1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CƠ sở lý LUẬN của PHÁP CHẾ xã hội CHỦ NGHĨA và LIÊN hệ VIỆC TĂNG CƯỜNG PHÁP CHẾ xã hội CHỦ NGHĨA TRONG đơn vị CÔNG tác

18 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 38,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG CÁN BỘ QUẢN LÝ GIAO THÔNG VẬN TẢIBÀI THU HOẠCH PHẦN HỌC: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ, NHÀ NƯỚC, PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TÊN BÀI THU HOẠCH: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP

Trang 1

TRƯỜNG CÁN BỘ QUẢN LÝ GIAO THÔNG VẬN TẢI

BÀI THU HOẠCH

PHẦN HỌC: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ, NHÀ NƯỚC, PHÁP LUẬT XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

TÊN BÀI THU HOẠCH: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ LIÊN HỆ VIỆC TĂNG CƯỜNG PHÁP CHẾ

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG ĐƠN VỊ

CÔNG TÁC

Họvàtên:

Lớp:Trungcấplýluậnchínhtrị - hànhchính Khóahọc: 120

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

MỞ ĐẦU……… 4

PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 6

1.1 Khái niệm về pháp chế xã hội chủ nghĩa 6

1.2 Đặc điểm của pháp chế xã hội chủ nghĩa 7

1.3 Những nguyên tắc của pháp chế xã hội chủ nghĩa 9

PHẦN II LIÊN HỆ VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT CỦA CÁ NHÂN VÀ ĐƠN VỊ CÔNG TÁC 12

2.1 Đánh giá việc thực hiện pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa của đơn vị công tác 13

2.2 Một số giải pháp nhằm củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa tại đơn vị 14

KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 4

MỞ ĐẦU

KháiniệmphápchếxãhộichủnghĩacótừsauCáchmạngThángMườiNga

V.I.Lê-ninlàngườiđưarađịnhnghĩaphápchếvàcácnguyêntắccủanóđãlàmgiàuthêmlýluậ ncủachủnghĩaMác - Lêninvềnhànướcvàphápluật Theo đó, Lê-ninchorằng, Phápchếxãhộichủnghĩalàmộtchếđộđặcbiệtcủađờisốngchínhtrị - xãhội,

trongđótấtcảcáccơquannhànước, cáctổchứckinhtế, tổchứcxãhội,

đơnvịvũtrangnhândân,

nhânviênnhànướcvàmọicôngdânđềuphảitôntrọngvàthựchiệnHiếnpháp,

phápluậtmộtcáchnghiêmchỉnh, triệtđể, chínhxác

Mọihànhđộngxâmphạmlợiíchcủanhànước, quyền, lợiíchcủatậpthể,

củacôngdânđềubịxửlýtheophápluật”

Trang 5

Do ý nghĩa, mụcđíchvàtầmquantrọngcủaphápchếxãhộichủnghĩa, ĐảngCộngsảnViệt Nam đãnhiềulầnđềcậptrongcácnghịquyết,

chỉrõphươnghướngvàbiệnphápcầnthiếtđểtăngcườngphápchếxãhộichủnghĩa NghịquyếtĐạihội VI củaĐảngnhấnmạnh:

“Phảidùngsứcmạnhcủaphápchếxãhộichủnghĩakếthợpvớisứcmạnhcủadưluậnqu ầnchúngđểđấutranhchốngnhữnghànhvi phạmpháp CáccấpủyĐảng,

từtrênxuốngdướiphảithườngxuyênlãnhđạocôngtácphápchế

kiểmtrachặtchẽhoạtđộngcủacáccơquanphápchế” NghịquyếtĐạihội VII

củaĐảngkhẳngđịnh:

“Điềukiệnquantrọngđểpháthuydânchủlàxâydựngvàhoànchỉnhhệthốngphápluật , tăngcườngphápchếxãhộichủnghĩa, nângcaodântrí, trìnhđộhiểubiếtphápluậtvà

ý thứcphápluậtcủanhândân” TạiĐạihội VIII củaĐảng, quanđiểmnàyđượcxácđịnh:

“Tăngcườngphápchế, xâydựngnhànướcphápquyềnxãhộichủnghĩaViệt Nam,

quảnlýxãhộibằngphápluật, đồngthờicoitrọnggiáodục, nângcaođạođức ”.Nhưvậy, tăngcườngphápchếxãhộichủnghĩalàmộtđòihỏikháchquancủaquátrìnhquảnlývàl ãnhđạo Nótrởthànhnguyêntắchiếnđịnhcủaxãhội ta đượcquyđịnhtạiĐiều 12, Hiếnpháp 1992:

“Nhànướcquảnlýxãhộibằngphápluật, khôngngừngtăngcườngphápchếxãhộichủnghĩa Cáccơquannhànước, tổchứcxãhội,

đơnvịvũtrangnhândânvàmọicôngdânphảichấphànhnghiêmchỉnhHiếnphápvàph ápluật, đấutranhphòngngừavàchốngcáctộiphạm, các vi phạmHiếnphápvàphápluật”

Trang 6

Do đó, phápchế XHCN

làmộtkháiniệmrấtquantrọngtrongtổchứccủabộmáynhànước,

tronghoạtđộngcủamỗichủthể, côngdân kểtừĐạihội VI củaĐảngđến nay,

cácnghịquyếtcủaĐảngthườngxuyên, liêntụcđềcậpđếnvấnđềnày

Hiếnphápvớitínhchấtlàđạoluậtcaonhấtcủanhànướcđãthểchếhóaquanđiểmnêutr êncủaĐảng, càngchứngtỏphápchếxãhộichủnghĩarấtcầnthiết,

khôngthểthiếutrongđờisốngxãhộinước ta

Trong khuôn khổ bài tiểu luận này sẽ đưa ra khái niệm cụ thể về pháp chế xã hội chủ nghĩa, các nguyên tắc của pháp chế xã hội chủ nghĩa và liên hệ việc thực hiện pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa tại đơn vị công tác

Trang 7

PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1.1 Khái niệm về pháp chế xã hội chủ nghĩa

Pháp chế là một thuật ngữ quen thuộc trong xã hội ta Nhưng pháp chế

là gì, bản chất của nó ra sao, điều này đòi hỏi phải lý giải một cách cụ thể và chính xác, do đó cần phải đi sâu tìm hiểu bản chất của khái niệm này Điều 12 của Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”

Điều 12 Hiến pháp 1992 còn ghi: “các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh

tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật” Như vậy, pháp chế đòi hỏi, tất

cả các cơ quan, tổ chức, công dân đều phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp

và pháp luật; kiên quyết đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp và pháp luật Ở đây, pháp chế là nguyên tắc cơ bản, thông qua

đó Nhà nước thực hiện sự quản lý bằng pháp luật đối với xã hội

Pháp chế xã hội chủ nghĩa có quan hệ chặt chẽ với dân chủ, như là một

bộ phận hợp thành của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa sẽ không có ý nghĩa, nếu như nó mất đi tính kỷ luật và ý thức pháp luật của các tổ chức, cá nhân Dân chủ và pháp chế không tồn tại một cách biệt lập Quyền tự do, dân chủ của con người được ghi trong Hiến pháp và trong các đạo luật thể hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đồng thời thông qua việc bảo đảm pháp chế mà các quyền tự do, dân chủ của công dân được thực hiện

Pháp luật và pháp chế có quan hệ mật thiết với nhau Để xây dựng và củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa phải có pháp luật Vì vậy, cần phải xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, thống nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội

Việc tồn tại một hệ thống pháp luật đầy đủ, thống nhất tự thân nó chưa củng cố được pháp chế xã hội chủ nghĩa Bản thân pháp luật không đồng nghĩa với pháp chế Trong lịch sử đã từng tồn tại những nhà nước có một hệ thống pháp luật đầy đủ nhưng lại không có pháp chế vì nội dung của pháp luật

Trang 8

không phù hợp với văn hóa dân tộc, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, không được mọi người ủng hộ, không được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, công bằng

Từ những vấn đề trên có thể định nghĩa, pháp chế xã hội chủ nghĩa là chế độ của đời sống chính trị - xã hội; trong đó Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; các cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện Hiến pháp, pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác Mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo Hiến pháp và pháp luật

1.2 Đặc điểm của pháp chế xã hội chủ nghĩa

Pháp chế xã hội chủ nghĩa được quy định bởi pháp luật xã hội chủ nghĩa Bởi vậy, bản chất của pháp luật xã hội chủ nghĩa là bản chất của pháp chế xã hội chủ nghĩa, nhưng bản chất ấy được hiện thực hóa trong đời sống xã hội Để nhận thức được sâu sắc bản chất của pháp chế xã hội chủ nghĩa, cần tìm hiểu các đặc điểm sau đây của pháp chế xã hội chủ nghĩa

Thứ nhất, Nhà nước quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng Hiến

pháp và pháp luật Trong đời sống xã hội có nhiều loại quy phạm tác động, điều chỉnh hành vi của con người như: quy phạm đạo đức, quy phạm chính trị, quy phạm tôn giáo và quy phạm kỹ thuật Trong quản lý xã hội, Nhà nước không chỉ coi trọng pháp luật mà kết hợp giữa pháp trị và đức trị, thừa nhận những quy phạm tôn giáo và các quy phạm xã hội khác nếu không trái với lợi ích nhà nước, lợi ích tập thể và quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Song, pháp luật xã hội chủ nghĩa phải là công cụ chủ yếu mà Nhà nước sử dụng trong quản lý xã hội; nội dung của pháp luật xã hội chủ nghĩa bao gồm hệ thống các quy phạm tiên tiến, chứa đựng các quyền về chính trị, các quyền về dân sự, kinh tế của công dân Đó là pháp luật phản ánh thực tế khách quan quy luật phát triển xã hội Theo tư tưởng pháp trị của Hồ Chí Minh: “Bảy xin

Trang 9

hiến pháp ban hành/ Trăm đều phải có thần linh pháp quyền” Vì vậy, đòi hỏi Nhà nước phải ngày càng hoàn thiện hệ thống pháp luật, làm cơ sở, tiền đề cho việc thiết lập nền pháp chế Ngoài pháp luật ra, Nhả nước còn quản lý xã hội bằng kế hoạch, chính sách và các biện pháp chính trị, tư tưởng, biện pháp kinh

tế, biện pháp hành chính,v.v Song, pháp luật là công cụ chủ yếu hàng đầu và rất quan trọng quy định nội dung, bản chất của pháp chế xã hội chủ nghĩa Không có pháp luật xã hội chủ nghĩa thì không thể có pháp chế xã hội chủ nghĩa

Đây là đặc điểm cơ bản của pháp trị khác với đức trị, nhân trị, kỹ trị,v.v

Thứ hai, các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức của các cơ quan nhà

nước từ Trung ương đến cơ sở thể hiện trách nhiệm thường xuyên trong việc tổ chức thực hiện pháp luật trong đờisống xã hội Các cơ quan nhà nước tổ chức

và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật; theo nguyên tắc chỉ được làm những

gì mà pháp luật cho phép Cán bộ, công chức khi thi hành công vụ phải đặt mình dưới pháp luật Các hành vi lạm quyền, cửa quyền, tham ô, lãng phí đều trái với nội dung của pháp luật và yêu cầu của pháp chế xã hội chủ nghĩa

Thứ ba, ở nước ta Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm

quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Nhưng các tổ chức đảng phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Các tổ chức đảng có các quyền và nghĩa vụ pháp lý bình đẳng như các chủ thể khác Các tổ chức chính trị - xã hội như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, các tổ chức xã hội nghề nghiệp khác đều phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Các

tổ chức này phải tham gia phối hợp cùng với Nhà nước trong việc tổ chức thực hiện pháp luật, động viên, giáo dục các thành viên của tổ chức mình thực hiện pháp luật

Thứ tư, các thương nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp thuộc

các thành phần kinh tế đều được bảo đảm quyền tự do kinh doanh trong

Trang 10

khuôn khổ pháp luật và được bình đẳng với nhau trước pháp luật Mọi công dân phải không ngừng nâng cao ý thức pháp luật, sống và làm việc theo pháp luật

Thư năm, các cơ quan tư pháp thực hiện việc bảo vệ pháp luật một cách

kịp thời, hiệu quả; giải quyết có lý có tình mọi tranh chấp; xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Thực hiện một nền tư pháp khách quan, công bằng,

vô tư, bảo đảm công lý xã hội chủ nghĩa

Pháp chế xã hội chủ nghĩa trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ

cơ chế hoạt động trong chế độ chính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa ở nước ta Pháp chế xã hội chủ nghĩa là phương thức tổ chức và vận hành cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ Vì vậy, pháp chế xã hội chủ nghĩa trở thành nguyên tắc Hiến định và là nguyên tắc tổ chức hoạt động của

hệ thống chính trị, nguyên tắc xử sự của mọi công dân; đó là điều kiện và bảo đảm pháp lý của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

1.3 Những nguyên tắc của pháp chế xã hội chủ nghĩa

Nguyên tắc của pháp chế xã hội chủ nghĩa là những tư tưởng chủ đạo,

cơ bản thể hiện bản chất và đặc điểm của pháp chế xã hội chủ nghĩa

Pháp chế xã hội chủ nghĩa bao gồm những nguyên tắc cơ bản sau đây:

a Bảo đảm sự thống nhất của pháp chế trên quy mô toàn quốc

Hệ thống pháp luật là tổng thể nhiều ngành luật, rất phong phú, đa dạng,

nhưng “pháp chế thì phải thống nhất” Pháp chế thống nhất nghĩa là, trên quy

mô toàn quốc chỉ có một nền pháp chế duy nhất, không có và không thể có pháp chế của địa phương này hay của địa phương khác

Sự thống nhất của pháp chế bảo đảm cho pháp luật phải ban hành và tổ chức thực hiện thống nhất trong phạm vi cả nước;bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, mọi vi phạm pháp luật phải được xử lý nghiêm minh, không chấp nhận bất kỳ một đặc quyền hay ngoại lệ nào V.I.Lênin viết:

“Pháp chế không thể là pháp chế của tỉnh Caluga hoặc của tỉnh Cadan được,

mà phải là pháp chế duy nhất cho toàn nước Nga và cho cả toàn thể liên bang

Trang 11

của các nước Cộng hòa Xôviết nữa"' Đây là nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tạo điều kiện cho hệ thống đó phát triển ngày càng hoàn thiện, làm cơ sở củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Do

đó, nó đòi hỏi không những phải có một sự nhận thức thực sự nhất trí về pháp chế, mà còn phải có khả năng gìn giữ cho luật pháp được áp dụng một cách thực sự thống nhất trong toàn quốc, bảo đảm cho mọi công dân hiểu biết, sử dụng đúng quyền và thực hiện tốt nghĩa vụ đối với nhà nước, với xã hội, hướng tới mục tiêu xây dựng xã hội dân chủ, công bằng và văn minh

Thực hiện nguyên tắc thống nhất của pháp chế xã hội chủ nghĩa là điều kiện quan trọng để xóa bỏ tư tưởng cục bộ, địa phương chủ nghĩa, bảo đảm công bằng xã hội Nguyên tắc thống nhất của pháp chế không những không loại bỏ, mà còn không ngừng phát huy khả năng áp dụng sáng tạo pháp luật của từng địa phương, từng cơ sở trong việc xây dựng các quy chế hoạt động và quản lý phù hợp với đặc điểm, điều kiện cụ thể của mình Nhưng sự áp dụng sáng tạo đó phải phù hợp với sự thống nhất của pháp luật của Nhà nước V.I.Lênin đã nhấn mạnh, không những một nước cộng hòa, một tỉnh, mà ngay

cả một nhà máy, một làng đều có quyền áp dụng theo cách thức riêng của mình những luật lệ XôViết chung Điều quan trọng là khả năng áp dụng sáng tạo đó cần phải được nhận thức đúng đắn và có giới hạn, xác định rõ quyền và nghĩa

vụ, quyền chủ thể luôn gắn liền với nghĩa vụ pháp lý, không được vin vào “ ở các địa phương có những đặc điểm và những ảnh hưởng” mà bất chấp pháp luật Những đặc điểm và những ảnh hưởng ấy chỉ là những yếu tố cần được tính đến khi nghiên cứu, tìm tòi các biện pháp và hình thức để áp dụng pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống

b Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực pháp lý cao nhất của hiến pháp

Đây là nguyên tắc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tạo điều kiện cho hệ thống đó phát triển và ngày càng hoàn chỉnh, làm cơ sở củng

cố và tăng cường pháp chế Trong hệ thống pháp luật, các văn bản pháp luật tồn tại trong mối quan hệ phụ thuộc và quy định lẫn nhau Hiến pháp là văn

Trang 12

bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất; những văn bản khác, kể cả văn bản luật, đều phụ thuộc vào hiệu lực của Hiến pháp, được ban hành trên cơ sở Hiến pháp và nhằm cụ thể hóa thực hiện Hiến pháp Không có quá trình cụ thể hóa

đó, thì những quy định của Hiến pháp sẽ khó khăn khi đi vào đời sống xã hội

Nguyên tắc trên là điều kiện bảo đảm hoạt động lập pháp, lập quy được đúng đắn, kịp thời, đúng thẩm quyền, thể hiện được ý chí và quyền uy của Nhà nước trong tổ chức và điều hành mọi hoạt động xã hội Trong quá trình đó, các

cơ quan nhà nước cấp dưới phải phục tùng cơ quan cấp trên, các văn bản do các cơ quan quản lý nhà nước cũng như của các cấp chính quyền địa phương ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, luật và không được trái với những văn bản của các cơ quan quản lý nhà nước cấp trên Để nguyên tắc này được thực hiện, một mặt, Nhà nước quan tâm hoàn thiện Hiến pháp - luật cơ bản của Nhà nước và là cơ sở của hệ thống pháp luật, mặt khác, tăng cường xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật để cụ thể hóa Hiến pháp, đưa Hiến pháp vào đời sống xã hội

c Thực hiện pháp luật là nguyên tắc bắt buộc chung đối với mọi ngưòi không có ngoại lệ

Một trong những đặc điểm của pháp luật là tính bắt buộc chung đối với mọi người, không có ngoại lệ Pháp luật phải được triệt để tuân theo và chấp hành nghiêm chỉnh, không cho phép một ngành, một cơ quan, hoặc một cá nhân nào đó tự cho phép mình không thực hiện những quy định của pháp luật khi mà những quy định đó đang còn có hiệu lực, chưa bị sửa đổi hoặc chưa bãi

bỏ Sự tuân theo và chấp hành đó là vô điều kiện Đặc biệt là sự chấp hành pháp luật từ phía các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và những người có chức vụ sẽ góp phần quan trọng trong việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Ngược lại, nếu các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và những người có chức vụ không tôn trọng, không chấp hành pháp luật sẽ dẫn đến sự phá vỡ

Ngày đăng: 30/05/2022, 16:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w