Đáp ứng nhu cầu chính đáng của nhân dân về một nền giáo dục đại học cho _ số đông, mở đường phát triển cho các thành viên trong xã hội, tạo nên sự bình đẳng xã hội về giáo dục, thực hiện
Trang 1
"CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC : MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC”
ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH GIÁO DỤC ĐỂ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CUA SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ VÀ HIỆN ĐẠI HOÁ
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện
đại với những bước tiến khổng lô “một ngày bằng:
hai mươi năm" đang tác động toàn diện đến mọi
nền kinh tế, mọi chế độ xã hội trên phạm vi toàn
cầu Cuộc đua tranh giữa các quốc gia trên mặt
trận kinh tế đang diễn ra rất quyết liệt Một xã hội
thông tin, một nền kinh tế tri thức đã bắt đầu hình
thành Một nhu cầu có thực và chính đáng ngày
càng trở nên bức xúc của người dân về một nền
giáo dục đại học cho đa số đang được đặt ra Không
có con đường nào khác, dân tộc ta dứt khoát phãi1 đi
lên, phải sớm thoát khỏi cảnh nghèo nàn và lạc
hậu bằng giáo dục và khoa học Mục tiêu của nền
giáo dục đại học nước ta phải là: |
97
GS Vién si Nguyén Van Dao
DAI HOC QUOC GIA HA NOI
GS.VIEN SI NGUYEN VAN BAO
1 Đáp ứng nguồn nhân lực có trí tuệ cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, đảm bảo cho dân tộc ta tiến kịp trình độ phát triển ngày càng hiện đại của thế giới, tiếp thu kịp thời những thành tựu của cuộc cách | mạng khoa học và công nghệ hiện đại
2 Đáng tạo ra những tr1 thức khoa học mới thông qua công tác nghiên cứu
3 Đáp ứng nhu cầu chính đáng của nhân dân về một nền giáo dục đại học cho _ số đông, mở đường phát triển cho các thành viên trong xã hội, tạo nên sự bình đẳng xã hội về giáo dục, thực hiện chủ trương “tri thức hóa công nông, _ trí thức hóa dân tộc, trí thức hóa Đảng và Nhà nước (Tổng bí thư Lê Khả
Phiêu)"
Để đạt được mục tiêu trên đây, điều đầu tiên cần có là sự thống nhất về quan điểm phát triển, về sự cần thiết phải có những cải cách có tính cách mạng trong
giáo dục đại học Bài viết này nêu ý kiến của tác giả về các vấn đề sau đây:
I Thực trạng giáo dục hiện nay - Còn rất nhiều vấn đề bức xúc, nhức nhối đối với toàn xã hội
II Phát triển giáo dục đại học theo hướng nào? Cần có những cơ chế
dậy mọi tiềm năng và sáng tạo của quần chúng cho phát triển giáo dục
III Một sế kiến nghị
để khơi
Trang 2
| THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HIỆN NAY - CÒN RẤT NHIỀU VẤN ĐỀ BỨC XÚC
NHỨC NHỐI ĐỔI VỚI TOÀN XÃ HỘI
1 Những thành tựu chính đã đạt được trong thời kỳ đổi mới (dac | biét la
1990 - 1997) 1.1 Trải qua một thời kỳ lúng túng, khủng hoảng, khi chuyển từ cơ chế-bao cấp hoàn toàn sang cơ chế thị trường, giáo dục nước ta đã có những đổi mới nhằm phù
hợp với qui luật của nền kinh tế thị trường Hiện nay, chất lượng đào tạo đang được
quan tâm, thiết bị, trường lớp được tăng cường một bước; người dân chăm lo nhiều
hơn đến việc học tập của con em mình
1.2 Thực hiện được một bước xã hội hóa giáo dục, dân chủ hóa nhà trưởng; đa dạng hóa các loại hình đào tạo: tập trung, tại chức, giáo dục từ xa; trường công, bán
công, dân lập tạo điều kiện cho nhiều người được học tập; kể cả học đại học
2 Còn nhiều yếu kém tổn tại |
2.1 Về động cơ học tập, mục tiêu dào tạo Động cơ học tập của học sinh, sinh vién
còn nhiều lệch lạc Bên cạnh động cơ chung của học sinh: học để biét, để làm VIỆC,
để có ích cho xã hội, một số lớn học sinh còn có động cơ học tập không đúng đắn
Bức tranh tổng thể của người đi học của ta như sau:
2.1.1 Học sinh phổ thông của ta hiện nay là người bị nhồi nhét quá nhiều kiến thức (do chế độ thi cử, nạn luyện thịi ), không phù hợp với tâm, sinh lý, sức khỏe
của học sinh Về lâu dài sẽ đnh hưởng xấu đến giống nòi Họ không còn thì giờ vui
chơi, giải trí, tham gia các hoạt động xã hội (mà đây cũng là một nội dung quan
trọng của giáo dục phổ thông) Họ lấy thi cử làm mục tiêu, uòo đại học là cái đích
phải tới Sự rèn luyện của học sinh thiếu toàn diện Khi không vào được đại học họ
trở nên thất vọng, chán chường Nhà trường chưa phát huy được tính tích cực, chủ
động của học sinh, cha chuẩn bị cho ho tinh thân săn sàng tham gia bào sản xuất
uò công tác Nhớ lại thời kháng chiến chống Pháp, kiến thức của học sinh qua 9
năm học ở phổ thông chỉ vừa phải, nhưng khả năng đáp ứng các nhu cầu của xã hội
rất lớn Tầng tầng, lớp lớp học sinh lao vào thực tiễn, tham gia chiến đấu, tham gia
sản xuất và công tác Họ đã có những đóng góp đáng kể cho đất nước và đã tự học,
tự vươn lên suốt cả cuộc đời
2.1.2 Không ít sinh uiên đại học của ta chưa xác định chính xác mục tiêu học tập: Họ chỉ học sao cho có mảnh bằng Họ không quan tâm đến việc rèn luyện
phương pháp học tập, phương pháp tư duy khoa học, phương pháp nghiên cứu khoa
học, thiếu tỉnh thần tự giác học tập, thiếu tìm tòi, sáng tạo và do vậy thiếu kha
năng tự học suốt đời Sinh viên của ta khá thụ động so với sinh viên các nước, ít
hoài bão khoa học: "Thi gì học nấy", chứ chưa phải học để biết, để làm Do điều kiện
cơ sở vật chất, trang thiết bị yếu kém, nên sinh viên của ta học nặng về lý thuyết,
nhẹ về thực hành Phần lớn sinh viên rất lúng túng khi bước vào đời, ít khả năng
Trang 3
"CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC : MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC” 99
thích nghi với hoàn cảnh xã hội Hàng chục ngàn sinh viên sau khi tốt nghiệp
không kiếm được việc làm ở thành thị và không chịu làm việc ở nông thôn - quê
hương của chính mình - cũng thể hiện chất lượng đào tạo về chuyên môn và về tư
tưởng, đạo đức còn thấp
Tóm lại, phần lớn các đối tượng đi học - người học - từ học sinh phổ thông, sinh viên đại học, đến nghiên cứu sinh còn có động cơ học tập, mục đích học tập sai lệch
Con người được đào tạo thiếu toàn diện
2.2 Về chất lượng giáo dục: So với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
và so với trình độ giáo dục của các nước trong khu vực và trên thế giới thì chất
lượng giáo dục của ta còn thấp Nguy cơ tụt hậu uề giáo dục của ta là đáng báo
2.2.1, Gido đục phổ thông
- Bộ phận chiếm tuyét dai da sé hoc sinh phổ thông của ta - đặc biệt là các trường ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa - đang ở trong tình trạng học tập với
chất lượng rốt thấp Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này cũng rõ: Trình độ thày
yếu, phương pháp giảng dạy lạc hậu theo kiểu độc thoại, thày đọc, trò ghi chép, cd
sở vật chất nghèo nàn, muc tiéu học tập bhông rõ, hiệu qua đâu tư (của Nhà nước
0ò nhân dân) thấp Kiến thức của học sinh phổ thông của ta nặng về lý thuyết, nhẹ
Bộ phận các trưởng chuyên g1ữ được mức độ tiên tiến và có thể so sánh được với các nước về một số môn khoa học cơ bản, song biến thức cũng không được toàn diện
như các nước uà cường độ học tập thì căng thẳng hơn học sinh của các nước nhiều
Điều này dẫn đến hệ quả là hoc sinh của ta khó có thể học tập bền bị, học lâu dài,
học tập suốt đời như các nước, ảnh hưởng xấu đến việc rèn luyện thể dục, đức dục, - |
- Việc học sinh ta đạt nhiều giải quốc tế chỉ nói lên một điều về khả năng học tập của học sinh, khả năng tập trung đào tạo, rèn luyện của các thày giáo của ta,
chứ không nói được trình độ học sinh phổ thông của ta là hơn các nước
Đội ngũ giáo viên phổ thông của ta trình độ chuyên môn và năng lực thấp, không được bổi dưỡng liên tục và có hiệu quả về chuyên môn Một số giáo viên kém
Nhu vậy nhìn chung chất lượng giáo dục phổ thông ở ta hiện nay thấp
Việc học thêm của học sinh vốn dĩ không phải là xấu, nếu với động cơ lành
mạnh Nạn học thêm tràn lan khắp các cấp học, học thêm suốt ngày, suốt tuần,
quanh năm, là hiện tượng rất không bình thường, thiếu lành mạnh trong xã hội ta,
ảnh hưởng xấu đến sự phát triển toàn diện của học sinh Có nhiều nguyên nhân
dẫn đến hiện tượng này Trong đó phải kể đến 3 nguyên nhân chính, đó là: hầu hết
học sinh phổ thông hướng vào đại học, nhu cầu có thêm thu nhập cho đủ sống của
Trang 4400 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI: KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
giáo viên và cách tổ chức thi cử của ta chưa tốt Hiện tượng học thêm, dạy thêm _
đang diễn ra một cách tiêu cực cần được chấm dứt sớm? Đây cũng là một quốc nạn
2.2.2 Chất lượng giáo dục đợi học của ta hiện nay thấp so với các nước trong khu vực Nguyên nhân:
- Phương thức đào tạo đại học còn nặng về truyền thụ kiến thức, nhẹ về rèn
- luyện phương pháp học tập, phương pháp tư duy khoa học Sinh viên thiếu hoài bão
khoa học
Chương trình đào tạo đại học của ta nặng về 9 thuyét, nhe vé thuc hanh, thuc
- Đội ngũ giảng dạy đại hoc cua ta gia nua (tuổi trung bình của các GS: gần 60;
PGS: 55) với những kiến thức khá cũ kỹ không theo kịp trình độ khoa học và công nghệ hiện đại, ít có điều kiện trao đổi quốc tế
- Phương tiện giảng dạy thực hành, thí nghiệm còn thiếu và lạc hậu, nhiều thiết bị của những năm 60 vẫn đang được sử dụng Thư viện, tài liệu, giáo trình, ©
thông tin phục vụ cho đào tạo rất kém Đời sống cần bộ chưa được đảm bảo Đời
sống sinh viên trong các trường đại học còn thiếu thốn Ký túc xá, điện, nước, đều chưa đủ
- Phần lớn học sinh chạy theo những yêu cầu trước mắt của xã š hội, chỉ theo học những ngành dễ kiếm việc làm và kiếm được nhiều tiền Các ngành khoa hoc co bản uà một số ngành kỹ thuật, mặc dù rất cần cho đốt nước nhưng rất ít người theo
e Các trường đại học dân lập đã đáp ting được phần nào nhu cầu học tập của
học sinh đối với một số ngành nghề ít đòi hỏi đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật và xã hội đang có yêu cầu Đây là chủ trương đúng, nên tiếp tục Song, việc kiểm tra đánh giá và quản lý chất lượng đào tạo của các trưởng này chưa được các cơ quan quản lý của Nhà nước quan tâm đúng mức |
e Chất lượng của các loại bằng hiện nay chưa được đảm bảo
e Công tác nghiên cứu khoa học trong trường đại học còn bị coi nhẹ Kinh phí cho nghiên cứu khoa học của các trường đại học rất ít |
e Chat lượng đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ Bên cạnh việc đào tạo nghiêm tiie thac si, tiến sĩ thuộc một số ngành khoa học, do tư tưởng chạy theo bằng cấp, địa vị và do nhiều nguyên nhân tiêu cực khác, trong các năm gần đây, đã có những bằng thạc
sĩ, tiến sĩ được cấp cho những người không đủ trình độ, gây sự bất bình trong giới
khoa học, làm mất uy tín của các cơ quan đào tạo và cá nhân người được nhận bằng Lẽ ra, tiến sĩ phải là người được đào tạo để nắm được phương pháp nghiên cứu, tư duy khoa học và có những kiến thức cơ sở cần thiết cho công cuộc nghiên cứu phát mình sơu này, trong suốt cả cuộc đời Song, phần lớn đối tượng nói trên chỉ dừng lại ở mảnh bằng nhận được Họ không có đủ năng lực uề chuyên môn,
Trang 5
“CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC : MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC” — 101
ngoại ngữ va hông nam được phương pháp nghiên cứu để thực sự tự lập, tự nghiên
cứu tiếp tục Việc tổ chức thi tuyển cao học, nghiên cứu sinh còn nhiêu bất hop ly,
không phát huy được các vai trò của các trung tâm đại học lớn và vai trò của các
nhà khoa học trong đào tạo nhân tài |
_ 2.2.3 Gido duc day nghé con yéu va chua cé 2 những biện pháp có hiệu quả để
tăng cường đào tạo nghề Ỏ các nước, phần lớn học sinh phổ thông được phân luồng
qua các tuyến dạy nghề phù hợp với trình độ và điều kiện học tập của học sinh Còn
ở ta, hầu hết học sinh hướng vào đại học, gây sức ép rất lớn đến việc thi vào đại học,
gây tốn kém và căng thẳng đối với học sinh và xã hội _
2.3 Việc kiểm tra, lánh giá chất lượng đào tạo chưa được thực hiện nghiêm túc ˆ Trong khi mở rộng qui mô đào tạo, đu dạng hóa các Toạit hình đào tạo, chúng ta chưa thực hiện được nghiêm mĩnh, chặt chẽ uiệc kiểm tra, đánh giá chất lượng đào
tạo, chất lượng thi củ, chất lượng các uăn bằng Đây là một khâu yếu cần sớm khắc
phục để đảm bảo giữ vững và nâng cao chất lượng đào tạo
2.4 Nguy cơ xét lại những thành tựu đổi mới giáo dục trong bơn chục năm qua đang lớn dần
Nhiều chủ trương đổi mới giáo dục của Đảng và Chính phủ trước đây là tích cực, đúng hướng và phù hợp với xu thế phát triển giáo dục trên thế giới, đáp ứng
được yêu cầu của kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, chưa được đánh giá
nghiêm túc, khách quan, khoa học, trong đó có việc xây dựng các đại học quốc gia,
đại học khu vực Có nguy cơ lớn trong việc xóa bỏ thiếu căn cứ những thành tựu đổi
mới đã đạt được, gây sự mất ổn định
Tóm lại: Giáo đục nước ta đang trong tình trạng yếu bém toàn điện, đang trong
thế tụt hậu xa so uới nhiều nước trong khu vue va trén thế giới Còn rất nhiều uấn đề
bức xúc, nổi cộm Cần khẩn thiết chỉ ra những nguyên nhân và có những biện pháp
kiên quyết để tạo nên sự phát triển lành mạnh của giáo dục trong thời gian tối đây.”
ll PHÁT TRIEN GIAO DUC DAI HOC THEO HƯỚNG NÀO ? CAN CO NHUNG CO
CHE DE KHOI DAY MOI TIEM NANG VA SANG TAO CUA QUAN CHUNG CHO PHAT TRIEN GIAO DUC
1 Một cuộc cách mạng mới về kinh tế và xã hội đã bắt đầu trên hành
tỉnh chúng ta với tri thức và thông tin là nguồn lực chủ chốt Những thành tựu đặc sắc của khoa học và công nghệ thế giới trong ba chục năm gần đây, đặc biệt là công nghệ thông tin đã thúc đẩy một cuộc cách mạng mới
về kinh tế và xã hội, đã hình thành một nền hinh tế tri thức va xa hor thong tin - lấy
tri thite va thong tin là nguồn lực chủ chốt Một nền kinh tế phát triển ngày càng
dựa vào khoa học và công nghệ Tri thức và Thông tim đã trở thành một thứ vốn
Trang 6
quí, rất quan trọng trong việc tạo nên gia tri gia tăng của các ngành sản xuất, kinh
doanh, tổ chức và quản lý Việc sản sinh ra tri thức sẽ trở thành hoạt động quan
trọng nhất của loài người
Tri thức là sản phẩm trí tuệ của con người Nó đã giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới, đưa con người đến trình độ văn mình rất cao Ngày nay tri thức lai
có thêm một chức năng cực kỳ quan trọng là dùng tri thức để tạo ra trì thức mới,
dẫn loài người đến một nền kinh tế tri thức với việc dùng trì thức để sử dụng có
hiệu quả những tri thức đã có và tìm kiếm thêm những trì thức mới Các sản phẩm '
của công nghệ thông tin như máy tính, các thiết bị truyền thông, các loại sản phẩm
phần mềm chứa đựng rất nhiều tri thức của loài người, giúp con người tạo ra
những tri thức mới, làm cho tri thức được sử dụng có hiệu quả trong sản xuất và đời
Nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin không chỉ là hiện thực đối với các nước giàu, các nước đã phát triển, mà còn là tương lai rất gần cho các nước đang phát
triển Vấn đề mấu chốt là cần phải nhìn ra và nắm bắt được tình hình này! Trong
_ một xã hội hậu công nghiệp, giá trị sản lượng nông nghiệp chỉ chiếm một tỷ lệ rất
thấp (khoảng 5%) Cac nganh ché tao 20 - 30%, con ty trong cua cac sản nghiệp thứ
ba (tài chính, ngân hàng, giao thông, viễn thông, du lịch, dịch vụ) càng ngày càng cao (60 - 70%)
Hội nhập với thế giới trong xu thế toàn cầu hóa, mà hai lĩnh vực quan trọng nhất là toàn cầu hóa các hoạt động thương mại (hàng hóa, dịch vụ và toàn cầu hóa
"hoạt động tài chính), là điều tất yếu sẽ xảy ra nay mai Do công nghệ thay đổi
nhanh và cạnh tranh quốc tế quyết liệt nên các cơ sở sản xuất đều bắt buộc phải
Không ngừng: cải tiến sản phẩm, cải tiến tổ chức và quản lý sản xuất, kinh doanh
"Trong điều kiện đó, nước ta muốn theo kịp trình độ của các nước thì biện pháp quan trọng nhất phải là nâng cao năng lực của người lao động, có nghĩa là họ phải được hưởng nền giáo dục tốt hơn và việc cải cách giáo dục là việc đương nhiên phải làm một cách rất khẩn trương
2 Xu thế phát triển đại học trên thế giới Sự tất yếu phải chuyển từ nền giáo dục đại học cho số ít sang nền giáo dục đại học cho số đông, tiến đến phổ cập đại học
Vài chục năm trổ về trước, người ta xem các trường đại học là nơi đào tạo nhân lực trình độ cao, chỉ dành cho một số ít những người tài giỏi Tại đây, người ta có những biện pháp (đặc biệt là thì cử), để giữ vững trình độ cho có hệ thống của quốc gia và chất lượng đào tạo đồng đều như nhau trong phạm vì toàn quốc
Trong những năm gần đây, nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho nền kính tế và thỏa mãn nhu cầu nâng cao dân trí, xu thế thế giới về qui mô đào tạo đại học đã
Trang 7
“CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC : MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC” 403
thay đổi theo chiều hướng tăng nhanh qu1 mô đào tạo đại học, tạo cơ hội cho ngày
càng nhiều thanh niên được học đại học, được cung cấp các kiến thức đại học
Người ta phân loại qui mô giáo dục đại học của các nước theo số phần trăm sinh viên trong tổng số người dân ở lứa tuổi 18 - 22 Nếu số phần trăm đó dưới 15 (15%)
thì nền giáo dục đại học tương ứng được gọi là nền giáo dục đại học cho số ít Nếu số
phần trăm đó trong khoảng từ 15 - 50 thì nền giáo dục đại học tương ứng được gọi
là nền giáo dục đại học cho số đông Nếu số phần trăm lớn hơn 50 thì nền giáo dục
đại học được gọi là nền giáo dục đại học phổ cập
Với các nước có trình độ phát triển cao, tỷ lệ sinh viên được học đại học cao Các nước OECD ( tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển ) đã đạt tới tỷ lệ 51% My va
Canada đạt 82% Việt Nam có khoảng 10 triệu người ở lứa tuổi 18 - 22 với số sinh
viên khoảng 800.000, mới chỉ đạt tỷ lệ khoảng 8%, nghĩa là nền đại học của ta là
đại học cho số ft Số sinh uiên đạt học củu ta trên 100 ngàn đân thuộc loại thấp nhất
trong số các nước Châu Á- Thát Bình Dương (xem bang 1 )
Bảng 1 SỐ SINH VIÊN ĐẠI HỌC TRÊN 10 VAN DAN TAI! 29 NƯỚC VÀ VÙNG
LÃNH THỔ THUOC CHAU A- THAI BINH DUONG
Kazakstan = 1733 4680 Ubekistan | | 1629 860
Trang 8
Nước và vùng lãnh thổ | Số sinh viên trên 100.000 dân GNP (USD)
Nguồn số liệu: báo cáo UNESCO các năm 1993, 4995
Theo luật số đông, muốn có nhân tài phải đào tạo nhiều người, và trong SỐ hàng trăm, hàng ngàn người thuộc cùng một lĩnh vực, chỉ có một vài người trỏ
thành những tài năng xuất sắc
* Để đạt được tỷ lệ sinh viên đại học cao, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp phát
triển kinh tế - xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của thanh niên và nhân
dân ta về việc được cung cấp những kiến thức ở trình độ đại học, thực hiện chủ
trương trí thức hóa công nông, trí thức hóa dân tộc, trí thức hóa Đảng và Nhà nước
(TBT Lê Khả Phiêu), không có cách nào khác là chúng ta phối tăng qui mô đào tao
đại học Chủ trương đổi mới giáo dục của Đảng và Nhà nước ta đã vạch ra trước
đây: Mở rộng qui mô, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, huy động các nguồn lực
ngoài ngân sách để phát triển giáo dục là hoàn toàn đúng Trong những nắm tới
đây chúng ta cần mở rộng hơn nữa khu vực tư nhân trong đào tạo đại học Tăng qui
mô đương nhiên dẫn tới giảm chất lượng trung bình của đào tạo đại học
3 `Mối quan hệ giữa qui mô và chất lượng đào tạo đại học
Khi qui mô đào tạo đại học tăng, cần xóa bỏ quan niệm về sự đồng đều chất lượng trong cả nước, xóa bỏ quan niệm "như nhaư” về văn bằng giữa các trường đại
học, về quan niệm về một "văn bằng quốc gia" Trong một nước (ngay cả ở Mỹ cũng
Trang 9
vậy), các trường đại học có những chất lượng, đẳng cấp khác nhau và đi với nó là |
những bằng cấp của riêng từng trường một Người ta không nói là bằng đại học của
nước Mỹ mà là bằng của một trường đại học cụ thể, như của Ha-vót, của MIT
V.V VỚI tấm bằng tốt nghiệp đại học Ha-vơt, sinh viên có thể có ngay việc làm ở bất
cứ nơi nào Điều này không xảy ra với các trưởng đại học không có tiếng tăm gì,
chất lượng đào tạo thấp
Về phương điện quốc gia, Nha nước cần đặc biệt tập trung đầu tư cho một số trường đại học chất lượng cøo (trong đó các Đại học Quốc gia có vai trò, đặc biệt
quan trọng) và chấp nhận chất lượng đào tạo trung bình ở các trường đại học còn
lại Trong các trường “trung bình" này vẫn luôn luôn có những sinh viên xuất sắc -
Họ cần được tạo mọi điều kiện thuận lợi để chuyển sang học tiếp ở các trường đại
học chất lượng cao Việc mong muốn tất ca các trường đại học trong nước đều có
chất lượng cao chỉ là không tưởng Tuy vậy, yêu cầu đảm bảo chất lượng, thường
xuyên nâng cao chất lượng vẫn cần đặt ra cho tất cả các cơ sở đào tạo G day vai trò
quan ly của Nhà nước (thông qua Bộ Giáo dục và Đào tạo) là cực kỳ ‹ quan trọng
Những chuẩn mực tối thiểu cho một nhà trường cần được qui định rõ ràng: đội ngũ
thầy giáo, cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, chất lượng tối thiểu (chất lượng đạo
đức, tư tưởng, thể lực, chất lượng chuyên môn) vv Đố lượng tuyển sinh được qui
định theo khả năng của từng trường, chẳng hạn số ï sinh viên trên số thầy giáo Mức
độ đóng góp học phí không nên qui định đồng loạt cho moi trường, bởi chất lượng
mỗi trường khác nhau, chi phí cho đào tạo của mỗi trường khác nhau Các trường
phải đua nhau nâng cao chất lượng đào tạo vì đây sẽ là lẽ sống còn của mỗi trưởng
Việc thanh tra, kiểm tra giáo dục cần được thực hiện một cách nghiêm ngặt
Cũng tương tự như đội quân đánh giặc, các trường đại học, cơ sở đào tạo của ta gồm có những binh chủng, trong đó có quần chủ lực, chính qui (các trường đại học
chất lượng cao), song cũng có bộ đội địa phương, ` dân quân du kích, lực lượng dân
phòng Tất cả các bình chủng đó hợp đồng tác chiến để tấn công vào giặc đốt, vào
nghèo nàn, lạc hậu Việc xây dựng các lực lượng giáo dục này là nhiệm vụ của Nhà
nước và của toàn dân Ì
Việc sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm phù hợp cũng sẽ là việc bình thường Điều này trái với nền kinh tế kế hoạch trước đây, khi việc đào tạo được tiến
hành theo kế hoạch Sinh viên lúc vào học đã biết mình sẽ làm việc ở đâu
Ngày nay, tình trạng thất nghiệp là phổ biến ở tất cả các nước giàu cũng như _ nghèo, nước phát triển cũng như kém phát triển Song, như đã nói ở phần đầu,
trong nền kinh tế tri thức, trong xã hội thông tin, đội quân thất nghiệp có trình độ
đại học đó dù sao vẫn còn nhiều cơ may tìm kiếm được việc làm bằng cách chuyển
đổi ngành nghề, bằng cách học và tự học thêm
Ở đây, một lần nữa cần nhấn mạnh rằng nhu cầu được cung cấp những kiến:
thức ở trình độ đại học là một nhu cầu chính đáng của nhân dân và thanh niên ta
Trang 10
| Học để biết, để làm việc và để sáng tạo ra những tri thức mới Mỏ rộng qui mô
đào tạo đại học để ngày càng nhiều người có được những kiến thức đại học cũng là
sứ mệnh của nền giáo dục đại học nước ta Việc chỉ nhấn mmạnh một chiêu đến chất
lượng đào tạo uà uin uào đó để hợn chế qui mô đào tạo sẽ dẫn tới sự kém phát triển
` của giáo dục đại học uè sẽ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển hình tế, xã hội của
đất nước sau này
Giáo dục đại học nước ta đang còn ở mức thấp của giai đoạn đại học cho số ít
| cần phấn đấu để trong vòng 10 - 15 năm nữa chuyển được sang giai đoạn đại học
cho số đông và 25 - 30 năm nữa sang gia1 đoạn đại học phổ cập |
| Nói tóm lại, Chúng tạ cần tiếp tục tăng qui mô đào tạo đại học nhằm:
_e_ Đáp ứng nguồn nhân lực cho nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin, cho sự _ nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước,, đảm bảo để nước ta theo kịp trình độ phát triển của thế giới trong tương lai
| e« Đáp ứng nhu cầu chính đáng của nhân dân và thanh niên ta về việc được
| a cung cấp những kiến thức ở trình độ đại học, thực hiện chủ trương "trí thức
_— hóa công nông, trí thức hóa dân tộc, trí thức hóa Đảng và Nhà nước (TBT Lê Khả Phiêu)"
Tăng qui mô đào tạo đương nhiên dẫn đến việc chất lượng trung bình bị hạ thấp Do vậy cần chấp nhận sự phân tầng về chất lượng đào tạo đại học trong nước
(ở Mỹ phân ra 7 loại chất lượng khác nhau) Cần xóa bỏ quan niệm về "bằng cấp
quốc gia” Bằng tốt nghiệp do từng trường cấp và chất lượng đào tạo gắn với từng
trường cụ thể
Chấp nhận tình trạng nhiều sinh viên tốt nghiệp chưa kiếm ngay được việc làm | thích hợp Song tăng qui mô đào tạo đại học cũng là tăng khả năng lựa chọn người
tài cho sản xuất và xã hội, tăng tiềm lực trí tuệ của dân tộc, ấy là chưa kể đến yêu
cầu cao về chất lượng của người lao động, chẳng hạn giáo viên tiểu học phải tốt
nghiệp đại học, chất lượng công nhân, viên chức thì số sinh viên tốt nghiệp đại học
của ta còn quá ít so với yêu cầu
Tăng qui mô đào tạo đại học là xu thế tất yếu của các nước trong quá trình
4 Giai bai toan kinh tế cho sự phát triển giáo dục đại học Sự tồn tại của'
_—_ một thị trường giáo dục
⁄ Tiềm lực cho phát triển giáo dục đại học của ta là rất lớn, đặc biệt là đo truyền
thống hiếu học của dân ta, do ý thức xem việc học hành như một sự đầu tư quan
trọng bậc nhất cho tương lai của con em mình Do vậy, một mặt Nhà nước cần tiếp
tục có những chính sách ưu đãi đối với những người có khó khăn đặc biệt uề kính tế
(trong đó đặc biệt quan tâm đến đối tượng thuộc diện chính sách ưu đãi), mặt khác
cần phải thực hiện chính sách thu đủ, chi đủ cho giáo dục Thật vô lý, khi những