Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ cấu vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực... Vì vậy, đ
Trang 1VU QUAN HE QUOC TE, BO GD &DT
1 THỰC TRẠNG KINH TẾ-XÃ HỘI, NGUON NHAN
LỰC VÀ TINH HÌNH ĐÀO TẠO CÁN BỘ KHKT |
1.1 Thực trạng kinh tế - xã hội
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI
năm 1986 là một điểm mốc của quá trình cải cách,
đưa nền kinh tế nước ta từ kế hoạch hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa Sau hơn một thập ký, với những thay
đổi to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, Việt
Nam đang từng bước hướng ra môi trường kinh tế ÑN —_
toàn cầu Tuy nhiên, đất nước ta vẫn đang phải đối Gs, TSkH TRẦN V ĂN NHUNG
mặt với những thách thức làm chậm dần sự phát
triển kinh tế - xã hội Việt Nam đang cùng nhân loại tiến vào thế kỷ 21, thế ký của
xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế với nhiều nhân tố thúc đẩy như: sự phát triển
của lực lượng sản xuất đã vượt ra khỏi phạm vi của một nước và trở thành nhân tố
quốc tế; sự phát triển của nền kinh tế thị trường; sự hình thành khu vực mậu dịch
tự do; sự lớn mạnh của các công ty đa quốc gia; sự nhảy vọt của công nghệ thông
tin, Chúng ta đang đứng trước nhu cầu hội nhập quốc tế và thực tế đã có những
bước đi ban đầu để hội nhập, đó là việc trở thành thành viên của ASEAN (tháng
7/1995), thành viên của APEC (tháng 10/1998), sắp tới sẽ gia nhập AF'TA và WTO
Điều đó đòi hỏi chúng ta phải có tiềm lực khoa học kỹ thuật cùng với một năng lực
nội sinh vững chắc, đủ mạnh để tham gia hội nhập nhưng không phụ thuộc vào
Viét Nam tham gia hội nhập quốc tế với mức tăng trưởng kinh tế cao và tương
đối ổn định trong nửa đầu của thập ky 90 Tuy nhiên, đến năm 1998, bởi nhiều lý
do khác nhau, tỷ lệ tăng trưởng trổ lại mức như năm 1991 (Biểu đồ 1) Điều này thể
hiện yếu tố chưa bền vững trong phát triển
Trang 2
Mức thu nhập bình quân đầu người cũng vẫn còn thấp, năm 1999 đạt - 375USD/người (Biểu đồ 2) Việt Nam vẫn là một nước nghèo, hiện còn 1715 xã đặc
biệt khó khăn, 36% trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng, sự cách biệt giữa người
giàu và người nghèo ngày càng lớn, tài nguyên và chất lượng môi trường đang giảm
_ Đòng đầu tư tăng nhanh trong thời kỳ 1991-1996, sau đó tụt xuống đến 70% do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực Đông Á Trung bình, FDI chiếm 30% tổng đầu tư và nếu tính cả ODA thì nguồn vốn từ bên ngoài chiếm khoảng 50% tổng vốn đầu tư (Biểu đồ 3)
Trang 3Theo số liệu thống kê, hiện nay, 80% dân số và 90% người nghèo sống ở nông thôn Ty lệ biết chữ đạt tới 94% và còn tiếp tục tăng; tuổi thọ trung bình tăng, đạt
66,4 tuổi (1998) Trong 8 năm (tính đến 1998), chỉ số phát triển con người (HDI, bao
gồm 3 chỉ số tuổi thọ, giáo dục và thu nhập) của Việt Nam theo đánh giá của UNDP
(Biểu đồ 4) tăng thêm xấp xỉ 10%, trong khi đó, vị trí xếp hạng về kinh tế của Việt
Nam trên thế giới hầu như không thay đổi
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần tha VIII cua Dang đã xác định mục tiêu đến năm 2000 và 2020 là "tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Xây dựng
nước ta thành một nước công nghiệp có cơ cấu vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu
kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực
Trang 4146 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI: KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
lượng sản xuất, đời sống vật chất và tình thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, :
dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Từ nay đến năm 2020, ra sức
phấn đấu đưa nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp, đưa GDP tăng 8-10 lần
so với hăm 1990, công nghiệp và dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP và trong lao động và xã hột" Trong đó:
- Phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam có nền công nghiệp hiện đại làm nền
tảng với các ngành linh tế ngang tầm các nước phát triển Sản phẩm công nghiệp Việt Nam có khả năng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và
có sức cạnh tranh với các nước trong khu vực và trên thế giới
Giữ vững tốc độ tăng trưởng cao và liên tục trong khoảng 1ð - 20 năm tới, đảm bảo nhu cầu cơ bản về công nghiệp chế tạo phục vụ các ngành chế biến, thoả mãn nhu cầu của nhân dân, nhu cầu của các.ngành kinh tế quan trọng,
tạo nhiều giá trị gia tăng trong công nghiệp và xuất khẩu
Để đạt được mục tiêu nói trên, đòi hỏi phải có chiến lược và chính sách đào tạo cán bộ KHKT một cách hợp lý, phù hợp với tiềm lực của mình và tranh thủ sự hợp
tác của cộng đồng quốc tế Trong thời đại ngày nay, dự trữ về tài nguyên và nguồn
lao động rẻ không còn là lợi thế so sánh nữa Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải xây dung mục tiêu, chiến lược uùà chính sách để đào tạo một đội ngũ cán bộ KHKT hoàn thiện
uê cơ cấu, tỉnh thông uề khoa học, nghề nghiệp, thông hiểu Việt Nơm uà thế giới, tận
tâm uới công uiệc, không những làm chủ được KHKT mà còn đủ sức, đủ luận cứ để _hoạch định các chính sách, chiến lược uà quy hoạch phát triển binh tế“xã hội cho
đất nước Muốn có đội ngũ cán b6 KHKT va quan lý đủ tiểm năng như vậy, cần phải có chiến lược khoa học để đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực Đào tạo nguồn
nhân lực bao gồm đào tạo mới và đào tạo lại cán bộ KHKT với các loại hình và trình
độ khác nhau theo yêu cầu của quá trình CNH-HĐH, trước mắt cần tập trung vào đào tạo đội ngũ cán bộ KHKT đầu ngành để khắc phục sự hãng hụt lực lượng Cán
Chuyên gia hoạch định chiến lược và chính sách;
- Cần bộ quản lý, sản xuất, kinh doanh;
- - Lao động kỹ thuật cao
1.2 Thực trạng đội ngũ cán bộ KHKT Việt Nam Thế giới phân quá trình phát triển công nghệ ra thành 7 giai đoạn thì Việt Nam hiện đang ở vào giai đoạn 1, 2 và 3, đó là: -
Trang 5
“CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NUGC : MUC TIEU, NOI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC” 447
-_ Giai đoạn 1: Nhập công nghệ để thoả mãn nhu cầu tối thiếu;
-_ Giai đoạn 2: Tổ chức hạ tầng kinh tế ở mức tối thiếu để tiếp thu công nghệ nhập;
-_ Giai đoạn 3: Tạo nguồn công nghệ từ nước ngoài thông qua lắp ráp (SKD
Cần nói thêm rằng, năng lực công nghệ nội sinh của ta còn hạn chế Khả năng
_ tự chủ.trong việc ra quyết định phát triển và ứng dụng công nghệ còn yếu Thí dụ:
Một số dây chuyền, thiết bị công nghệ chế biến được nhập vào trong thời gian vừa
qua không phải là tiên tiến, thậm chí còn lạc hậu xa so với công nghệ thế giới
đương đại; việc thiết kế mới, đổi mới mẫu mã còn chậm chạp, thiếu năng động Một
số nguyên nhân của các hạn chế là:
a Số lượng cán bộ KHKT chưa đáp ứng được yêu cầu của CNH-HĐIHI
Hiện nay, Việt Nam có trên 1.000.000 cán bộ KHKT có trình độ đại học, cao đẳng và hơn 10.000 cán bộ có trình độ trên đại học (TSKH, TS, thạc sĩ) Trong đội
ngũ cán bộ KHKT nói trên có hơn 45.000 người làm việc trong khu vực nghiên cứu,
- khoảng 28.000 cán bộ giảng dạy trong 139 trường đại học và cao đẳng và 20.000 trí
thức Việt kiều !“, Trong đó, phần lớn đội ngũ này có trình độ hiểu biết cao, nắm bắt
được thông tin KHKT, có khả năng nghiên cứu phát triển nghề nghiệp, có kinh ©
nghiệm giảng dạy, nghiên cứu cơ ban (NCCB) va triển khai công nghệ Có nhiều
người đã đạt những học hàm, học vị cao, một số đã có những phát minh có giá tri
được nước ngoài đánh giá cao Trong những thành tựu của ngành GD& ĐT vừa qua,
phải kể đến sự gia tăng đáng kể về số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học, thạc sĩ,
tién si, Song do phat triển nhanh vé sé lượng nên chất lượng đào tạo con chưa
tương xứng và cơ cấu ngành nghề chưa cân đối
Tuy nhiên, ngay về mặt số ý lượng, đội ngũ những nhà KHKT hiện nay vẫn chưa
đáp ứng được yêu cầu phát triển nhân lực phục vụ CNH-HĐH, cho nên cần "phấn,
đấu đưu số lượng cán bộ nghiên cứu khoa học uù triển khai công nghệ lên gấp rưỡi
hiện nay ‘theo tinh than Nghị quyết TU II Theo tính toán, để có mức tăng 9-10%
GDP thì tốc độ đổi mới của công nghệ hàng nắm phải là 10-15% và mức tăng của
nguồn nhân lực KHET phải từ 4% -ð%/ năm Trong khi đó, số liệu thống kê những
năm qua cho thấy tốc độ tăng của đội ngũ trí thức có trình độ từ dai hoc trở lên của
Việt Ñam chỉ đạt khoảng 2%- 3%/ năm; tỷ lệ TSKH, T5 và thạc sĩ so với đại học và
cao đẳng chỉ đạt khoảng 1 „2%; mặc đầu trong các trường đại học và viện nghiên
cứu, tỷ lệ này có cao hơn (khoảng 10 ,4%), nhưng nếu so với nhiều nước trong khu
vực cũng như trên thế giới thì chỉ số này còn quá khiêm tốn (ở các nước phát triển
tỷ số này là 25- 30% ) Theo công bố gần đây của Bộ KHKT & MT thì hiện tại bình
14 Nguồn: Đài phát biểu của Tổng bí thư Lê Khả Phiêu tại buổi làm việc với Bộ Khoa học, Công nghệ và
Môi trường tháng 4/1999
Trang 6
148 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI: KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
quan 1 TSKH cé 10,6 TS va 61, ð cán bộ tốt nghiệp đại học Một tỷ lệ như vậy thì - chưa đủ để triển khai những ý tưởng KH&CN Hội nghị BCH TƯ lần thứ 2 (khoá
VIID khẳng định: "tỷ lệ cán bộ KH&CN trên số dân còn thấp so với các nước trong
khu vực" Nếu lấy mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 đạt trình độ KHKT như
Hàn Quốc hiện nay, thì chúng ta phải tăng số lượng các nhà KH&CN lên gấp 5 lần
hiện nay
Bảng 1: SO SÁNH NGUỒN NHÂN LỰC VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC
Đơn vị: Ngườitriệu dân
b Chất lượng cán bộ KHT còn thấp, cơ cấu còn bất hợp lý
Đã có nhiều tài liệu, số liệu phân tích về chất lượng đội ngũ cán bộ KHKT của
nước ta Hội nghị BCH TƯ lần thứ 2 (khoá VIIT đã khẳng định: "Chất lượng đội
ngũ cán bộ KH&CN nước ta còn chưa cao, chưa đáp ứng: được yêu cầu phát triển
trong thoi ky CNH-HDH đất nước, thua kém so với nhiều nước trong khu vực"
Điều này thể hiện trong việc xây dựng các khu chế xuất vừa qua; khi tuyển người,
chỉ khoảng 1/20-1/30 số người dự thi đạt yêu cầu; thêm vào đó, cơ cấu nguồn nhân
lực bất hợp lý, cụ thể là: Nặng về thực nghiệm thao tác (lao động kỹ thuật) mà nhẹ
về nghiên cứu triển khai (R&D) hoặc ngược lại Hội nghị BCH TƯ lần thứ 2 (khoá
VIID cũng khẳng định: "Cơ cấu và phân bố cán bộ KH&CN chưa cân đối, còn nhiều
bất hợp lý, thiếu nhiều cán bộ đầu ngành, chuyên gia giỏi, đặc biệt là các chuyên
gia về công nghệ" Trong nền kinh tế, ty lệ cán bộ được đào tạo về KH&CN trong
tổng số đội ngũ KHKT chỉ chiếm 15,4% Riêng trong khu vực nghiên cứu (viện,
trung tâm nghiên cứu), tỷ lệ này có cao hơn (33, 3%) Ở trình độ cao thì ty lệ này
cũng không sáng sủa hơn: TSKH 18,7%, TS 25.2% và thạc sĩ 11,3% Gần đây, số
lượng thạc sĩ mới được đào tạo có tăng lên, nhưng chất lượng thì còn hạn chế Số trí
thức có trình độ TSKH, TS và thạc sĩ so với số có trình độ đại học và cao đẳng thì
chỉ đạt khoảng 1,2% (ở nhiều nước phát triển, tỷ lệ này là 25 30%)
c Phân bố cán bộ KHKT chưa phù hợp với yêu cầu | ; -_ Đự phân bố cán bộ ở các cơ quan nghiên cứu KHKT trong các bộ, ngành còn
nhiều bất hợp lý Số liệu thống kê cho thấy: Bộ Nông nghiệp & PTNT chiếm
23,8% tổng số cán bộ KHKT của cả nước, với tỷ lệ TSKH 10,7%, TS 15,6% và
thạc sĩ 33,2%, Bộ Công nghiệp chiếm 17,3% với TSKH 9,6%, TS 9,6%, thạc sĩ _ 3,2%, Bộ Y tế chiếm 18% Còn cán bộ KHKT có trình độ cao thì tập trung
vào Trung tâm KHTN&CN QG, Trung tâm KHXH&NV QG va hai Dai hoc
Quốc gia Ví dụ: ở ĐHQG Hà Nội, trong tổng số 1893 cán bộ giảng dạy, có 83
GS, 269 PGS, 58 TSKH, 628 TS, 225 thac si; 6 Trung tam KHTN&CN Qc,
Trang 7
“CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC : MỤC TIÊU, NỘI DỤNG VÀ PHƯƠNG THỨC”
trong tổng số 1500 cán bộ có trình độ đại học và cao đẳng thì có tới 112 TSKH, 615 TS!” Ở các bộ, ngành khác, tỷ lệ này còn thấp hơn
149
- _ Sự phân bế lực lượng cán bộ KHKT theo vùng và lãnh thổ cũng mất cân đối
— nghiêm trong Hiện có 94,4% số cán bộ KHKT có trình độ đại học trở lên
nằm ở cấp TƯ, 5,4% ở cấp tỉnh, trong khi đó, các tỉnh lại chiếm 80% về diện tích và 70% về dân số !Š Còn ở vùng sâu vùng xa thì hầu như đội ngũ trí thức này rất ít Vì vậy, nhiều vấn đề lớn về KHKT của địa phương thường phải dựa vào lực lượng cán bộ KHẾT của các cơ quan Trung ương để nghiên
cứu đề xuất
Nếu nhìn vào lực lượng cán bộ giảng dạy ở các trường đại học và cao đẳng thì số
cán bộ giảng dạy có trình độ cao (Bảng 2) chủ yếu tập trung ở thành phố lớn (Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh), còn ở các thành phố khác xa Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh thì qua là ít ỏi Khi xem xét sự phân bế đội ngũ cán bộ giảng dạy có
học hàm, học vị ở một số vùng năm 1998-1999 thì thấy sự bất hợp lý càng rõ ràng
hơn, thí dụ khu vực sông Hồng chiếm khoảng 50% số cán bộ giảng dạy của đất
nước; vùng Đông Nam Bộ chiếm 20% ; vùng núi phía Bắc khoảng 4,6%; Tây
Nguyên khoảng 5,6%,
Bang 2: DOI NGU CÁN BỊ GIANG DAY CO HOC HAM, HOC VI TRONG
~ CAC TRUONG DAI HOC NAM HOC 1998 - 1999
nông, lâm chỉ là 11% Như vậy, số cán bộ giảng dạy có trình độ ở khu vực này thấp
hơn nhiều so với khối kỹ thuật công nghiệp (23%)
Trang 8
150 | ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI: KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC
Bảng 3: TỶ LỆ THEO NGÀNH NGHỀ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ GIẢNG DẠY
TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Nguồn: Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Khoa học - Bộ KHKT& MT
Nếu so sánh cơ cấu cán bộ KHKT theo trình độ chuyên môn giữa hoạt động nghiên cứu-triển khai và đào tạo thì cả 2 lĩnh vực hoạt động này gần tương tự như
nhau (Bảng 4) Tỷ lệ trí thức có trình độ trên đại học (thạc sĩ trở lên) của Việt Nam-
mới chỉ bằng một nửa tỷ lệ của các nước phát triển trên thế giới (25- 30%)
_ Bảng 4: CƠ CẤU CAN BO KHKT THEO TRINH ĐỘ CHUYÊN MÔN VÀ LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG
Nguồn: Bộ KHKT& MT và Bộ GD&ĐT
Theo dự báo phát triển kinh tế - xã hội thì sắp đến, Việt Nam sẽ có gần 60 khu
công nghiệp và chế biến được xây dựng và đưa vào hoạt động Hiện tại đã hình:
thành ba trung tâm như: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; Dung Quất - Đà Nẵng
- Chân Mây; thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai -Vũng Tàu và hai khu công nghệ
cao: Hòa Lạc và thành phế Hồ Chí Minh Để thực hiện kế hoạch đó, trong giai đoạn
Số lượng cán bộ các trình độ cộng lại không tròn 100% vì nhiều lí do khác nhau, thí dụ như còn có một số giáo sư, phó giáo sư được phong nhưng không có học vị khoa học,
Trang 9
"CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC : MỤC TIÊU, NỘI DŨNG VÀ PHƯƠNG THỨC” 151
đầu, chúng ta phai điều động một số lượng đáng kể cán bộ KHKT hiện có và cán bộ
mới được đào tạo Nguy cơ hãng hụt cán bộ KHKT là điều trông thấy!
d Thiếu cán bộ KHT đầu ngành Thực ra, trong tình hình hiện nay, khi mà quan niệm về cán bộ đầu ngành vẫn
chưa thống nhất, thì chưa thể có số liệu thống kê chính xác về đội ngũ cán bộ này
Theo Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Khoa học của Bộ KHKT & MT thì
con số này dao động trong khoảng từ 20.500 đến 11.000 (nguyên nhân sai lệch là do
cách đánh giá) Trong khi lực lượng cán bộ đầu đàn còn thiếu thì lực lượng hỗ trợ
và cộng tác với cán bộ đầu đàn còn ít Tỷ lệ TSKH/ TS / Đại học/ Kỹ thuật viên còn
bất hợp lý Cơ chế quản lý hiện nay đang làm hạn chế sức mạnh tổng hợp của đội
ngũ cán bộ KHKT trong cả nước Lực lượng này hiện tập trung trong các cơ sở đào
tạo và nghiên cứu khoa học và đang đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo
nguồn nhân lực KHKT và nghiên cứu khoa học phục vụ công cuộc CNH-HDH đất
nước Tuy nhiên:
Một phần lớn cán bộ KHKT đầu đàn của ta có độ tuổi cao, đã nghỉ hưu hoặc
chuẩn bị nghỉ hưu, sức khỏe, sức làm việc và sức sáng tạo giảm dần Về lý thuyết
thì khả năng sáng tạo của người làm công tác nghiên cứu và triển khai khoa học tốt
nhất ở độ tuổi 30-45, trong khi đó, tuổi đời bình quân của GS và PGS trong lĩnh vực
nghiên cứu triển khai của ta hiện nay tương ứng là 59,6 và 57,2 Riêng ở Bộ
_GD&ĐT, Bộ Y tế, Trung tâm KHXH & NV, tuổi bình quân của GS là 61,8 - 64,5;
Theo số liệu của Hội đồng Học hàm Nhà nước năm 1995, độ tuổi của PGS, GS
Trang 10Tại một số cơ quan KHKT như trường ĐHSP Hà Nội, Đại học KHXH&NV
(ĐHQG HM), Trung tâm KHXH&NV QG, Trung tâm KHTN&CN QG, tình hình
cũng tương tự, thí dụ:
Bảng 7: ĐỘ TUỔI CỦA GS, PGS TA TRUNG TAM KHTN & CNQG
cho CNH-HDH) va các viện nghiên cứu có trình độ cao chiếm tỷ lệ tương đối lớn,
trong đó, số đông trước đây được đào tạo ở nước ngoài, hoặc ở trong nước, có bề dày
kinh nghiệm hoạt động KHẾT Tiếc rằng, đến nay, hầu hết đã đến tuổi về hưu,
trình độ ngoại ngữ (Anh, Pháp) của một số cán bộ còn bị hạn chế; nguồn sách báo,
tài liệu KHKT trước đây được Liên Xô (cũ) và Đông Âu cho không, nay không có
ngoại tệ mạnh để nhập tiếp, nên việc cập nhật tri thức mới, hiện đại từ các nước có -
nền KH&CN tiên tiến bị hạn chế Bên cạnh đó, một số nhà khoa học có học vị cao
lại kiêm nhiệm công việc quản lý mang tính hành chính và sự vụ tại các cơ quan hoặc phải làm nhiều công việc không đúng chuyên môn của mình nên “hiệu quả
nghiên cứu khoa học thấp, đã gây lãng phí lớn trong việc sử dụng chất xám của
quốc gia Do chưa có cở chế phù hợp để phát hiện, bồi dưỡng người trẻ và giỏi, bổ
sung cho nguồn cán bộ khoa học đầu đàn và giao trọng trách cho ho trong NCKH,
nên đã làm giảm hiệu quả nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ vào sản
xuất và đời sống Trái lại, các đề tài nghiên cứu lớn thường giao cho các thủ trưởng
cơ quan, đơn vị chủ trì chứ không chọn người có khả nang nghiên cứu để giao, đã
gây lãng phí không nhỏ về tài chính cũng như nguồn lực chất xám của đất nước
Tình trạng hành chính hoá trong hoạt động NCEKH đã làm giảm uy tín của "cán bộ
đầu đàn", hạn chế hiệu quả đầu tư cho khoa học Thực tế, các cán bộ khoa học trình
_ độ cao, giỏi chủ yếu tập trung làm việc tại các cơ quan trung ương đã dẫn đến thiếu
người làm ở cấp này, trong khi đó tại các khu công nghiệp và địa phương lại thiếu
người nghiên cứu giải quyết những nhu cầu nẩy sinh do phát triển kinh tế, kỹ
thuật và đời sống
Trang 11
“CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC : MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG THỨC” 453 %
Nang luc ctia doi ngtt can b6 KHKT chua n  4ˆ SÁU CÀ 3
ONH-HĐH đất nước do hãng hụt về kiến thức, khả năng Họ Thun a ¬ công cuộc
tiếp xúc với đồng nghiệp nước ngoài đề trao đối, học tập kinh nghiệm, cập nhật hoá
thong tin nghé nghiép bi han ché (tham chi có đơn vị KHKT trong cả năm không có
điều kiện trao đổi nghiệp vụ với bên ngoài) ‘Kinh phí dành cho NCKH từ ngân sách
nhà nước cồn thấp Bình quân cho 1 cán bộ KHKT chưa téi 1.000USD/nam, trong
khi đó ở Thái Lan là 18.000 USD/năm, Nhật Bản 194 000 USD/năm Đầu tư cho
nghiên cứu khoa học còn dàn trải, nên mỗi đề tài nhận được quá ít: bình quân chưa
tới 5.000 USD/đề tài, cao nhất cho KHKT là 6000 USD/ đề tài, thấp nhất cho Y Dược
là 2.000 USD/đề tài
He thống giáo dục và đào tạo của Việt Nam, nhất là ở bậc đại học và giáo dục nghề nghiệp còn có những bất cập về quy mô, cơ cấu, chất lượng và hiệu quả Một
số ngành nghề rất cần cho sự phat triển đất nước lại có ít học sinh giỏi thi vào Việc
đào tạo trong nước gặp nhiều khó khăn do bước đầu của việc chuyển đổi sang kinh
tế thị trường, sinh viên và một số trường có quan điểm "học và dạy cái xã hội cần"
mà "col nhẹ cái mình cổ” Ngân sách Nhà nước dành cho GD&DT (Bảng 8) vẫn còn
hạn hẹp Ì Ẻ so với các nước trên thế giới và trong khu vực
Bảng 8: TỶ TRỌNG NGÂN SÁCH DÀNH CHO GD TRONG TỔNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
- Ngân sách GD trong tổng ngân 40 - 42,6 14 45 25
Nguồn: Vụ Văn Xã - Bộ Tài chính
Bên cạnh đó, ngân sách cho NCKH ở ở các trường đại học quá thấp (bình quân
900 USD/1 cán bộ giảng dạy) Cần phải giao thêm các dé tài nghiên cứu khoa học cơ
bản cho các trường đại học Hội nghị Ban chap hanh Trung ương lần thứ 9 khoá
VIH của Đảng nhận định: " Đội ngữ cán bộ khoa học có tâm huyết, có năng lực sáng
tạo, tiếp thu nhanh khoa học công nghệ mới nhưng chất lượng chưa cao, năng lực
thực hành còn yếu, thiếu nhiều chuyên gia giỏi" Theo đánh giá gần đây của cac cd
quan chức năng thì nắm 1996, Việt Nam có 1,2 triệu công chức thuộc khối quản lý
nhà nước và 1 triệu người thuộc khối hành chính sự nghiệp, với chất lượng: