1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nội dung chủ yếu các thời kỳ phát triển của nông nghiệp Việt Nam kể từ sau Cách mạng tháng 8-1945

19 7 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn cứ tình hình thực tế nông thôn miền Bac sau nam 1954, can cứ vào số ruộng chia cho nông dân trong cải cách ruộng đất, căn cứ tác hại nghiêm trọng của sai lầm cải cách ruộng đất và ch

Trang 1

NOI DUNG CHU YEU CAC THỦI KY PHAT TRIEN CUA NONG NGHIEP VIET NAM KE TU SAU CACH MANG

THANG 8 - 1945

ông nghiệp Việt Nam đã trải qua nhiều

Nos động, nhiều bước thăng tram trong su

phát triển của mình kể từ sau Cách mạng Tháng

Tám năm 1945 Bài viết này không nhầm đánh

giá toàn bộ sự phát triển của nông nghiệp từ đó

đến nay, mà chỉ giới hạn ở việc phân tích nội

dung chủ yếu nhất của ba thời kỳ phát triển lớn:

thoi ky 1945 - 1957; thoi ky 1958 - 1988 va thoi

kỳ từ 1988 - 2000 Do điều kiện lịch sử đặc biệt

là từ năm 1954 đến năm 1975 đất nước bị tạm

chia làm hai miền nên một số vấn đề trong sự

phát triển của nông nghiệp hai miền Bắc - Nam

có sự "lệch pha" vê thời gian, chúng tôi sẽ cố

gắng sao cho không làm mất đi tính lôgich của

I THỜI KÌ XÁC LẬP QUYỀN SỞ HỮU VỀ,

RUỘNG ĐẤT CỦA CÁC NÔNG HỘ (1945 -

1957)

Ở một nước nông nghiệp như nước ta, ruộng

_ đất và sở hữu ruộng đất là một trong những vấn

đề then chốt của nền kinh tế, là cơ sở của sự biến

đổi về cơ cấu kinh tế - xã hội ở nông thôn Trước

Cách mạng Tháng Tám, thực dân Pháp và giai

* PGS.TS Viện Sứ học Việt Nam

ĐINH THU CÚC ”

cấp địa chủ phong kiến chi phối hau như toàn bộ

nông thôn và nền kinh tế nông nghiệp Đẳng

Cộng sản Việt Nam luôn coi việc đem lại ruộng đất cho nông dân là một nhiệm vụ chiến lược của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Đường lối

và khẩu hiệu đấu tranh thì đề ra ngay từ ngày đầu thành lập, nhưng việc thực thị đường lối đó chỉ bất đầu từ sau khi Đảng giành được chính quyên

Trong hoàn cảnh chưa thể giải quyết triệt

để ngay vấn đề ruộng đất, tuỳ tình hình cụ thể ở từng thời điểm mà Chính phủ nước Việt Nam

Dân chủ Cộng hoà đưa ra những cải cách dân chủ từng phần nhằm từng bước hạn chế sự bóc lột của thực dân, phong kiến, cải thiện dần điều kiện sống của nông dân

Ngày 13 - 10 - 1945, Uỷ ban Nhân dân Bắc

bo ra Thong tu s6 55-VP, ngay 20-11-1945 Bo

Nội vụ của Chính phủ lâm thời ra Thông tư quy

định chủ ruộng phải giảm 25% địa tô và 20%

thuế điền thổ, đề ra một số nguyên tắc chia lại

ruộng đất công cho cả nam và nữ, tạm giao ruộng

Trang 2

Rghiên cứu Lịch sử số 3.2000

đất vắng chủ cho một bộ phận nông dân thiếu

ruộng

“Ngày 20 - l - 1948, Hội nghị Trung ương

Đăng mở rộng lần thứ hai đề ra một cách hệ

thống chính sách ruộng đất trong kháng chiến

(gôm l7 điều cụ thể tập trung chủ yếu vào vấn

đê giảm tô 25%, van dé chia lai công điền, tạm

cấp ruộng đất của địch cho nông dân, bỏ chế độ

quá điền, v.V )

Hội nghị cán bộ lân thứ năm do Trung ương

Đảng triệu tập họp vào đầu tháng 8 - I948 đã xác

định cụ thể những nội dung của chính sách ruộng

đất trong thời kỳ kháng chiến, chủ trương dùng

phương pháp cải cách để thu hẹp phạm vi bóc

lột của địa chủ

Một năm sau đó, ngày l4 - 7 - 1949, Chính

phủ ban hành sắc lệnh 7&-SL chính thức buộc tất

cả những cá nhân hoặc đoàn thể có ruộng đất cho

tí điền lĩnh canh phải giảm 25% mức địa tô đã

thu trước Cách mạng Tháng Tám Đông thời

Chính phủ cũng ban hành sắc lệnh tạm cấp ruộng

đất của Việt gian cho nông dân nghèo Các sắc

lệnh về thể lệ lĩnh canh, về giảm tức, về quyền

lợi khi sử dụng ruộng đất bỏ hoang, về công điền,

công thổ cũng liên tiếp được ban hành từ giữa

năm 1950 đến đầu năm 1952 (Đến năm 1953,

khoảng 2/3 diện tích công điền, công thổ đã được

chia cho nông đân)

Ngày I2 - 4 - 1953 Chủ tịch Hô Chí Minh

ký sác lệnh 149/SL về vấn đề triệt để giảm tô và

chính sách ruộng đất trong kháng chiến Đường

lối tiến hành cải cách dân chủ dần dần để thu hẹp

phạm vi bóc lột của địa chủ, giảm bớt gánh nặng

cho nông dân, đồng thời điều chỉnh chế độ sở

hữu ruộng đất trong phạm vi không làm hại đến

mặt trận thống nhất chống thực dân Pháp là một

thành công của Đảng và Nhà nước ta trong kháng

chiến

Thang II - 1953 Hội nghị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lần thứ Š nhận định tình hình

và quyết định tiến hành cải cách ruộng đất Ngày

I - 12 - 1953 Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thông qua Luật cải cách ruộng đất

Tiếp đó, ngày 19 - 12 - 1953 Chử tịch Hồ Chí

Minh ký sác lệnh ban hành Luật cải cách ruộng đất

Thong qua tam đợt giảm tô, một đợt thí

điểm cải cách ruộng đất (từ đợt giảm tô thứ ba, tháng 12 -1953, thi bat dau thi diém cải cách

ruộng đất ở Đại Từ, Thái Nguyên), năm đợt cải cách ruộng đất - kết thúc vào tháng 7 - 1956 - va một thời gian tiến hành sửa sai, chế độ sở hữu ruộng đất của địa chủ phong kiến đã bị xoá bỏ hoàn toàn Cải cách ruộng đất đã được tiến hành trên 3653 xã ở 22 tỉnh, thành phố ở vùng đồng bằng và trung du - bộ phận lớn nhất của nông thôn miền Bác (Đối với hơn 2000 xã ở miền núi thì cải cách ruộng đất được kết hợp với hợp tác hoá nông nghiệp trong những năm 1959 -1961) Ngay trong đợt 7 và đợt § giảm tô, đợt 4 và đợt 5 cải cách ruộng đất, Đăng ta đã phát hiện

có nhiều sai lầm Hội nghị Ban chấp hành Trung

ương Đảng lần thứ L0 (mở rộng) tháng 9 - 1956

đã chỉ rõ những sai lầm mang tính chất "tả khuynh”, giáo điều trong việc nhận định thành

phần (quy sai), trong việc chỉnh đốn tổ chức ở

nông thôn, trong việc phân biệt địch, ta, thực thì Luật cải cách ruộng đất Hội nghị nhận định rằng những sai lầm nghiêm trọng, phổ biến và kéo dài

đó là những sai lầm về nguyên tắc, trái với chính sách của Đảng, không những hạn chế thắng lợi

to lớn của cải cách ruộng đất mà còn gây nên những tổn thất rất lớn cho cơ sở Đảng, chính quyền, làm cho tình hình nông thôn căng thẳng ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng miền Bắc, đến sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà Hội nghị đã đề ra phương hướng và chủ trương

Trang 3

Noi dung chủ yếu các thời Rỳ phát triển 41

kiên quyết sửa chữa sai lầm Đến cuối năm 1957,

công tác sửa sai căn bản hoàn thành,

Hơn 40 năm sau, nhìn lại, Bộ Chính trị Ban

chấp hành Trung ương Đảng đã có sự đánh giá

về cải cách ruộng đất như sau:

"Căn cứ trên những kết quả đạt được và căn

cứ vào nhiệm vụ chiến lược của Cách mạng dân

tộc dân chủ, thì việc tiếp tục giải quyết vấn đề

ruộng đất, xoá bỏ những tàn dư của chế độ phong

kiến là cần thiết

Căn cứ tình hình thực tế nông thôn miền

Bac sau nam 1954, can cứ vào số ruộng chia cho

nông dân trong cải cách ruộng đất, căn cứ tác hại

nghiêm trọng của sai lầm cải cách ruộng đất và

chỉnh đốn tổ chức, thì chủ trương cải cách ruộng

đất như đã làm là không cần thiết Đó là vì, trước

khi tiến hành cải cách ruộng đất, giai cấp địa chủ,

chế độ phong kiến đã căn bản bị xoá bỏ và mục

tiêu người cày có ruộng đã căn bản thực hiện với

ty lệ hơn 2/3 ruộng đất đã vê tay nông dân, với

quyền làm chủ của nông dân trong nông thôn đã

Bang 1:

được thực hiện từ Cách mạng Tháng Tám đến

kháng chiến chống Pháp " (1)

Cho dù phạm phải những sai lầm nghiêm trọng, cho dù đã làm quá mức cần thiết, nhưng

phải thừa nhận rằng, chỉ đến cải cách ruộng đất, khẩu hiệu "người cày có ruộng" mới được thực hiện một cách triệt để Toàn bộ số ruộng đất tịch thu, trưng thu, trưng mua của địa chủ được đem

chia cho nông dân Số ruộng đất mà nông dân được tạm cấp, tạm giao hoặc nhận phân tán của địa chủ trong thời kì kháng chiến cũng chính

thức được xác nhận quyền sở hữu Cải cách

ruộng đất đã xác nhận về mặt pháp lí quyền làm

chủ của người nông dân trên ruộng đất mà họ

đang canh tác Tổng số ruộng đất nông dân được chia từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 đến năm 1957 (sửa sai xong) như sau (xem Bang 1): Sau cải cách ruộng đất, quan hệ ruộng đất giữa các tâng lớp cư dân trong nông thôn thay

đổi cơ bản (xem Bảng 2)

Sai lầm của cải cách ruộng đất gây tác hại

không nhỏ đến sự ổn định và phát triển nông thôn

những năm sau khi hoà bình lập lại, nhưng Don vị: ngìn hecta

những thành qua của nó

Nguồn: Tổng cục thống kê: 30 năm phát triển kinh tế và văn hoá của

nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Nvb Sự Thát H 1978, tr 95

Nguồn ruộng đất đã tạo tiên đề cần thiết Các giai đoạn Tổng sỐ | của thưc | của | của nhà ruộng công và cho việc khôi phục nền

dân Pháp | địa chủ | chung nửa công nông nghiệp bị tàn phá

Giai đoạn 1945 - 1949 177.0 I84| 39.6 119,90} nang nề do chiến tranh

đối với vùng tự do và 7- 298,9 8.41 11740 3,2 170,3 hiện thực là một yếu tố

Trong cái cách ruộng 334.] 32| 2237| 20.8 86,4

4 hid 0 `

Tổng cộng từ 1945-]957| 8100| 300| 3803| 240 37s | dân (chiếm 72,8% tổng

số hộ ở nông thôn miền Bắc) sở hữu trên 810 ngàn hecta ruộng đất

Trang 4

42 Rghién cứu Lịch sử số 4.3000

Bảng 2 Bình quân ruộng đất ở nông thôn qua các thời kì

211 kg vao nam 1939 lén

287 kg vao nam 1957

Thành phần cư Trước Cách Trước Cải cách ruộng đất (4- Sau Cải Dan trâu bò tăng Bap lan mạng Tháng | 1953 đối với vùng tự do, 7-1954 | cách ruộng rưỡi (từ 1,35 triệu con

Tám năm 1945J đối với vùng mới giải phóng) đất lên 2,l triệu con) Rất

Địa chủ 10.093 6.393 73g| nhiều ngành nghề thủ

công trong nông thôn

được phục hồi và phát

Lao động khác 336 237 403 | Chăn nuôi gia đình cũng

Nguồn: Viện Kinh tế : 45 năm kinh tế Việt Nam (1945 - 1990) Nvb

Khoa học xã hội, H 1990, tr 99

phấn khởi bắt tay vào việc xây dựng cuộc sống

mới Đặc biệt sau khi Đảng và Nhà nước nghiêm

túc tiến hành sửa chữa sai lâm của cải cách ruộng

đất, không khí nông thôn dần dần lắng lại, người

nông dân càng có điều kiện nhìn nhận, đánh giá

hết giá trị của những thành quả mà cách mạng

Tháng Tám, kháng chiến và cải cách ruộng đất

đã đem lại cho họ

Những chính sách của Nhà nước trong thời

kỳ khôi phục nền kinh tế đã kích thích mặt tích

cực của lực lượng sản xuất nhỏ trong nông thôn

- những người nông dân vừa thoát khỏi các ràng

buộc của quan hệ phong kiến, ý thức được giá trị

người chủ thực sự của mình đối với ruộng đất,

đối với sản phẩm (nông nghiệp, thủ công nghiệp)

mà mình làm ra Ba năm sau khi chiến tranh kết

thúc, 85% diện tích đất hoang đã được đưa vào

sản xuất Có 14 công trình thuỷ lợi lớn và nhiều

hệ thống kênh mương mới được xây dựng, phục

vụ kịp thời cho sản xuất nông nghiệp Nếu năm

1939 là năm sản lượng lúa đạt cao nhất trước

chiến tranh (2,4 triệu tấn) thi nim 1957 sản

lượng lúa của miền Bác đã đạt tới 3,95 triệu tấn,

đưa lượng thóc bình quân tính theo đầu người từ

khá phát triển, cung cấp

nguồn thực phẩm đồi

dào cho nông dân

Các tổ đổi công ra

đời và phát triển trong kháng chiến có vai trò

‘quan trong trong việc giúp nhau vượt qua những khó khăn riêng của từng hộ nông dân Đời sống nông dân được cải thiện rõ rệt Bộ mặt nông thôn

có nhiều nét đổi khác so với trước

II THỜI KỲ CHUYỂN ĐỔI PHƯƠNG THUC CANH TAC TU CA THE SANG TAP

THỂ PHÁT TRIỀN NỀN NÔNG NGHIỆP

HỢP TÁC HOÁ - TẬP THỂ HOÁ (1958 -

1988)

Coi nông nghiệp là cơ sở của quá trình đưa một nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta đi

thẳng lên chủ nghĩa xã hội không cần qua giai

đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, Hội nghị mở rộng Ban Chấp hành Trung ương Đăng Lao động Việt Nam khoá II, lần thứl4 (tháng II - 1958)

và tiếp đó là Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 16 (tháng 4 - 1959) đã quyết định đường lối và biện pháp tiến hành công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông thôn Nghị quyết Hội

nghị 16 ghi r6:" Miền Bắc nước ta phải tiến lên

chủ nghĩa xã hội với hai chân vững mạnh: công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa và nông nghiệp hợp

Trang 5

Đội dung chủ yếu các thời Rỳ phát triển 43

tác hoá" Chính vì vậy mà Đảng chủ trương

"Kiên quyết đưa nông thôn miền Bắc nước ta qua

con đường hợp tác hoá nông nghiệp tiến lên chủ

nghĩa xã hội"(2) Hợp tác hoá nông nghiệp được

đánh giá là "khâu chính trong toàn bộ sợi giây

chuyền cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc nước

ta, đồng thời góp phần quan trọng đẩy mạnh

cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất tổ quốc"(3)

Từ sau Hội nghị Ban chấp hành Trung ương

lần thứ 16, nông thôn miền Bắc được cuốn vào

cuộc vận động có tính chất bước ngoặt trong sự

phát triển: cuộc vận động chuyển từ lối canh tác

cá thể của hộ nông dân sang lối canh tác tập thể

qua con đường hợp tác hoá nông nghiệp

Việc tổ chức hợp tác xã sản xuất nông

nghiệp đã có lẻ tẻ từ cuốt năm 1958 nhưng đặc

biệt rầm rộ nhất là trong hai năm 1959- 1960

Cần nhớ răng cho đên lúc này, thời gian mà

người nông dân được làm người chủ ruộng đất

còn quá ngắn ngủi Sản xuất nông nghiệp bước

đầu được phục hồi Các tổ chức kinh tế hợp tác

giản đơn mà nông dân sáng lập ra (tổ đổi công,

thậm chí một số ít hợp tác xã sản xuất nông

nghiệp bậc thấp ở dạng thí điểm) còn phát huy

tác dụng Đời sống của đại đa số nông dân được

cải thiện hơn trước Tuy nhiên, các hộ nông dân

cũng bắt đầu gặp những khó khăn trong sản xuất

mà chính họ thấy khó vượt qua Hiện tượng bí

mật chuyển nhượng lại ruộng đất giữa các hộ

nông dân và theo đó

là bắt đầu xuất hiện

giải thoát cho họ khỏi những khó khăn mà họ được giải thích là do sản xuất đơn lẻ của từng hộ đem lại

Phong trào hợp tác hoá nông nghiệp tiến

nhanh với tốc độ không thể ngờ Hầu hết các tổ

đổi công được chuyển lên thành hợp tác xã Hàng

loạt hợp tác xã mới được thành lập thêm Trong

số nông dân xin vào hợp tác xã ngay từ những đợt đầu tiên, có một số người tuy chưa thấy hợp tác xã có tính thuyết phục, nhưng vì sợ ảnh hưởng đến thế hệ con cháu (bài học của Cải cách ruộng đất còn quá mới mẻ) nên họ cũng miễn cưỡng tham gia Đó là chưa nói tới những biện pháp có tính chất bất buộc của nhiều địa phương đối với những người tỏ ra do dự trước con đường mới mẻ mà Đảng chỉ ra cũng là một trong những nguyên nhân làm cho các hợp tác xã được thành lập nhanh chóng Những chỉ tiêu mà Trung ương Dang đề ra trong cuộc Hội nghị bàn vệ quy hoạch hợp tác xã nông nghiệp, họp vào tháng 2

- 1959, trước khi họp Hội nghị 16 (như gấp rút hoàn thành hợp tác xã bậc thấp vào năm 1960, trong đó phải có khoảng 50% số nông hộ vào hợp tác xã bậc cao, năm l96I hoàn thành tổ chức

hợp tác xã bậc cao, mở rộng qui mô hợp tác xã

toàn xã,v.v )(4) đã đặt những người chỉ đạo phong trào vào một cuộc chạy đua nước rút Nếu như lúc Hội nghị Ban chấp hành Trung

ương lần thứ 16 diễn ra (4 - 1959) mới có 8% số Bảng 3: Hợp tác hoá nông nghiệp ở miền Bác trong 3 năm 1958 - 1960

trạng phân hoá giàu

thôn Trong điều | Sốhô vào HTX Ngàn hộ 126.5} 12438| 2404.0

dân càng dễ tin vào Ï Tỷ lệ đất canh tác đưa vào HTX % 4.7 41.0 68,1 con đường hợp tác | Quy me binh quan mot HTX

tác xã sẽ là cứu cánh | 7+ Diện tích canh tác ha 17,4 26,3 33,5

Trang 6

44 tghiên cứu Lịch sử số 4.2000

hộ nông dân vào hợp tác xã thì đến giữa năm

1960 đã có 54% và cuối năm 1960 đã lên tới

85,5%, với 68,1% diện tích ruộng đất đưa vào

hợp tác xã Trên toàn miền Bắc có hơn 40 ngàn

hợp tác xã Ở các vùng miền núi, kết hợp cải cách

dân chủ với hợp tác hoá, số nông hộ vào hợp tác

xã cũng chiếm tới 65% Từ cuối năm I 960 đã có

10,8% số hợp tác xã là hợp tác xã bậc cao (tập

thể hoá ruộng đất, trâu bò, ) Có thể thấy thêm

tốc độ đặc biệt nhanh chóng của phong trào hợp

tác hoá nông nghiệp ở miền Bắc qua biểu thống

kê (xem Bảng 3):

Thời kỳ đầu mới làm ăn tập thể, do sức sản

xuất của nông dân mới được giải phóng khỏi

quan hệ sản xuất phong kiến đang tiếp tục được

kích thích, và do có một số biện pháp kỹ thuật

tiến bộ, nhất là khâu thuỷ lợi, nên sản xuất giữ

được mức phát triển bình thường Nhưng thời kỳ

phát triển bình thường này không được lâu Tính

chất trì trệ của nền nông nghiệp hợp tác hoá bắt

đầu bộc lộ khá sớm Điều này cũng thật dễ lý

giải Những người vừa cách đấy chưa lâu còn là

tá điền hoặc nông dân cá thể, sẵn xuất tự túc trên

mảnh ruộng riêng nhỏ bé - thậm chí có người đọc

chưa thông, viết chưa thạo - bỗng đảm nhận trách

nhiệm quản lý một hợp tác xã một vài trăm mẫu

ruộng, dăm trăm người lao động Công việc đó

vượt quá khả năng của họ Còn đại bộ phận xã

viên hợp tác xã, những người hãng hái tham gia

vào phong trào hợp tác xã, đêu là những nông

đân nghèo, ngoài sức lao động, mội ít ruộng đất

(nhờ cải cách ruộng đất đem lại), một Ít nông cụ

thô sơ và lòng tin vào Đảng, họ không góp được

gi hon cho hợp tác xã Chính vì vậy mà nguồn

vốn, cơ sở vật chất - kĩ thuật ban đầu của các hợp

tác xã cũng nghèo nàn như chính tài sản của các

thành viên của nó Chưa thoát ra khỏi những thói

quen, nếp suy nghĩ của người sản xuất nhỏ, cá

thể; vẫn với kỹ thuật canh tác lạc hậu như cũ, với

đồng ruộng, sức kéo, công cụ thô sơ, nhỏ bé và

manh mún, tập hợp nhau lại trong ngôi nhà

chung là hợp tác xã, họ không thể tránh khỏi sự

ngỡ ngàng, lúng túng, mò mẫm: làm gì, làm như thé nao, bat dau từ đâu?

Những hứa hẹn đẹp đẽ của nền nông nghiệp hợp tác hoá thật hấp dẫn nhưng dù sao cũng chưa

thể trở thành hiện thực Ở nhiều nơi, sản xuất tập thể thua kém sản xuất các thể, thu nhập từ kinh

tế phụ gia đình lớn hơn thu nhập từ kinh tế tập

thể

Chế độ hợp tác xã ra đời và tồn tại ở nông

thôn miền Bắc nhưng chưa có điều kiện phát huy tính ưu việt của nó Nhận thức được ý nghĩa của việc phải nâng đỡ để cho các hợp tác xã có thể

đứng vững được, các Hội nghị Ban chấp hành Trung ương khoá III, lân thứ ba (I - 1961), lần thứ năm (7 - 961) đã đặt thành một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) là củng cố

và tăng cường lực lượng sản xuất của các hợp tác

xã sản xuất nông nghiệp

Nhà nước đã cố gắng đầu tư cho các hợp tác

xã thông qua các biện pháp giúp đỡ về tài chính (cho vay vốn ngắn hạn và dài hạn), cung cấp máy móc, công cụ, vật tư, đào tạo cán bộ, v.v Số tiên Nhà nước đâu tư cho nông nghiệp ngày càng tăng Có thể thấy điều đó qua một vài con số sau đây

-_ Nếu coi số vốn đầu tư trong những năm I955-1957 là 100% thì trong những năm 1958-

1960 là 196,42 và trong những năm 1961-1965

là 517% So với năm 1960, năm I96Š nông thôn nhận được số phân đạm tăng 290%, số phân lân tăng 140% cày bừa cải tiến tăng 290%, máy bơm tăng 1000%, thuốc trừ sâu tăng §100% điện tăng 840% Đầu tư lớn nhất của Nhà nước

là khâu thuỷ lợi (chiếm từ 45 đến 60% tổng số

vốn đầu tư cho nông nghiệp) Ngót 1500 céng trình thuỷ lợi loại vừa, 33 công trình loại lớn đã

Trang 7

Rội dung chủ yếu các thời Rỳ phát triển 45

được xay dung, bao dam tudi tiéu cho khoang70-

80% diện tích trồng lúa va hon 20% diện tích

trông màu Nhờ có hệ thống thuỷ lợi mà diện tích

canh tác vụ mùa tăng từ 770 ngàn hecta năm

1955 lên 960 ngàn hecta năm 1965 (5) Ngoài

ra, Nhà nước cũng đã thành lập một số viện,

trạm, trại nghiên cứu về khoa học nông nghiệp

để giúp nông dân kỹ thuật sẵn xuất nông nghiệp

Tuy nhiên, sự đầu tư của Nhà nước vẫn còn quá

it Ôi so với yêu cầu cải tạo một nền nông nghiệp

vốn rất lạc hậu

Sự lúng túng yếu kém trong cách quản lý

nền nông nghiệp tập thể của cán bộ, xã viên, cơ

sở vật chất kỹ thuật của hợp tác xã nghèo nàn,

thiên tai luôn luôn đe doa là những nguyên

nhân chủ yếu dẫn đến

tình trạng sa sút của

nền nông nghiệp

Quá trình phát

triển nông nghiệp trong Tý lệ hộ xã viên | Tỷ lệ đất canh tác | Tỷ lệ HTX bậc cao trong tổng những năm l961 - 1965 Năm trong tổng số hộ của HTX trong số HTX toàn miền Bắc

được tiên hành đông nông a ao dong | tong ren ” đất | vrs os HTX Về số hộ xã

chuyên dân hợp tắc xã | 1964 84,7 15,6 43,3 53,7

từ bậc thấp lên bậc cao

Lew - 1965 90,1 80.3 60,1 72,1

và kết nạp những hộ

sản xuất nông nghiệp ở | 1969 95,1 92.4 83,6 94,3

mién Bac da chuyen | 979 95,1 94,6 84,6 96.2

huong truc tiếp đến kết 1975 956 90.1

quả sản xuất của hop

tác xã Rõ ràng là nông

thôn miền Bắc lúc này

chưa sẵn sàng đón nhận một lối canh tác còn quá

mới, nói đúng hơn là còn quá xa lạ, đối với trình

độ của người nông dân Sự bất cập trong quản lí

các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bộc lộ rõ rệt Ở hợp tác xã bậc cao, đất đai bị tập thể hoá,

vị trí người chủ của ruộng đất mà cải cách ruộng

đất đem lại cho hộ nông dân đã không còn nữa Những kinh nghiệm mà người nông dân sản xuất

giỏi tích luỹ được đã không còn được coi trong như trước Quyền lực và của cải của hợp tác xã

được đặt dưới sự quản lý của một bộ phận nông

đân thiếu kinh nghiệm canh tác, trình độ thấp

Yêu cầu giải phóng sức sản xuất vấp phải lực cản

là quan hệ sản xuất tập thể Ở những hợp tác xã

bậc cao quy mô càng lớn thì sản xuất càng trì trệ, Bang 4: Tình hình hợp tác hoá nông nghiệp trong những năm

chiến tranh

Nguồn: Niên giám thống kê 1975, tr 196., Niên giám thống kê 1961,

tr 110

Trang 8

46 Nghién cứu lịch sử số 4.2000

mức độ tham ô, lãng phí càng lớn và hiệu quả

sản xuất càng thấp! Nhiều hộ xã viên xin ra hợp

tác xã Năm 1963 số hộ xã viên xin ra khỏi hợp

tác xã đạt tới con số hơn 44.659 hộ (đồng bằng

và trung du có 29.629 hộ, miền núi 15.030 hd)

Ngoài ra, một số hợp tác xã quy mô quá lớn đã

tách chia lại

Nhận thức rằng sự non kém của hợp tác xã

bất nguồn chủ yếu từ khâu quản lý, từ đầu năm

1963 Ban Chap hành Trung wong Dang chi

trương mở “cuộc vận động cải tiến quan lý hop

tác xã, cải tiến kỹ thuật nhằm phát triển nông

nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc" Đến

cuối năm L964 đã có khoảng 70% số hợp tác xã

trên toàn miền Bắc (chủ yếu ở vùng đông bằng

và trung du) triển khai những nội dung của cuộc

vận động: củng cố và tăng cường chế độ sở hữu

tập thể về tư liệu sản xuất, xây dựng cơ sở vật

chất - kỹ thuật của hợp tác xã, đặc biệt là phong

trào làm thuy lợi, cải tạo đông ruộng, học tập các

điển hình tiên tién,v.v

Hiệu quả của cuộc vận động chưa thấy rõ

thì cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ nổ

ra Những khó khăn xuất phát từ bản chất của

nền nông nghiệp tập thể hoá càng khó nhận thấy

hơn càng bị che lấp bởi những khó khăn do chiến

tranh mang lại Càng nảy sinh nhiêu khó khăn

thì lại càng củng cố ý tưởng tìm kiếm cách giải

quyết từ việc cải tiến quản lý hợp tắc xã, từ việc

tăng cường chế độ sở hữu tập thể về tư liệu sản

xuất Cuộc vận động cải tiến quản lý hợp tác xã

vòng II triển khai từ năm 1967 chính là thể hiện

tư tưởng đó Nên nông nghiệp hợp tác hoá ngày

càng lộ rõ là nền nông nghiệp tập thể hoá Có thể

tham khao Bang 4

Trong thời kỳ chiến tranh, vấn đề xây dựng

hậu phương lớn xã hội chủ nghĩa mạnh về kinh

tế và quốc phòng nổi lên là vấn đề cấp bách hàng

đâu Lòng yêu nước, trách nhiệm, nghĩa vụ của

người dân trước vận mệnh của Tổ quốc đồng thời được coi là ý thức làm chủ tập thể đối với hợp tác xã Thực hiện khẩu hiệu trung tâm của miền

Bắc: "Vừa sản xuất, vừa chiến đấu", "Tất cả cho

tiền tuyến, tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm

lược”, và riêng đối với nông thôn thì "tay cày tay súng”, "Thoc không thiếu một cân, quân không thiếu một người",v.v , các hợp tác xã sản xuất

nông nghiệp chú trọng việc bảo đảm sự ổn định

trong nông thôn để tập trung giải quyết vấn đề

sản xuất lương thực, thực phẩm, giải quyết mối

quan hệ giữa sản xuất và chiến đấu, giải quyết vấn đê phân công lao động trong hợp tác xã, khi

mà hâu như mọi nhu cầu về lao động thời chiến đều trông vào nông thôn Chính nhờ vậy mà nông thôn, nền nông nghiệp hợp tác hoá - tập thể hoá đã có được vị thế xứng đáng trong thắng lợi

vĩ đại của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Sản xuất của các hợp tác xã mở rộng theo hướng thâm canh lúa, tăng diện tích màu, phát

triển một số cây công nghiệp, chăn nuôi tập thể, phát triển một số ngành nghề thủ công phục vụ

nông nghiệp và phục vụ tiêu dùng của nông dân Nổi bật nhất là thâm canh lúa Nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp, năng suất lúa ở một số hợp tác xã tăng lên đáng kể Địa bàn

5 tấn thóc trên một hecta ruộng hai vụ lúa mở rong: nim 1965 cé 7 huyện, 640 hợp tác xa; nam I967 có 30 huyện, 2628 hợp tác xã; năm 1966

co & huyén, 1121 hop tac xa; nam 1972 có 53 huyện, 3763 hợp tác xã; năm I974 có 107 huyện,

4226 hợp tác xã

Mặc dù có một số địa phương nổi lên về

năng suất lúa, nhưng nhìn chung các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp gặp rất nhiêu khó khăn, chủ yếu là thiếu lực lượng lao động trẻ khoẻ và

thiếu bộ máy quản lý có đủ năng lực và phẩm

chất, do đó các chỉ tiêu sản xuất về trồng trọt và

chăn nuôi đều giảm sút Việc chuyển quá nhiều

Trang 9

Đội dung chủ yếu các thời Rỳ phát triển 47

hợp tác xã lên quy mô lớn, việc đầu tư xây dựng

cơ sở vật chất không tính toán đến hiệu quả kinh

tế, việc áp dụng quan hệ phân phối mang nặng

tính chất bình quân v.v đã làm cho hợp tác xã

suy yếu: tài sản mất mát, hư hỏng, chi phi sản

xuất tăng, giá trị ngày công lao động thấp, thu

nhập của xã viên giảm sút

Trong thời kỳ chiến tranh, diện tích gieo

trông cây lương thực giảm | 62 ngan hecta (5,6%,

riêng diện tích trông lúa giảm 8%), sản lượng

lương thực quy ra thóc giảm 1 82.000 tấn (3,4%),

sản lượng đỗ tương giảm 18%, sản lượng mía

giảm 15%, đàn trâu bò giảm 18%,v.v Nha

nước đã phải nhập một khối lượng lương thực

(quy ra gạo) khá lớn: năm 1966: 388 ngàn tấn,

năm 1970: 1062 ngàn tấn, năm 1974: 1544 ngàn

tấn (6) Dĩ nhiên, ta biết, số lương thực này một

phần góp phần giải quyết sự mất cân đốt trong

cung cầu lương thực ở miền Bắc, một phần giành

cung cấp cho nhu cầu của các mặt trận ở phía

Nam

Đến nay, nhìn lại, ta thấy rõ là không thể

nào đổ hết sự trì trệ, sút kém của nền nông nghiệp

là do tác động của chiến tranh Rõ ràng là "có

vấn đề” từ trong bản chất kinh tế của nền nông

nghiệp hợp tác hoá - tập thể hoá Chúng ta chưa

nhận thức được một cách đây đủ những mâu

thuẫn phát sinh trong quá trình phát triển của sản

xuất nông nghiệp Cho đến đầu những năm 70

hầu hết các hợp tác xã còn nằm trong tình trạng

sản xuất giản đơn, sản xuất nhỏ, khép kín trong

từng đội sản xuất và hợp tác xã theo kiểu "tập

thể phường hội" Đáng tiếc là nhận thức chung

trong thời kì này đều cho rằng ngoài nguyên

nhân chiến tranh thì nguyên nhân chính là ở khâu

quản lí hợp tác xã, giải quyết được "mắt xích"

này thì sản xuất nông nghiệp sẽ phát triển Chính

vì vậy mà sau khi triển khai trên diện rộng cuộc

vận động cải tiến quản lí hợp tác xã đợt II (từ

năm 967), cho rằng thực tiễn của nền sản xuất

nông nghiệp tập thể đã thúc bách phải tổ chức lại các nhân tố chủ yếu của nền nông nghiệp (cơ

sở vật chất kĩ thuật, ruộng đất, phương hướng sản

xuất, phân công lao động, ) theo hướng san xuất

lớn xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở tổ chức lại sản xuất thực hiện cải tiến quản lí hợp tác xã, sau Hội nghị tổng kết kinh nghiệm ở Thái Bình (8 - 1974), Trung ương chính thức mở "Cuộc vận động tổ chức lại sản xuất và cải tiến một bước

quản lí nông nghiệp, lâm nghiệp từ cơ sở theo hướng tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa" (7),

Bất cứ cuộc vận động nào cũng có sức sống của

nó Vào thời điểm ấy, không phải ai cũng nhìn

thấy là sở đĩ cuộc vận động được các hợp tác xã

đón nhận vì ở đó họ đã thấy quá bế tắc, thấy cần

phải có một sự thay đổi, đù là thay đổi theo chiều

hướng nào Chính sự bế tắc của các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp chứng tỏ rằng hợp tác hoá nông nghiệp mà thực chất là tập thể hoá cao độ

với những bước đi chưa phù hợp đặc điểm nông

thôn, nông nghiệp và trình độ của giai cấp nông

dân, trong những thời điểm lịch sử nhất định đã đẩy nền kinh tế nông nghiệp vào tình trạng

khủng hoảng

Thực tế cũng chứng tô rằng cuộc vận động

tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng sản

xuất lớn xã hội chủ nghĩa đã không đạt kết quả như mong muốn Cuộc vận động thực hiện chưa được bao lâu thì tình hình đất nước có những biến đổi quan trọng: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, và vấn đề cải tạo nền kinh tế cùng

cả xã hội miền Nam theo chủ nghĩa xã hội được đặt ra ngay lập tức

Chúng ta biết rằng đến thời điểm đất nước

thống nhất (năm 1976) thì nông nghiệp miền Bắc vẫn đang còn là một nền nông nghiệp tự cung tự cấp là chủ yếu Những mâu thuẫn nội tại của nên

kinh tế tập thể hoá cao độ, vốn bị các yếu tố chiến

tranh che lấp, đã đân dần bộc lộ và ngày càng trở nên gay gắt Sự trở lại trạng thái hoà bình của

Trang 10

38 Đghiên cứu lịch sử số 4.3000

nền kinh tế làm cho người nông dân nhìn rõ hơn

cơ chế quản lý cũ và họ thấy: khó có thể chấp

nhận nó Cơ sở vật chất kỹ thuật của nền nông

nghiệp hợp tác hoá - tập thể hoá được xây dựng

băng nguôn vốn chủ yếu vay của Nhà nước đã

không phát huy được hiệu quả Tình trạng tham

ô lãng phí, chiếm dụng tài sản tập thể ngày càng

trầm trọng Sự gò ép cứng nhắc những tiêu chuẩn

của tập thể hoá trong mô hình kinh tế hợp tác xã

mà không thấy hết vai trò của kinh tế gia đình

đã làm mai một đần những mầm mống của sản

xuất hàng hoá ở nông thôn Trong khi đó, ở phía

Nam, nền nông nghiệp đã có nhiều yếu tố sản

xuất hàng hoá Nếu như chương trình "cải cách

điền địa" mà chính quyền Ngô Đình Diệm tiến

hành nhằm phục hôi lại kinh tế địa chủ vốn đã

bị cách mạng xoá bỏ về cơ bản trong thoi ky

kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954, thì

Luật "Người cày có ruộng” mà chính quyên

Nguyễn Văn Thiệu ban hành tháng 3 - 1970 là

một bước tiến quan trọng trong việc giải quyết

vấn đề ruộng đất ở miền Nam: lấy ruộng đất của

địa chủ cấp không cho mỗi gia đình nông dân, ở

Nam Bộ tối đa là 3 hecta, ở Trung Bộ tối đa là I

hecta Luật "Người cày có ruộng" của Nguyễn

Văn Thiệu với việc cấp "chứng khoán" đã khẳng

định về mặt pháp lý quyền sở hữu ruộng đất của

nông dân, nhằm tạo ra ở nông thôn miền Nam

một tầng lớp nông dân kinh doanh sản xuất hàng

hoá với quy mô hợp lý, thực hiện chính: sách

"hiện đại hoá nông thôn”, "canh tân hoá nông

nghiệp" Cùng với những thành quả về ruộng đất

mà cách mạng và Mặt trận Dân tộc Giải phóng

mang lại cho nông dân, kết quả của việc thực

hiện luật "Người cày có ruộng" đã làm thay đổi

các quan hệ về ruộng đất và diện mạo nông thôn

miền Nam Nền kinh tế nông nghiệp miền Nam

chuyển dần sang sản xuất hàng hoá Các hộ trung

nông đóng vai trò quyết định trong sẵn xuất nông

nghiệp, trở thành nhân vật trung tâm của nông

thôn miền Nam trong những năm đầu thập kỷ 70

Sản xuất của các hộ nông dân đã gắn bó trực

tiếp với thị trường Một phần khá lớn nông sản

đã trở thành hàng hoá Một số vùng chuyên canh

có trình độ tập trung nhất định đã hình thành

Trong nông thôn Nam Bộ đã hình thành một cơ

cấu kinh tế có phân công và liên kết, bao gồm nhiều thành phần: kinh tế nửa tự nhiên, kinh tế hàng hoá nhỏ của nông dân và thợ thủ công, kinh

tế của phú nông, tư sản nông thôn vừa kinh doanh

nông nghiệp, vừa kinh doanh công thương nghiệp và dịch vụ,v.v ở Trung Bộ và Tây Nguyên, trình độ sản xuất hàng hoá của nền nông nghiệp thấp hơn, tính tự cấp tự túc còn đậm nét hơn Nhìn chung thì nên nông nghiệp của các tỉnh phía Nam đã bước đầu phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá

Đáng tiếc là trong khi chưa có một sự tổng

kết đầy đủ về công cuộc hợp tác hoá nông nghiệp

và cuộc vận động tổ chức lại sản xuất, đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, và trên thực tế thì nền nông nghiệp hợp tác hoá miên Bắc đang đứng trước một cuộc khủng hoảng toàn diện, thì nông thôn miền Nam lại được hướng theo con đường mà nông dân miền Bac đã đi Nhằm thực hiện sự đồng nhất về quan

hệ sản xuất trong cả nước, Đảng ta chủ trương thực hiện hợp tác hoá nông nghiệp ở các tỉnh phía Nam Hội nghị Ban chấp hành Trung ương

Đảng khoá III tần thứ 24 (tháng 9-1975) đã nhận

định rằng kinh tế nông thôn miên Nam chịu ảnh hưởng của chính sách thực dân mới của Mỹ và

tư sản mại bản, cần phải kết hợp vừa cải tạo vừa xây dựng Nghị quyết 254 của Bộ Chính trị (6-1976) về tình hình và nhiệm vụ trước mất của miền Nam sau giải phóng đã đặt vấn đề gấp rút xoá bỏ tàn dư kinh tế địa chủ phong kiến, gắn việc xoá bỏ chế độ tư hữu ruộng đất với việc đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn Ngày 20- 6-1976

Ngày đăng: 30/05/2022, 23:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w