả của Thái Tổ Thừa (bố Thái Tông) thuộc họ Lê và Thừa œ cậu là Tô Trung Tự”
Nhưng sau khi lập được vương triều thì không những các hoàng đế và hoàng hậu mà con nhiều người trong hoàng tộc cũng thực hiện hôn nhân củng ho, như Trần Thủ Độ và Linh Từ quốc mẫu (vợ Lý Huệ Tông), Trần Quốc Tuấn và Thiên Trưởng công chúa (em gái của Thái Tông?) Chiêu Minh đại vương Quang Khải (em trai Thánh Tông) và Phụng Dương công chúa (con gái của Thủ Ðộ) lấy nhau và các con của họ cũng đã lấy con của
Quốc Khang (con thứ của Thái Tông) và Thánh Tông? Có lẽ thói quen hôn nhâu củng
họ xuất phát từ biên pháp dé phỏng sự xuất hiện của ngoại thích có khả năng đe dọa ngai vàng, như nhận xét của sử gia Nguyên Mông là Trần Cương Trung (Trần Cương
Trung thi tập)
158
Trang 4Dù sao hoàng tộc thời Trần hình thành được một số ngành phụ quan trọng như ngành Thủ Độ, ngành Trần Liễu - Quốc Tuấn, ngành Quang Khải v.v Nói một cach khác, các ngành này đã tập hợp lại để tạo ra họ Trần là một dòng họ phụ hệ lớn
3 Vai trò hoàng tộc
Hoàng tộc thời Trần, cả đàn ông lẫn đàn bà, đã nắm trong tay hầu hết địa vị và quyền hạn quan trọng ở trung ương cũng như địa phương
3.1 Ban ông (rong hoàng tộc
Trước hết cần phải kể đến chế độ Thượng hoàng nhằm mục đích bảo vệ sự kế vị
của hoàng đế trẻ theo phụ hệ Thượng hoàng mới lên ngôi mấy năm sau khi vị thượng hoàng trước qua đời (giống như Nam Tống, khác với Nhật Bản) Khi mà thượng hoàng và hoàng đế cùng tồn tại thì quyền hạn quyết định cuối cùng thường nằm trong tay thượng
hoàng
Nhưng, vai trò của thượng hoàng đầu tiên là Thái Tổ Trần Thừa (bố Thái Tông)
chưa rõ Các sử gia hiện đại thường coi thường quyền lực của ông (có lẽ theo quan điểm
của Đại Việt sử ký toàn thư), nhưng Pôliacốp (1996) đã chủ trương rằng chính Trần Thừa
là hoàng đế đầu tiên của nhà Trần Thực ra, An Nam chí lược (phần Trần Thị thế gia) viết: Trần Thừa là "đệ nhất thế" (đời thứ nhất) Bạch Hạc thông thánh quán chuông ky’ khắc năm 1323 gọi Thánh Tông là "đệ nhị đế" (hoàng đế thứ hai) và Thị Dức xã tự bi khắc năm 1331 gọi Hiến Tông là "đệ thất đế" (hoàng đế thứ bảy) Vấn đề người có quyền lực tối cao đầu tiên là ai thì œ lẽ ý kiến của Pôliacốp là đúng
Nhưng đồng thời có nhiều khả năng là: về hình thức chế độ nhị nguyên tức bố -
con đồng cai trị đã thành lập ngay khi nhà Trần cướp ngai vàng của nhà Lý cho nên
không thể nghĩ rằng Thái Tông chưa lên ngôi hoàng đế được khi Thái Tổ còn sống Từ năm 1230, cung Thánh Từ (còn gọi là Bắc Cung) của thượng hoàng nằm ở bên trái và cung Quan Triều của hoàng đế nằm ở bên phải được xây dựng trong kinh thành Thăng Long (Đại Việt sử ký toàn thư) Có chế độ cai trị nhị nguyên của bố con mới có chuyện
như vậy Cung Thánh Từ có cơ quan quản lý riêng là Thánh Từ cung hành khiển ty, có lẽ
song song với cơ quan hành khiển ty của hoàng đế, và hai cung điện (hành khiển ty) chắc đều có quyền lợi nhất định với cả các địa phương Mặc dù thái thượng hoàng sau
Thái Tông nhiều khi ở Thiên Trường (Nam Định) nhưng ngay trong kinh thành cũng có hai trung tâm
Khi thượng hoàng Thái Tổ mất năm 1234, anh trai của Thái Tông là Liễu đã “coi
việc cung Thánh Từ” (Đại việt sử ký toàn thư) Đến khi kết tội thông dâm với cung nữ vào
Trang 5nam 1236, Liễu có thể có địa vị gần thượng hoàng
Vì thực hiện chế độ hôn nhân cùng họ, nên không có người khác họ nắm quyền
lực triều đình như là ngoại thích hoặc phỏ mã trước sự nổi lên của Hồ Quý Ly Chỉ có điều là “ngoại thích Lý Cát (thuộc dỏng dõi nhà Lý?) bị phạt vì đã "ngồi trên ngai vàng"
(Đại Việt sử ký toàn thư, 1268)
Như là người có quyền kế thừa ngai vàng, Thánh Tông, Anh Tông và Minh Tông đều có thời kỳ được phong làm Đông cung Thái Tử, sau đó mới được phong làm hoàng
thái tử sau khi ông minh - thượng hoàng mất, và cuối cùng lên ngôi hoàng đế sau khi bố minh trở thành thương hoàng Điều đó œ nghĩa là nhà Trần không bao giờ có ba vị thượng hoàng - hoàng đế - hoàng thái tử cùng một lúc Nhờ có hình thức kế thừa như thế, thời Trần ít thấy sự đối lập giữa con đích và con thứ như thời Lý, trừ trường hợp Quốc
Khang (con trai cả của Thái Tông nhưng là con thứ) và Thánh Tông (con trai thứ hai như con đích của Thái Tông), và nếu thật thì, trường hợp Dương Nhật Lệ Song, Minh Tông
đã nhường ngôi cho Hiến Tông (con của vợ lẽ) trước khi sinh được con đích, có thể là vì
muốn trở thành thượng hoàng sớm sau khi thái thượng hoàng Anh Tông mất” Nghệ
Tông, vị hoàng đế muốn khôi phục lại các chế độ thời Minh Tông, cũng đã nhượng ngôi sớm (trước khi sinh oon trai đích?) cho em trai khác mẹ là Duệ Tông Không hiểu tại sao
em gái họ (hoàng hậu của Duệ Tông) và con gái (hoàng hậu của Thuận Tông) của Hồ
Quý Ly có thể trở thành hoàng hậu, dù Hồ Quý Ly có công lớn trong chiến dịch đánh Dương Nhật Lệ và đánh Champa
Về chính quyền trung ương, nhiều người giữ được địa vị cao, chẳng hạn chú (Thủ Độ) và em trai (Nhật Hạo) của Thái Tông, em trai Thánh Tông (Quang Khải), em trai Nhân Tông (Đực Việp), em trai Anh Tông (Quốc Chẩn) lần lượt giữ chức tể tướng Và
danh sách các quan chức cao cấp không thay đổi khi hoàng đế mất như thời Lý
(Fujwara 1987) Những người trong hoàng tộc nhưng không phải là con trai hoặc anh
trai, em trai của hoàng đế cũng œ thể có danh hiệu vương và đại vương như Hưng Đạo
vương Trần Quốc Tuấn và các con trai, cháu trai của ông, con trai của Quốc Kháng (anh
của Thánh Tông) la Nhân Quốc vương, con trai của Quang Khải (Văn Túc vương và Võ Túc vương) Có nguyên tắc binh thường như “chỉ có con trai của hoàng hậu mới được
làm đại vương và con thứ của hoàng đế và con trai của đại vương được làm vương” hay
không thì chưa rõ
Về thống trị địa phương, những người thuộc hoàng tộc có thái ấp (với phủ để) vả
điền trang, thường sống ở địa phương và chỉ lên kinh khi nào cần thiết Quy mô thái ấp
thường hẹp hơn so với môt huyện sau thế kỷ XV và không được oon cái kế thừa (Trương 160
Trang 6Hữu Quýnh, 1982; Nguyễn Thi Phuong Chi, 2002) Quy mô của điền trang cũng hẹp hơn
một huyện (Sakurai, 1992) Nhưng các hoàng tộc quan trọng như Thủ Độ, Quốc Tuấn và con cháu của ông, Quang Khải và con cháu của ông v.v có uy thế trong phạm vi rộng trong cả lộ mà thái ấp của họ nằm trong đó hoặc là lộ mà họ đã cai trị Họ hay kết thông
gia với lớp thổ hào (ngoài phạm vi hôn nhân chính trong hoàng tộc) như trường hợp
Quốc Kháng ở Diễn Châu và Nhật Duật ở Thanh Hoá Xung quanh gia nô trực thuộc của
mình, họ có thể điều động lực lượng vũ trang lớn ở địa phương mà mình có uy quyền khi đánh giặc Thời bình thì họ có thể thu hút nhân tài văn võ ở địa phương như “môn khách”
của mình cung cấp một phần xuất sắc cho trung ương
Về hoạt động Phật giáo, nhiều người trong hoàng tộc xây chùa, cúng ruộng, và làm nghỉ lễ Phật giáo Không những thế, một số người đã từng trở thành người lãnh đạo
về giáo lý hoặc tổ chức giáo phái như Thái Tông, Nhân Tông và Huệ Trung thượng sĩ (Viện Triết học, 1988)
Nhưng vào nửa cuối thế kỷ XIV, cơ chế tập trung quyền lực về hoàng tộc (để cho ngai vàng của họ Trần vững chắc) lại gây sự suy thoái của chính quyền với những cuộc xung đột nội bộ của hoàng tộc, và œ lẽ với những sự xuống cấp di truyền do hôn nhân
củng họ gây ra
32 Phụ nữ trong triểu đình và hoàng tộc
Khi tìm hiểu chế độ thái thượng hoàng, chúng ta cần chú ý đến cả các danh hiệu
phụ nữ như hoàng thái hậu và quốc mẫu Danh hiệu hoàng thái hậu thường được tặng
cho vợ cả của thượng hoàng hoặc hoàng đế trước, tức là những phụ nữ đã từng được
phong làm hoàng hậu Nhưng trường hợp đời Anh Tông và Minh Tông, Tuyên Từ (không
rõ họ) làm hoàng thái hậu từ 1295 sau khi Khâm Từ hoàng thái hậu (hoàng hậu của Nhân Tông) mất năm 1293, œ lẽ vì Tuyên Từ có vị trí như vợ kế của Nhân Tông thượng hoàng (làm thái thượng hoàng từ 1293 đến 1308)
Khi Anh Tông hoàng đế và Minh Tông hoàng đế nhường ngôi thì hoàng hậu của
các ông được gọi là thái thượng hoàng hậu, rồi khi hoàng đế sau (Minh Tông và Hiến
Tông) lên ngôi thì các bà được gọi là hoàng thái hậu Nếu thái thượng hoàng hậu (vợ của
thái thượng hoàng đế) và hoàng thái hậu (vợ của thượng hoàng) được phân biệt thì hai từ
đó được phân biệt rõ ở Trung Quốc và Nhật Bản (Haruna, 1990) - thì có khả năng rằng
vợ chồng thái thượng hoàng đế - thái thượng hoàng hậu không phải là vợ chồng
đã “thoái vị" mà là vợ chồng có quyền lực tối cao trong pháp chế song song với vợ chồng hoàng đế - hoàng hậu, trong khi đó vợ chồng thượng hoàng - hoàng thái hậu là vợ chồng
đã thoát ly khỏi vị trí chủ quyền pháp chế, chính vì thế lại quyền lực siêu pháp chế
Trang 7Ý nghĩa của danh hiệu quốc mẫu không rõ Trường hợp Linh từ quốc mẫu (vợ của Thủ Độ, vốn là hoàng hậu của Lý Huệ Tông) thi Đại Việt sử ký toàn thư (năm 1259) chú thích rằng quốc mẫu là xưng hô khác của hậu (hoàng hậu) nhưng trường hợp Thiện Đạo quốc mẫu (vợ Trần Liễu), Nguyên Từ quốc mẫu (vợ Trần Hưng Đạo), và Bảo Huệ quốc mẫu (vợ Quốc Tảng) thì không thể là hoàng hậu Ba người được gọi là quốc mẫu có thể
là vi mẹ của hoàng hậu, nhưng cũng có thể là vì phụ nữ thuộc thế hệ trên và có uy tín bậc nhất trong dòng họ
Các bà hoàng thái hậu và quốc mẫu đóng vai trò quan trọng trong hoàng tộc thông
qua những việc đính hôn, điều hỏa quan hệ anh em v.v như Linh Từ quốc mẫu (và Trần Thủ Độ) làm Thái Tông ly dị hoàng hậu Chiêu Thánh chưa có con và lấy vợ anh
Liễu là Thuận Thiên đang œó thai làm hoàng hậu của mình, rồi anh em Liễu và Thái
Tông đánh nhau thì Linh Từ đã điều đình Không những thế, các bà ấy dám đón vai tro
chính trị và quân sự Linh Từ quốc mẫu đã bảo vệ vợ con hoàng tộc và gửi vũ khi cho tiến tuyến trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất Theo lời di chúc của chồng, Hiến Từ hoàng thái hậu (vợ cả của thượng hoàng Minh Tông) không xuất gia
mà ở lại cung Thánh Từ khi chồng mất, tức là bà đóng vai trò như thượng hoảng Thực ra, khi Dụ Tông mất, chính bà Tuyên Từ chọn Dương Nhật Lệ để kế vị Trường hợp mẹ đẻ
của Minh Tông là Chiêu Từ thi bà đã làm luật “phép xắn chân bãi cát bồi” (bị xoá bỏ vào năm 1371- Đại Việt sử ký toàn thư) dù bà chỉ là “hoàng thái phi” và mới được truy tang danh hiệu thái hậu sau khi mất vào năm 1359 Chuyện mẹ Dương Nhật Lệ trốn đi Champa khi con minh bị giết và đã du được vua Champa là Chế Bồng Nga đánh Thăng
Long cũng tượng trưng cho sức mạnh lớn của mẹ hoàng thái hậu
Về vợ của hoàng đế, không hoàng đế nào lập nhiều hoàng hậu củng một lúc như thế kỷ X- XI Chế độ một chồng - một vợ cả - nhiều vợ lẽ đã được xác lập Nhưng không biết được giữa vợ lẽ cũng có người thuộc hoàng tộc Trần hay không Các hoàng đế từ Thái Tông đến Nhân Tông đều lập được hoảng hÑŸ khi minh lên ngôi hoặc vài năm sau
đó, nhưng Anh Tông lập hoàng hậu khi 34 tuổi sau khi thượng hoàng Nhân Tông mất, Minh Tông lập hoàng hậu khi 24 tuổi sau khi thượng hoảng Anh Tông mất Trưởng hợp Hiến Tông thì không lập được hoàng hậu trước khi ông mất ở lứa tuổi 23 Điều đó có thể giải thích rằng: thượng hoàng Thánh Tông và Nhân Tông hoàng đế hay được gọi là “nhi
đế” (hai vị vua) theo quan niệm bố con đồng cai trị, nhưng các thương hoảng Nhân Tông
- Anh Tông - Minh Tông có vẻ “quân chủ thực su’ va dia vị của hoàng đế được coi nhẹ
cho nên các hoàng đế không dám lập hoàng hậu, œ lễ vi họ cỏn thơ ấu khi mới lên ngôi
Mặt khác, hầu hết các hoàng đế từ Minh Tông trở về sau có mẹ đẻ không phải là vợ cả
của cha Nhưng các bà mẹ đẻ không được phong làm hoàng hậu khi các hoàng đế đó
162
Trang 8sinh ra hoặc được phong làm hoàng thái tử, tức là hoàng hậu không phải được định nghĩa là mẹ đẻ của hoàng đế sau
Các hoàng đế thường trẻ tuổi (khi nhiều tuổi thì trở thành thượng hoàng) cho nên vai trỏ chính trị của các hoàng hậu và các vợ lẽ của hoàng đế ít được ghi chép trong sử sch",
Các con gái của vua Lý thường lấy chồng là thủ lĩnh dia phương, cho nên đón được vai trò trực tiếp và quan trọng trong việc chính quyền trung ương khống chế các địa
phương (Momoki, 2000) Trường hoàng tộc thời Trần đã thực hiện hôn nhân cùng họ,
các con gái không cỏn khả năng như thế, mặc dù họ cũng tham gia cai trị địa phương một cách gián tiếp khi quản lý thái ấp - điền trang của mình hoặc chồng mình Chỉ có các
con gái thứ trong hoàng tộc mới có thể lấy chồng ngoài hoàng tộc, như Huệ Chân công chúa (con thứ của Anh Tông) đã lấy chồng họ Vương (Đại Việt sử ký toàn thư, 1330) và Nguyệt Sơn công chúa của Minh Tông đã lấy Ngô Lai là trại chủ Đại Lại (Đại Việt sử ký
toàn thư, 1363)
Sự khác nhau giữa các danh hiệu công chúa, trưởng công chúa (chị em của hoàng
đế hay là công chúa hàng đầu?), và đế cơ (con gái thật của hoàng đế???)'' không rõ
Dù sao, những người trong hoàng tộc nhưng không phải là con gái của hoàng đế hoặc thượng hoàng cũng œó thể là công chúa (như các con gái của vợ chồng Phụng Dirơng
công chúa - Trần Quang Khải) như các con trai không phải là con trai của hoàng đế cũng có thể làm vương và đại vương
Những người đàn bà trong hoàng tộc cũng œ quyền sở hữu (chẳng hạn sở hữu điền trang) Họ có quyền kế thừa tài sản vì Phụng Dương công chúa “không muốn nhận” tài sản mà bố mẹ để lại (Phụng Dương công chúa thần đạo bi) và Thiên Chân trường
công chúa là hoàng trường cơ của Thánh Tông đã kế thừa quyền cai quản hương Bạch Hạc của Thiên Ninh trường công chúa là hoàng cơ của Anh Tông sau khi Thiên Ninh mất
(Bạch Hạc thông thánh quán chuông ký) Vì hai trường công chúa này đều lấy chồng!2
nên chắc rằng tài sản của những người phụ nữ trong hoàng tộc không được gộp vào tài
sản của chồng khi họ lấy chồng, mặc dù không có tài liệu nói về phủ đề riêng của phụ
nữ lấy chồng như một số trường hợp thời Lý (Momoki, 2000:262) Đồng thời chúng ta cần
chú ý đến quan hệ họ hàng giữa Thiên Ninh và Thiên Chân Mẹ Thiên Chân œ lẽ là con
gái của Bảo Huệ (có lẽ con gái của Thánh Tông và có quan hệ chị em với Thiên Thuy) Xét theo mẫu hệ thì có lẽ Thiên Chân đã kế thừa tài sản của bác mẹ Điều đó khiến chúng ta nghỉ ngờ về sự xác lập của chế độ kế thừa tài sản trực hệ (bố mẹ - con cháu),
vì tinh hình như thế phổ biến ở Nhật Bản đến thời Heian (thế kỷ IX-XIII)
Trang 9Có lẽ trên cơ sở tài sản riêng, những người phụ nữ trong hoàng tộc hoạt động rất
tích cực trong lĩnh vực Phật giáo như cúng ruộng, cúng tiền cho nhà chùa, tổ chức các nghỉ lễ” v.v Cön Thiên Ninh công chúa đã tự minh kêu gọi đánh Dương Nhật Lệ khi
hai anh em trai là Nghệ Tông và Duệ Tông ngại chưa dám nổi dậy, và thực ra bà tự mình dẫn quân tham gia chiến dịch đánh Nhật Lệ
Đời Trần vẫn còn thói quen con nuôi phổ biến Cũng thỉnh thoảng xuất hiện tài liệu
về vú nuôi“ Có lẽ trong hoàn cảnh đó mà phụ nữ trong hoàng tộc hay nuôi con như Thuỷ Bà công chúa (chị của Thái Tông) đã nhân Trần Quốc Tuấn làm con nuôi, và Thuy Bảo công chúa (cô của Nhân Tông) và tiếp đó là Trần Nhật Duật đã nuôi hoàng tử Mạnh (Minh Tông)
Xét theo tư tưởng Nho giáo thi không thể hiểu được thói quen hôn nhân củng họ
đã trái với lễ như những lời phê binh của Ngô Sï Liên Việc những người phụ nữ trong
hoàng tộc hay tái hôn lại loạn luân hơn Nhưng, Linh Từ quốc mẫu dâm lấy Trần Thủ Độ sau khi chống cũ là Lý Huệ Tông mất Sau khi Thái Tông ly dị Chiêu Thánh thi bà đã lấy
Lê Phụ Trần Thuy Bảo công chúa (con gái của Thái Tông) đầu tiên lấy Uy Van Vuong
và sau đó lấy Trần Binh Trọng Huy Ninh công chúa (em gái của Nghệ Tông) lấy Trần Nhân Vinh, rồi lấy Hồ Quý Ly khi Nhân Vinh mất' Có lẽ việc tái hôn không bị giới hạn trong phạm vi hoảng tộc'° Tất nhiên có nhiều phụ nữ trong hoàng tộc hay là vợ lẽ của vua chúa quý tộc, hoặc vi goá chồng hoặc vi không sinh được con trai, xuất gia dưới ảnh hưởng của Phật giáo thịnh hành
Chuyện “tư thông" tức quan hệ tinh dục ngoài hôn nhân, rất phổ biến trong thế kỷ X-XII, vẫn hay xuất hiện trong tủ sách Chính Trấn Quốc Tuấn đã cướp Thiên Thanh trưởng công chúa khi công chúa sắp lấy Trung Thánh vương Trần Khánh Dư, con nuôi
vua, đã tư thông với vợ của Hưng Vũ vương là Thiên Thuy công chúa (Đại Việt sử ký
toàn thư, 1282) Trần Khắc Chung cũng tư thông với Huyền Trân công chúa sau khi cứu được công chúa ở Champa Sau khi Phế đế bị giếỂ hoang hậu (Thái Dương công chúa)
tự minh chay về Trần Nguyên Uyên Thượng hoảng Nghệ Tông giân, đem bà gả cho Thai bảo Hãng để làm nhục (Đại Việt sử ký toản thư, 1393) Hai con gái của Trấn
Nguyên Đán đều thông dâm với gia sư (phụ nữ cũng được học gia sư!) trong đó con gái
cả sinh ra Nguyễn Trãi Thậm chí có chuyện thông dâm giữa chị ruột là Thiên Ninh công
chúa và em trai ruột là Dụ Tông khi Dụ Tông cần “thí nghiệm” hiệu quả điều trị liệt dương
(Đại Việt sử ký toàn thư, 1351)
Trong các chuyên này, chỉ có đàn ông œ quyền “tự do tỉnh dục” hay sao? Cách
hiểu như thế có lẽ chịu ảnh hưởng của khuôn khổ Nho giáo sau thế ky XV của Đại Việt
164
Trang 10sử ký toàn thư Phải chăng mô hình trước thời Lý rất giống giai đoạn cổ đại Nhật Bản,
vẫn cỏn sống, trong đó cả nam lẫn nữ có quyền lập quan hệ tỉnh dục với nhiều người và
quan hệ hôn nhân là quan hệ không suốt đời, chỉ được duy trì trong thời gian “sở thích tình dục” của cả hai vợ chồng nhất trí với nhau (Momoki, 2000)?
4 Quá trình hình thành dòng họ Việt Nam trong khu vực
Trong thời Trần, khác với các triều đại trước, hoàng tộc họ Trần đã là một tập đoàn
dòng họ bao gồm nhiều ngành phụ Tập đoàn đó đã tập trung được quyền lực và hôn
nhân trong nội bộ mình Xét về hôn nhân cùng họ, dong ho này chưa phải là dòng họ phụ hệ Nhưng về ngai vàng và chế độ một chồng - nhiều vợ lẽ thì dòng họ này đã là
dòng họ phụ hệ
Về phương pháp kế vị, tình trạng “bố - con hoặc mẹ - con đồng cai trị nhưng không quyết định trước cho ai kế vị" của các triều đại trước cũng thay đổi Chế độ bố - con đồng cai trị theo hình thức thượng hoàng - hoàng đế đã bảo đảm được sự kế vị của con trai đích theo huyết thống phụ hệ, dù có trường hợp xuất hiện quan niệm cho rằng chỉ có thượng hoàng (và hoàng thái hậu) là người nắm chủ quyền
Những người phụ nữ trong triều đình và hoàng tộc có quyền sở hữu, quyền kế thừa tài sản và quyền nhất định về tự do tình dục Hoạt động của họ về quân sự, lập pháp, tôn giáo v.v không chỉ nằm trong giới hạn của chế độ giả trưởng chỉ chấp nhận một chút quyền hạn của “vợ góa gia trưởng” hoặc “mẹ trưởng nam" Nhưng họ cũng góp phần đắc
lực cho thượng hoàng, các đàn ông hoàng tộc, và cả hoàng tộc
Tóm lại, nhà Trần bằng mọi biện pháp và sức mạnh, đã thực hiện phụ hệ hoá ngai
vàng và tạo ra tập đoàn dòng họ phụ hệ trong hoàn cảnh chưa xác lập chế độ kế thừa
tài sản theo trực hệ Xét về các biện pháp cực đoan như hôn nhân củng họ, có thể coi đây là một cuộc “cách mạng từ trên” Ï
Quá trình như thế có thể so sánh với nhà Thiên hoàng và các “đoàn võ sĩ” trong sơ
kỳ trung đại (thế kỷ XI-XIV) ở Nhật Bản, tức là giai đoạn hình thành “ie” kiểu Nhật Ban” Trong nhà Thiên hoàng, sau thời kỳ nhiếp chính Fujiwara Yorimichi cuối thế kỷ XI thì hôn nhân đồng tộc được thi hành (Nomura, 1996)'° Kết hợp với Insei (chế độ thượng hoàng)
va vai trò của hoàng hậu, hoàng thái hậu và các bà œó uy quyền trong dỏng họ Thiên hoàng (họ đã tích luỹ biết bao shoen tức điền trang), hôn nhân đồng tộc đã loại trừ được ảnh hưởng của họ Fujiwara (đã từng có độc quyền trở thành ngoại thích trong vòng hai thế kỷ) khỏi le Thiên hoàng và tính phụ hệ của fe Thiên hoàng được xác lập
Trường hợp các đoàn võ sĩ (gần như dòng họ) đang nổi lên thì phát triển chế độ