1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI tập NHÓM môn QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH tế xã hội chủ đề QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN đô THỊ

69 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy Hoạch Phát Triển Đô Thị
Tác giả Lê Thị Ngọc Hằng, Đỗ Thị Sâm, Nguyễn Anh Tú, Chu Đức Tấn Kiệt
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kế Hoạch Và Phát Triển
Thể loại bài tập nhóm
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 774,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm đô thị và điểm dân cư đô thị a Đô thị và nông thôn Theo Điều 3, Luật số 30/2009/QH12, “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

KHOA KẾ HOẠCH VÀ PHÁT TRIỂN

BÀI TẬP NHÓM

MÔN: QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

Chủ đề:

QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ

Lớp: Quy hoạch phát triển(121)_01 Giảng viên: PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng

Thành viên

Lê Thị Ngọc Hằng

Đỗ Thị Sâm Nguyễn Anh Tú Chu Đức Tấn Kiệt

Hà Nội - 2021

Trang 2

MỤC LỤC

I Tổng quan về đô thị và quy hoạch phát triển đô thị 1

1.1 Đô thị 1

1.1.1 Khái niệm đô thị và điểm dân cư đô thị 1

1.1.2 Đặc điểm của đô thị 2

1.1.3 Phân loại đô thị 2

1.1.4 Chức năng của đô thị 5

1.2 Quy hoạch phát triển đô thị 6

1.2.1 Khái niệm, mục tiêu, nhiệm vụ 6

1.2.2 Cơ sở xây dựng quy hoạch đô thị 8

1.2.3 Định hướng phát triển không gian đô thị 12

1.2.3.1 Những nguyên tắc cơ bản của sơ đồ định hướng phát triển không gian đô thị 12

1.2.3.2 Định hướng phát triển không gian đô thị tại Việt Nam 13

1.2.3.3 Cơ cấu chức năng đất đai phát triển đô thị 16

1.2.3.4 Phân vùng chức năng đất đô thị 17

1.2.3.5 Định hướng quy hoạch cải tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng 20

1.2.4 Quy hoạch xây dựng các khu chức năng trong đô thị 20

1.2.4.1 Quy hoạch xây dựng khu công nghiệp 20

1.2.4.2 Quy hoạch xây dựng khu kho tàng 24

1.2.4.3 Quy hoạch khu đất dân dụng 26

1.2.4.4 Quy hoạch khu trung tâm đô thị và hệ thống dịch vụ công cộng đô thị 31

1.2.4.5 Quy hoạch khu cây xanh 36

1.2.4.6 Quy hoạch hệ thống giao thông đô thị 39

II Thực trạng đô thị va quy hoạch phát triển đô thị tại Hà Nội 42

2.1 Tổng quan về đô thị tại Hà Nội 42

2.2 Quy hoạch các khu chức năng trong đô thị tại Hà Nội 43

2.2.1 Quy hoạch khu công nghiệp 43

2.2.2 Quy hoạch khu kho tàng 47

2.2.3 Quy hoạch đất dân dụng đô thị 48

Trang 3

2.2.4 Quy hoạch khu trung tâm và hệ thống dịch vụ công cộng đô thị 49

2.2.5 Quy hoạch cây xanh đô thị 54

2.2.6 Quy hoạch mạng lưới giao thông 57

III Định hướng giải pháp cho quy hoạch phát triển đô thị tại Hà Nội hiện nay 61

3.1 Định hướng chung quy hoạch đô thị 2021 – 2030 61

3.2 Giải pháp chung cho quy hoạch đô thị 2021 – 2030 62

3.2.1 Tổ chức các chương trình hành động cho từng loại quy hoạch 62

3.2.2 Huy động vốn đầu tư 62

3.2.3 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực 62

3.2.4 Giải pháp về khoa học, công nghệ, môi trường 62

3.2.5 Giải pháp quản lý nhà nước theo ngành, lãnh thổ 63

3.2.6 Giải pháp về cơ chế, chính sách 63

3.3 Giải pháp hoàn thiện từng khu chức năng trong quy hoạch đô thị 2021 – 2030 63

3.3.1 Đối với các khu công nghiệp kho tàng 63

3.3.2 Đối với đất dân dụng đô thị 64

3.3.3 Đối với khu vực trung tâm và hệ thống dịch vụ công cộng đô thị 64

3.3.4 Về mạng lưới giao thông 64

3.3.5 Khu vực cây xanh đô thị 65

Trang 4

I Tổng quan về đô thị và quy hoạch phát triển đô thị

I.1 Đô thị

I.1.1 Khái niệm đô thị và điểm dân cư đô thị

a) Đô thị và nông thôn

Theo Điều 3, Luật số 30/2009/QH12, “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.”

Nông thôn được hiểu là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thànhphố, thị xã, thị trấn và được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã.Nông thôn là danh từ để chỉ những vùng đất mà ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằngnông nghiệp

Phân biệt đô thị với nông thôn

Có mật độ dân số cao (tối thiểu 2000 người/km2 đối với các vùng miền núi,vùng cao, vùng xa, hải đảo có thể thấp hơn nhưng phải đảm bảo tối thiểu bằng 70%) quy

mô dân số tối thiểu 4000 người Ở miền núi thưa dân hơn tối thiểu là 2000 người

Là nơi có tỷ trọng phi nông nghiệp cao (tối thiểu 60%)

Dân số trong khu vực đô thị làm việc trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ là chủyếu

Có mật độ xây dựng cao: xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, kết cấu hạ tầng xãhội, mật độ xây dựng các khu công nghiệp hơn so với nông thôn Cho nên vấn đề về đấtđai, vấn đề biến động đô thị đặt ra với quy hoạch nó rất cao

Điểm dân cư đô thị thường ở vị trí trung tâm, trung tâm của cả nước như Hà Nội,thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm của miền, trung tâm của vùng, trung tâm của huyện làthị trấn, trung tâm của tỉnh là thị xã thành phố

- Nông thôn:

Mật độ dân số thấp

Trang 5

Đại bộ phận dân số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp.

Nông thôn đất đai không xáo trộn nên quy hoạch ở nông thôn không cấp thiết như quy hoạch đô thị

Nông thôn thường ở ngoại ô

b) Điểm dân cư đô thị và điểm dân cư nông thôn

Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi nôngnghiệp có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạtầng thích hơn

Điểm dân cư đô thị là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành của mộtvùng lãnh thổ nào đó, có thể là trung tâm của một quốc gia Điểm dân cư đô thị là nơi tậptrung hành chính của địa phương và là nơi tập trung giao lưu các bộ phận của sản xuất nhưđầu mối giao thông, đầu mối buôn bán, sản xuất công nghiệp tập trung…

Điểm dân cư nông thôn là nơi cư trú tập trung của các hộ gia đình gắn kết vớinhau trong sản xuất, sinh hoạt và các hoạt động xã hội khác trong phạm vi một khu vựcnhất định, được hình thành do điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa vàcác yếu tố khác

I.1.2 Đặc điểm của đô thị

Là nơi cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội phát triển liên thông, đồng bộ

Là nơi tập trung dân cư với mật độ rất cao

Là nơi lực lượng phát triển và tập trung rất cao

Là nơi có nếp sống, văn hóa của thị dân gắn liền với đặc điểm sinh hoạt, giao tiếp rất đặc thù khác với nông thôn

Là nơi dễ tập trung, phát sinh các tệ nạn xã hội là thử thách đối với công tác quảnlý

Có địa giới hành chính và điều kiện sinh sống của người dân khá chật hẹp so với địa bàn nông thôn

I.1.3 Phân loại đô thị

a) Phân loại theo quy mô Đô thị đặc biệt

2

Trang 6

Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc.

Đô thị loại đặc biệt phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

- Thủ đô và đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế , văn hóa, khoa học

kỹ thuật, đào tạo, du lịch , dịch vụ , đầu mối giao thông , giao lưu trong nước và quốc tế, cóvai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của cả nước

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 90% trở lên

- Cơ sở hạ tầng được xây dựng về cơ bản đồng bộ và hoàn chỉnh

- Quy mô dân số từ 5 triệu người trở lên

- Mật độ dân số bình quân từ 15000 người/km2 trở lên

Đô thị loại I

- Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa khoa học kỹ thuật , dulịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế , có vai trò thúc đẩy sự pháttriển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 85% trở lên

- Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh

- Quy mô dân số : Đô thị là thành phố trực thuộc trung ương: quy mô dân số toàn đôthị đạt từ 1.000.000 người trở lên, khu vực nội thành đạt từ 500.000 người trở lên; đô thị làthành phố thuộc tỉnh hoặc thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương: quy mô dân sốtoàn đô thị đạt từ 500.000 người trở lên, khu vực nội thành đạt từ 200.000 người trở lên

- Mật độ dân số bình quân từ 12000 người/km2 trở lên

Đô thị loại II

- Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật, dulịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, cóvai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnhvực đối với cả nước

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 80% trở lên

3

Trang 7

- Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoànchỉnh

- Quy mô dân số : Với đô thị trực thuộc Trung ương từ 800 nghìn người trở lên; với

đô thị trực thuộc tỉnh là từ 300 nghìn người trở lên

- Mật độ dân cư bình quân 10.000 người/km2 trở lên;

Đô thị loại III

- Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giaothông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xãhội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 75% trở lên

- Có cơ sở hạ tầng được xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh

- Quy mô dân số từ 150 nghìn người trở lên

- Mật độ dân cư 8.000 người/km2 trở lên;

Đô thị loại IV

- Là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học

kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triểnkinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng trong tỉnh;

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 70% trở lên

- Có cơ sở hạ tầng đã hoặc đang được xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh

- Quy mô dân số từ 50 nghìn người trở lên;

- Mật độ dân cư bình quân 6.000 người/km2 trở lên

Đô thị loại V

- Là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về chính trị, kinh tế, văn hoá và dịch

vụ, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một huyện hoặc một cụm xã;

- Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 65% trở lên

- Có cơ sở hạ tầng đã hoặc đang được xây dựng nhưng chưa đồng bộ và hoàn

chỉnh

- Quy mô dân số từ 4.000 người trở lên

- Mật độ dân số bình quân từ 2.000 người/km2 trở lên

Trang 8

Căn cứ vào các tiêu chí trên đây thì đô thị ở nước ta được xác định và phân loại như sau:

- Các thành phố trực thuộc trung ương phải là đô thị loại đặc biệt hoặc đô thị loạil;

- Các thành phố thuộc tỉnh phải là đô thị loại II hoặc đô thị loại IIl;

- Các thị xã thuộc tỉnh hoặc thuộc thành phố trực thuộc trung ương phải là đô thị loại III hoặc đô thị loại IV

- Các thị trấn thuộc huyện phải là đô thị loại IV hoặc loại V

b) Phân loại theo tính chất

Theo tính chất: dựa vào các nhân tố hình thành đô thị

- Đô thị công nghiệp

- Đô thị đầu mối giao thông

- Đô thị du lịch

- Đô thị tổng hợp

I.1.4 Chức năng của đô thị

- Chức năng kinh tế: Đây là chức năng chủ yếu của đô thị Sự phát triển kinh tế thịtrường đã đưa đến xu hướng tập trung sản xuất có lợi hơn là phân tán Chính yêu cầu kinh tế

ấy đã tập trung các loại xí nghiệp thành công nghiệp và cơ sở hạ tầng tương ứng, tạo ra thịtrường ngày càng mở rộng và đa dạng hóa Tập chung sản xuất kéo theo tập trung dân cư,trước hết là thợ thuyền và gia đình của họ tạo ra bộ phận chủ yếu của dân cư đô thị

- Chức năng xã hội: Chức năng này ngày càng có phạm vi lớn dần cùng với tăngquy mô dân cư đô thị Những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại… là những vấn đề gắn liền vớiyêu cầu kinh tế, với cơ chế thị trường, chức năng xã hội ngày càng nặng nề không chỉ vì tăngdân số đô thị mà còn về chính những nhu cầu về nhà ở, y tế, đi lại … thay đổi

- Chức năng văn hóa: Ở tất cả các đô thị đều có nhu cầu giáo dục và giải trí cao Do

đó ở đô thị cần có hệ thống trường học, du lịch, viện bảo tàng, các trung tâm nghiên cứu khoahọc ngày càng có vai trò lớn hơn

Trang 9

- Chức năng quản lý: tác động của quản lý nhằm hướng nguồn lực vào mục tiêukinh tế, xã hội, sinh thái và kiến trúc, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, vừa nâng cao đáp ứngnhu cầu cộng đồng, vừa quan tâm đến những nhu cầu chính đáng của cá nhân Do đó chínhquyền địa phương phải có pháp luật và quy chế quản lý về đô thị.

I.2 Quy hoạch phát triển đô thị

I.2.1 Khái niệm, mục tiêu, nhiệm vụ

b) Khái niệm

Quy hoạch đô thị là một khái niệm hay được dùng để chỉ các hoạt động kiểm soáthay tổ chức môi trường sống đô thị Các hoạt động này bao gồm bao hành luật, quy địnhkiểm soát phát triển; xây dựng và vận hành các bộ máy quản lý đô thị; đề ra các tiêu chí,lập và phê duyệt quy hoạch; thực hiện các chương trình đầu tư phát triển đô thị; nghiêncứu đô thị; đào tạo bộ máy nhân lực; trao đổi tranh luận về các vấn đề đô thị

Quy hoạch đô thị, còn gọi là quy hoạch không gian đô thị nghiên cứu có hệ thốngcác phương pháp để bố trí hợp lý các thành phần của đô thị, phù hợp với nhu cầu của conngười và điều kiện tự nhiên, đồng thời đề ra những giải pháp kỹ thuật để thực hiện cácphương pháp bố trí đó

Quy hoạch chung xây dựng đô thị còn được gọi là quy hoạch tổng thể xây dựng đôthị Nó xác định phương hướng nhiệm vụ cải tạo và xây dựng đô thị về phát triển khônggian, cơ sở hạ tầng và tạo lập môi trường sống thích hợp

có được những vị trí xây dựng có nhiều lợi thế trong sản xuất kinh doanh Từ đó dẫn đếnnhiều mâu thuẫn trong sản xuất, thậm chí cản trở lẫn nhau giữa các cơ sở sản xuất, giữasản xuất và sinh hoạt làm ảnh hưởng lớn đến môi trường đô thị

Trang 10

Quy hoạch xây dựng đô thị là công cụ tích cực và có hiệu quả nhất giải quyết mốibất hòa giữa các cơ sở sản xuất và các hoạt động của các thành phần kinh tế khác nhautrong đô thị cũng như quan hệ của nó với bên ngoài đô thị.

- Bảo đảm sự cân đối và thống nhất giữa các chức năng hoạt động trong và ngoài

đô thị

Đô thị ngày càng phát triển và mở rộng không gian các vùng ngoại ô, lấn chiếm đấtnông nghiệp và các vùng cảnh quan thiên nhiên khác Quy hoạch chung xây dựng đô thịđiều hòa sự phát triển của các bộ phận chức năng trong đô thị và các vùng ảnh hưởng

ở bên ngoài đô thị, nhằm bảo vệ môi trường tự nhiên, cảnh quan đô thị, bảo tồn các di tích

và an toàn cho đô thị có tính đến hậu quả của thiên tai và sự cố kỹ thuật khác có thể xảy ra

- Bảo đảm điều kiện sống, lao động và phát triển toàn diện của người dân đô thị

Quy hoạch xây dựng đô thị nghiên cứu các hình thức tổ chức cuộc sống và cơ cấuchức năng hoạt động của các bộ phận trong đô thị, nhằm tạo điều kiện cho con người cónhiều thuận lợi nhất trong cuộc sống mới ngày càng cao ở đô thị

Môi trường sống của dân cư đô thị là một trong những tiêu chí quan trọng để đánhgiá chất lượng của một đô thị Chính vì vậy quy hoạch xây dựng đô thị phải tạo ra một môitrường sống tốt nhất cho người dân đô thị trên cơ sở các điều kiện tự nhiên hiện có và cácthế mạnh, đặc điểm riêng của nền kinh tế, văn hóa, phong tục tập quán của từng đô thị

Môi trường sống của cư dân đô thị ở đây đó là sự tiện nghi của hạ tầng đô thị, tiện lợi trong đi lại, sự an toàn trong sinh hoạt và môi trường không khí trong lành,

7

Trang 11

- Tổ chức đời sống: tạo điều kiện tổ chức tốt cuộc sống và mọi hoạt động hàng ngàycủa người dân đô thị, tạo cơ cấu hợp lý trong phân bổ dân cư và sử dụng đất đô thị Tổ chứcviệc xây dựng các khu ở, khu trung tâm và dịch vụ công cộng, khu nghỉ ngơi giải trí cũngnhư việc đi lại, giao tiếp của người dân đô thị.

- Tổ chức không gian kiến trúc, cảnh quan và môi trường đô thị: Xác định đượchướng bố cục không gian kiến trúc, xác định vị trí và khối kiến trúc các công trình chủ đạo,xác định tầng cao, màu sắc và một số chỉ tiêu cơ bản trong quy hoạch

I.2.2 Cơ sở xây dựng quy hoạch đô thị

b) Tính chất của đô thị

Ý nghĩa của vấn đề xác định tính chất đô thị

Đô thị hình thành và phát triển do nhiều yếu tố ảnh hưởng Mỗi đô thị có một tínhchất riêng, tính chất này thay đổi theo từng thời kỳ Nó phụ thuộc vào sự phát triển củathành phố và các khu vực xung quanh Tính chất của đô thị nói lên vai trò, nhiệm vụ của

đô thị đối với các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của bản thân đô thị đó

Tính chất của đô thị có ảnh hưởng lớn đến cơ cấu nhân khẩu, bố cục đất đai, tổchức hệ thống giao thông và công trình phục công cộng v.v… nó còn ảnh hưởng tới hướngphát triển của thành phố Do đó, việc xác định đúng tính chất của đô thị sẽ tạo điều kiệnxác định đúng hướng phát triển phải có của đô thị, từ đó làm nền tảng cho việc định vị quyhoạch xây dựng phù hợp với nhu cầu hoạt động của đô thị trước mắt và lâu dài

Cơ sở để xác định tính chất đô thị

Để xác định tính chất của đô thị, cần phải tiến hành phân tích một cách khoa học các yếu tố sau:

- Phương hướng phát triển kinh tế của nhà nước

Phương hướng phát triển kinh tế của nhà nước bao hàm toàn bộ những yêu cầu vàchỉ tiêu đặt ra cho từng vùng chức năng trong phạm vi cả nước dựa trên những số liệu điềutra cơ bản và chiến lược phát triển kinh tế xã hội quốc gia nhằm mục đích tạo ra một hàihòa, cân đối của nền kinh tế quốc dân, tận dụng tối đa tiềm năng và sức lao động của cảnước Trong đó: tính chất, quy mô, hướng phát triển của đô thị trong vùng đã được xácđịnh và dự báo một cách cụ thể

Trang 12

- Vị trí của đô thị quy hoạch vùng lãnh thổ

Quy hoạch vùng lãnh thổ xác định mối quan hệ qua lại giữa các đô thị và các vùnglân cận Chính mối quan hệ về kinh tế, sản xuất, văn hóa và xã hội xác định vai trò của đôthị đối với vùng

Trong điều kiện chưa có quy hoạch vùng ổn định thì việc xác định tính chất đô thịphải dựa trên các số liệu điều tra cơ bản về tài nguyên và các điều kiện khác trong khu vực

và các vùng lân cận Thông qua đó cần thấy rõ mối quan hệ và nhiệm vụ của đô thị đối vớicác điểm kinh tế

- Điều kiện tự nhiên

Trên cơ sở đánh giá những khả năng về tài nguyên thiên nhiên, địa lý phong cảnh,điều kiện địa hình, có thể xác định những yếu tố thuận lợi nhất ảnh hưởng đến phươnghướng hoạt động về mọi mặt của thành phố Thế mạnh của đô thị về điều kiện tự nhiên làmột trong những điều kiện cơ bản hình thành và phát triển đô thị

Căn cứ vào đặc điểm tình hình và khả năng phát triển của đô thị, mỗi đô thị cómột tính chất riêng phản ánh vị trí, vai trò và tính chất khai thác ở đô thị đó về mặt kinh tế,chính trị, văn hóa xã hội và môi trường Trên cơ sở đó người ta thường phân thành các loại

đô thị có những tính chất riêng, ví dụ: đô thị công nghiệp, đô thị giao thông, đô thị hànhchính, đô thị du lịch…

Ví dụ về tính chất đô thị: Sơn Tây – đô thị văn hóa du lịch Cần phải bố trí bêntrong đô thị các công trình cho phù hợp với tính chất của nó (nhà ở, khách sạn, nơi vuichơi giải trí, công viên nghỉ ngơi, cây xanh; không bố trí cơ sở sản xuất, đặc biệt là các cơ

sở gây ô nhiễm)

b) Dân số đô thị

Dân số đô thị là động lực chính thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của

đô thị, là cơ sở để phân loại đô thị trong quản lý và xác định quy mô đất đai của đô thị, đểxác định khối lượng xây dựng nhà ở, công trình công cộng cũng như mạng lưới công trình

kỹ thuật khác Từ dân số đô thị người ta định ra các chính sách phát triển và quản lý củatừng kế hoạch đầu tư Do đó việc xác định quy mô dân số đô thị là một trong những

Trang 13

nhiệm vụ cơ bản nhất khi thiết kế quy hoạch đô thị Việc tính toán quy mô dân số đô thị chủ yếu là theo phương pháp dự đoán.

Cơ cấu, thành phần, dân cư đô thị

Để tiến hành xác định quy mô dân số đô thị trước tiên phải xác định được thành phần nhân khẩu của đô thị đó Cơ cấu dân cư đô thị có thể phân biệt như sau:

- Cơ cấu dân cư theo giới tính và lứa tuổi:

Mục đích của vấn đề này là để nghiên cứu khả năng tái sản xuất của dân cư, tạođiều kiện để tính toán cơ cấu dân cư trong tương lai Cơ cấu dân cư theo giới và lứa tuổithông thường được tính theo độ tuổi lao động Cơ cấu dân cư theo giới và lứa tuổi đượcthể hiện qua tháp dân số Đồ thị này cho phép quan sát được quy luật thay đổi dân cứ vềgiới tính, lứa tuổi cũng như lực lượng sản xuất

- Cơ cấu dân cư theo lao động xã hội ở đô thị

Dân cư Thành phố bao gồm 2 loại là nhân khẩu lao động và nhân khẩu lệ thuộc

* Nhân khẩu lao động

+ Nhân khẩu cơ bản: Bao gồm những người lao động ở các cơ sở sản xuất mangtính chất cấu tạo nên thành phố như cán bộ công nhân viên các cơ sở sản xuất công nghiệp,kho tàng, các cơ quan hành chính, kinh tế, văn hóa, xã hội và các viện nghiên cứu, đào tạov.v…

+ Nhân khẩu phục vụ: là lao động thuộc các cơ quan xí nghiệp và các cơ sở mang tính chất phục vụ riêng cho thành phố

Cả hai loại thực sự là lực lượng lao động chính của thành phố

* Nhân khẩu lệ thuộc: Là những người không tham gia lao động, ngoài tuổi laođộng: người già, trẻ em dưới 18 tuổi và những người tàn tật trong lứa tuổi lao động Tỷ lệnhân khẩu lệ thuộc tương đối ổn định, không phụ thuộc vào quy mô tính chất của thànhphố

Việc phân loại này được sử dụng để xác định quy mô dân số thành phố ở nhiều nước trên thế giới thông qua con đường thống kê, dự báo và cân bằng lao động xã hội.Tính toán quy mô dân số đô thị

Trang 14

Dân số đô thị ngày càng phát triển Nhịp tăng dân số đô thị nhanh hay chậm là do tốc độ phát triển của đô thị và các động lực phát triển đô thị mạnh hay yếu.

Tùy theo mức độ chính xác của các số liệu thu nhập được để vận dụng các quy luậttăng tự nhiên, tăng cơ học, phương pháp lập biểu đồ, phương pháp dự báo tổng hợp để tínhtoán quy mô dân số của một đô thị

Xác định quy mô hợp lý của một đô thị

Thực tế của sự phát triển đô thị thế giới cho thấy rằng quy mô thành phố quá lớnhoặc quá nhỏ đều có nhiều mặt không hợp lý Quy mô đô thị quá lớn gây ra nhiều hiệntượng xấu trong cuộc sống đô thị và môi trường đô thị bị ảnh hưởng nghiêm trọng Ngượclại, quy mô đô thị quá nhỏ thì không phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội và đời sống củanhân dân Do đó cần phải xác định một giới hạn nhất định về quy mô tối ưu của một đôthị Đây là một vấn đề phức tạp bởi vì quá trình hình thành và phát triển của một đô thị làmột quá trình liên tục nảy sinh nhiều mâu thuẫn với nhiều yếu tố khác Một đô thị có quy

mô hợp lý khi các điều kiện về kinh tế, văn hóa, xã hội và thiên nhiên cho phép đảm bảotốt nhất về các mặt tổ chức sản xuất, tổ chức đời sống, tổ chức không gian đô thị, cảnhquan và môi trường đô thị với những chi phí xây dựng và quản lý đô thị ít tốn kém nhất

c) Đất đai đô thị

Đất đai đô thị là một tài sản quý giá

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thànhphần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các

cơ sở kinh tế văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng Đất đai đô thị lại có giá trị to lớn dochức năng và tính chất sử dụng nó Ngày nay trong cơ chế thị trường việc khai thác đất đaicàng có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, nhất là khu vựcđất đai đô thị

Việc chuyển đổi chức năng sử dụng đất đai từ khu vực nông thôn sang đô thị giá đất đã tăng vọt Vì vậy việc đánh giá đúng mức giá trị đất đai cho từng mục tiêu sử dụng

ở đô thị là hết sức quan trọng và cần thiết đối với mỗi đồ án quy hoạch xây dựng phát triển

đô thị

Trang 15

Sử dụng đất đô thị

Đất đô thị là đất nội thành, nội thị xã, thị trấn được sử dụng để xây dựng nhà ở, trụ

sở cơ quan, các tổ chức, các cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích côngcộng, quốc phòng, an ninh và các mục đích khác

Đất ngoại thành, ngoại thị đã được quy hoạch chi tiết xác lập thành các dự án đầu tưxây dựng các khu công nghiệp, khu dân cư và các cụm công trình khác được cơ quan nhànước có thẩm quyền xét duyệt thì được quản lý theo quy định của đất đô thị

Việc quản lý và sử dụng đất đô thị phải được theo đúng quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất, dự án đầu tư được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt Chế độ sử dụngcác loại đất đô thị được quy định cụ thể trong các đồ án quy hoạch xây dựng đô thị vàđược ghi rõ trong chứng chỉ quy hoạch

d) Cơ sở kinh tế- kỹ thuật phát triển đô thị

Đây là một trong những tiền đề quan trọng nhất đối với mỗi đô thị Nó là động lựcphát triển chủ yếu của đô thị Tùy theo vị trí, chức năng của đô thị, quá trình công nghiệphóa sẽ kéo theo sự phát triển các ngành khác như giao thông, thương mại, du lịch, dịch vụkhoa học công nghệ v.v… Khả năng nâng cao tỷ lệ tăng trưởng kinh tế ở đô thị phụ thuộcvào tỷ lệ đầu tư vào các ngành kinh tế chủ đạo của đô thị, trước tiên là công nghiệp

Việc đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất và kỹ thuật ở đô thị phụ thuộc rất nhiềuvào chính sách khai thác và đầu tư ở đô thị đó Vì vậy mỗi đô thị cần phải tìm cho mìnhmột thế mạnh riêng, một sự thu hút đặc biệt vốn đầu tư vào các dự án khai thác để pháttriển đô thị trong cơ cấu quy hoạch phát triển đô thị qua việc xác định vị trí hợp lý của các

cơ sở kinh tế trong đô thị

Một đồ án quy hoạch hợp lý tạo điều kiện cho các cơ sở kinh tế kỹ thuật phát triển,ngược lại các cơ cấu kinh tế kỹ thuật ở đô thị lại là động lực chính thực thi ý đồ quy hoạchxây dựng phát triển đô thị

I.2.3 Định hướng phát triển không gian đô thị

I.2.3.1 Những nguyên tắc cơ bản của sơ đồ định hướng phát triển không gian đô thị

- Tuân thủ hướng chỉ đạo của quy hoạch tổng thể phát triển vùng

Trang 16

Mỗi đô thị phát triển đều cho sự gắn bó và quan hệ mật thiết với sự phát triển củatoàn vùng Tuy nhiên, quy hoạch tổng thể đô thị phải có những kiến nghị bổ sung sửa đổicác dự kiến và phương hướng quy hoạch vùng đã xác định Đặc biệt là trong trường hợpchưa có quy hoạch vùng thì việc định hướng phát triển của quy hoạch tổng thể đô thị phảithông qua quy hoạch liên đới vùng của đô thị đó.

Những kiến nghị điều chỉnh không nên vượt quá những giới hạn cho phép quyhoạch vùng đã xác định, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động thống nhất giữatrong và ngoài đô thị, hài hòa và hỗ trợ cho nhau phát triển

- Triệt để khai thác các điều kiện tự nhiên

Thiên nhiên là tài sản quý báu có sẵn, vì vậy việc khai thác điều kiện địa hình, khíhậu, môi trường là nhiệm vụ hàng đầu đối với mỗi đô thị

Những đặc trưng của cảnh quan thiên nhiên là cơ sở để hình thành cấu trúc khônggian đô thị Các giải pháp quy hoạch, đặc biệt là trong cơ cấu chức năng cần phải tập trungtriệt để các điều kiện tự nhiên nhằm cải thiện nâng cao hiệu quả của cảnh quan môi trường

đô thị và hình thành cho đô thị một đặc thù riêng hoà hợp với thiên nhiên ở địa phương đó

- Phù hợp với tập quán sinh hoạt truyền thống của địa phương và dân tộc

Đây là một yếu tố và cũng là một nguyên tắc cơ bản đối với mỗi đồ án quy hoạch

đô thị

- Kế thừa và phát huy thế mạnh của hiện trạng

Các cơ sở vật chất hiện có ở đô thị, đặc biệt là các khu ở, các công trình công cộng,

hệ thống trang thiết bị kỹ thuật đô thị, danh lam thắng cảnh, các di sản văn hóa và lịch sử

có giá trị vật chất tinh thần rất cao Cần phải kết hợp và phát huy mọi tiềm năng giữa cái

cũ và mới trong đô thị, giữa truyền thống và hiện đại, đặc biệt chú ý đến các công trìnhkiến trúc có giá trị, các khu phố cổ truyền thống

- Phát huy vai trò của khoa học kỹ thuật tiên tiến

Thiết kế quy hoạch tổng thể xây dựng đô thị phải đảm bảo phát huy tốt các mặt về

kỹ thuật đô thị, trang thiết bị KHKT hiện đại đặc biệt là giao thông đô thị Cần bảo đảmthực hiện các quy chế và chỉ tiêu về kinh tế kỹ thuật xây dựng, phải tuân thủ các đường

13

Trang 17

lối chính sách của Nhà nước và địa phương về xây dựng phát triển đô thị, hiện đại hóa cáctrang thiết bị kỹ thuật, phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc v.v… Trong thờiđại mới, khoa học kỹ thuật phát triển rất nhanh chóng Quy hoạch xây dựng đô thị phải cóđược những dự phòng thích đáng về kỹ thuật và đất đai, nhằm đáp ứng kịp thời nhữngbiến đổi trong quá trình phát triển đô thị.

- Tính cơ động và hiện thực của đồ án quy hoạch

I.2.3.2 Định hướng phát triển không gian đô thị tại Việt Nam

Phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị:

- Năm 2015, tổng số đô thị cả nước đạt khoảng trên 870 đô thị, trong đó, đô thị đặcbiệt là 02 đô thị; loại I là 9 đô thị, loại II là 23 đô thị, loại III là 65 đô thị, loại IV là 79 đô thị

và loại V là 687 đô thị

- Năm 2025, tổng số đô thị cả nước khoảng 1000 đô thị, trong đó, đô thị từ loại Iđến đặc biệt là 17 đô thị, đô thị loại II là 20 đô thị; đô thị loại III là 81 đô thị; đô thị loại IV là

122 đô thị, còn lại là các đô thị loại V

Thực tế, đến t6/2021, hệ thống đô thị trên toàn quốc có 867 đô thị Trong đó có 2

đô thị loại đặc biệt, 22 đô thị loại I, 32 đô thị loại II, 48 đô thị loại III, 89 đô thị loại IV và

674 đô thị loại V

b) Định hướng phát triển chung:

Hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050 phát triển theotừng giai đoạn bảo đảm sự kế thừa các ưu điểm của định hướng quy hoạch tổng thể pháttriển đô thị Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 1998,phù hợp với các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước theo từng thời kỳ và hộinhập kinh tế quốc tế

Định hướng phát triển chung không gian đô thị cả nước theo hướng bảo đảm pháttriển hợp lý các vùng đô thị hóa cơ bản giữa 6 vùng kinh tế - xã hội quốc gia, giữa miềnBắc, miền Trung và miền Nam; giữa phía Đông và phía Tây; gắn với việc phát triển cáccực tăng trưởng chủ đạo và thứ cấp quốc gia, đồng thời bảo đảm phát triển theo mạnglưới, có sự liên kết tầng bậc theo cấp, loại đô thị

Trang 18

Từ nay đến 2015 ưu tiên phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, các vùng đô thị lớn

và các khu kinh tế tổng hợp đóng vai trò là cực tăng trưởng chủ đạo cấp quốc gia; từ năm

2015 đến 2025 ưu tiên phát triển các vùng đô thị hóa cơ bản, giảm thiểu sự phát triển phântán, cục bộ; giai đoạn từ năm 2026 đến năm 2050 chuyển dần sang phát triển theo mạnglưới đô thị

b) Áp dụng lý thuyết vị trí trung tâm trong định hướng tổ chức không gian hệ thống đô thị cả nước:

- Mạng lưới đô thị

Mạng lưới đô thị quốc gia được phân theo các cấp, bao gồm: các đô thị trung tâmcấp quốc gia; các đô thị trung tâm cấp vùng liên tỉnh; các đô thị trung tâm cấp tỉnh; các đôthị trung tâm cấp huyện; các đô thị trung tâm cụm các khu dân cư nông thôn (gọi tắt là đôthị trung tâm cấp khu vực) và các đô thị mới

Mạng lưới đô thị cả nước được hình thành và phát triển trên cơ sở các đô thị trungtâm, gồm thành phố trung tâm cấp quốc gia, khu vực và quốc tế như: Thủ đô Hà Nội,thành phố Hồ Chí Minh, các thành phố Hải Phòng, Đà Nẵng, và Huế; thành phố trung tâmcấp vùng như: Hạ Long, Việt Trì, Thái Nguyên, Hòa Bình, Nam Định, Vinh, Nha Trang,Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột, Biên Hòa, Vũng Tàu và Cần Thơ; các thành phố, thị xã trungtâm cấp tỉnh, bao gồm 5 thành phố trung tâm quốc gia, khu vực và quốc tế, 12 đô thị làtrung tâm cấp vùng đã kể trên và các thành phố, thị xã tỉnh lỵ khác; các đô thị trung tâmcấp huyện, bao gồm các thị trấn huyện lỵ và các thị xã là vùng trung tâm chuyên ngànhcủa tỉnh và các đô thị trung tâm cấp tiểu vùng, bao gồm các thị trấn là trung tâm các cụmkhu dân cư nông thôn hoặc là các đô thị vệ tinh, đô thị đối trọng trong các vùng ảnh hưởngcủa đô thị lớn, cực lớn

- Các đô thị trung tâm các cấp được phân bố hợp lý trên cơ sở 6 vùng kinh tế xã hội quốc gia là:

+ Vùng trung du và miền núi phía Bắc, gồm 14 tỉnh: Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang,Cao Bằng, Lạng Sơn, Điện Biên, Sơn La, Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên,Bắc Giang, Hòa Bình và Phú Thọ; trong đó được phân thành các tiểu vùng nhỏ hơn, baogồm: vùng núi Đông Bắc Bộ; vùng núi Bắc Bắc Bộ và vùng núi Tây Bắc Bộ

Trang 19

+ Vùng đồng bằng Sông Hồng, gồm 11 tỉnh, thành phố: Bắc Ninh, Vĩnh Phúc,Quảng Ninh, thành phố Hà Nội, Hải Dương, thành phố Hải Phòng, Hưng Yên, Hà Nam, NamĐịnh, Thái Bình và Ninh Bình;

+ Vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, gồm 14 tỉnh, thành phố: ThanhHóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, thành phố Đà Nẵng,Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận;trong đó được phân thành các tiểu vùng nhỏ hơn, bao gồm: vùng Bắc Trung Bộ, vùng TrungTrung Bộ và vùng Nam Trung Bộ;

+ Vùng Tây Nguyên, gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và LâmĐồng;

+ Vùng Đông Nam Bộ, gồm 6 tỉnh, thành phố: Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh và Tây Ninh;

+ Vùng đồng bằng sông Cửu Long, gồm 12 tỉnh, thành phố: Đồng Tháp, VĩnhLong, Bến Tre, Trà Vinh, thành phố Cần Thơ, An Giang, Tiền Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng,Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau

c) Các đô thị lớn, cực lớn

Các đô thị lớn, đô thị cực lớn như Thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, HảiPhòng, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Cần Thơ …được tổ chức phát triển theo mô hìnhchùm đô thị, đô thị đối trọng hoặc đô thị vệ tinh có vành đai bảo vệ để hạn chế tối đa sựtập trung dân số, cơ sở kinh tế và phá vỡ cân bằng sinh thái Vùng Thủ đô Hà Nội, vùngthành phố Hồ Chí Minh là các vùng đô thị lớn, trong đó Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh làcác đô thị trung tâm

d) Các chuỗi và chùm đô thị

Tùy thuộc vào đặc điểm của điều kiện tự nhiên, các mối quan hệ và nguồn lực pháttriển, các chuỗi và chùm đô thị được bố trí hợp lý tại các vùng đô thị hóa cơ bản; dọc hànhlang biên giới, ven biển, hải đảo và trên các tuyến hành lang Đông – Tây, tạo mối liên kếthợp lý trong mỗi vùng và trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia, gắn phát triển kinh tế - xã hội vớibảo đảm an ninh quốc phòng

I.2.3.3 Cơ cấu chức năng đất đai phát triển đô thị

Trang 20

a) Chọn đất và chọn hướng phát triển

Chọn đất và chọn hướng phát triển đô thị trước tiên là phải làm sao cho mối quan

hệ hữu cơ bên trong và bên ngoài của các khu đất không ảnh hưởng lẫn nhau trong quátrình phát triển Sơ đồ cơ cấu chức năng tổng hợp có tính chất lý thuyết được biểu hiệntheo chức năng cơ bản của đô thị:

- Khu đất dân dụng

- Khu đất sản xuất công nghiệp

- Khu đất cây xanh nghỉ ngơi, giải trí

- Khu đất giao thông đối ngoại

Mối quan hệ cơ bản giữa các loại đất tạo thành một cơ cấu thống nhất, hài hòa và

hỗ trợ cho nhau cùng phát triển

b) Chọn mô hình phát triển đô thị

Mỗi loại đất có một nhu cầu riêng về địa hình, địa mạo, địa chất thuỷ văn, điều kiện

tự nhiên và kỹ thuật Vì vậy mỗi đô thị có thể lựa chọn cho mình một mô hình phát triểnkhông gian thích hợp với quy mô tính chất và giai đoạn phát triển của đô thị Mô hình pháttriển không gian đô thị rất phong phú, phụ thuộc rất lớn vào hệ thống giao thông chính của

đô thị - xương sống của mọi mặt hoạt động và định hướng phát triển lâu dài của đô thị.Tuỳ theo quy mô và điều kiện tự nhiên, đô thị phát triển theo một số dạng sau đây:

- Dạng tuyến và dải đô thị phát triển dọc các trục giao thông, theo nhiều hình thứckhác nhau dựa trên cơ sở lý luận chuỗi và tuyến, dải của Soria Y Mata, Le Corbusier vàMilutin…

- Đô thị phát triển theo dạng tập trung và mở rộng ra nhiều nhánh hình sao

- Dạng hướng tâm vành đai, đô thị phát triển theo hướng tâm và mở rộng ra nhiều hướng có các vành đai theo trung tâm nối liền các tuyến giao thông với nhau

- Đô thị phát triển hỗn hợp xen kẽ nhau bởi nhiều loại đơn vị đô thị khác nhau gắn với hệ giao thông kiểu hình sao và vành đai xen kẽ ở khu vực gần trung tâm

- Đô thị phát triển hình học với nhiều đơn vị khác nhau, xây dựng tập trung hoặc tuyến hay chuỗi

17

Trang 21

- Hình thức phổ biến nhất là đô thị phát triển theo ô bàn cờ và dạng tự do Một sốdạng hình học tam giác, lục giác hay đa giác hầu hết chỉ dừng lại ở dạng lý thuyết nhiều hơn

là trong thực tế xây dựng

I.2.3.4 Phân vùng chức năng đất đô thị

Phân vùng chức năng các loại đất trong đô thị phải dựa vào tính chất sử dụng và chỉtiêu, được chọn cho từng loại đất, sau khi đã đánh giá tổng hợp đầy đủ khả năng cho phép

II Đất ngoài khu dân dụng 40- 50%

1 Đất công nghiệp và kho tàng

2 Đất cơ quan bên ngoài và các trung tâm chuyên Thay đổi theo tính chất của

Trang 22

Các khu chức năng bao gồm:

- Khu đất công nghiệp: Đây là những khu vực sản xuất chính của đô thị được tổ

chức ở ngoài khu dân dụng thành phố Những khu đất công nghiệp, thủ công nghiệp xâydựng xen kẽ trong khu dân dụng do hiện trạng hoặc do yêu cầu đặc biệt về đầu tư xây dựngcũng tính vào đất sản xuất công nghiệp Các khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, cáckhu công nghiệp kĩ thuật cao là những hình thức tổ chức sản xuất mới có quy mô lớn và đồng

bộ, là động lực chính của sự phát triển đô thị Quy mô khu đất công nghiệp tùy theo vị trí vàkhả năng có thể phát triển ở đô thị đó

- Đất và kho tàng đô thị: Đất kho tàng chủ yếu bố trí ở ngoài khu dân dụng thành

phố Đất kho tàng là nơi dự trữ hàng hóa, vật tư, nhiên liệu phục vụ trực tiếp cho sản xuất vàsinh hoạt hàng ngày của đô thị và của toàn vùng hoặc toàn quốc Trừ một số khu vực khotàng mang tính chiến lược và dự trữ quốc gia được bố trí ở những vị trí đặc biệt theo yêu cầuriêng, các khu vực kho tàng khác ở đô thị đều nằm trong cơ cấu chung của đất đai quy hoạchphát triển đô thị Nói chung các kho tàng được bố trí gần các đầu mối giao thông và các khucông nghiệp

- Đất xây dựng các khu ở: Bao gồm đất đai xây dựng các khu nhà ở mới và cũ trong

thành phố Các khu ở bố trí thành các đơn vị ở khác nhau trong khu đất dân dụng thành phố

Nó gắn liền với mọi hoạt động khác ở đô thị và được bố trí tập trung xung quanh các khutrung tâm của đô thị

- Đất trung tâm các công trình công cộng: Bao gồm khu vực trung tâm chính trị của

đô thị và toàn bộ hệ thống trung tâm phụ khác ở các đơn vị đô thị thấp hơn như quận,phường, các trung tâm văn hóa, giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học v.v… Đất trung tâmthường được bố trí ở khu vực có bộ mặt cảnh quan đẹp nhất và nằm ở vị trí trung tâm củathành phố và các khu vực chức năng khác

- Đất cây xanh và thể dục thể thao: Bao gồm đất xây dựng các công viên văn hóa,

nghi ngơi, các khu TDTT thành phố, các vườn cây đặc biệt khác nhu công viên bách thú,bách thảo, công viên rừng, khu danh lam thắng cảnh thành phố Đất xây dựng còn được tính

cả các khu cây xanh cách li, mặt nước hồ, sông và khu đất trống…

Trang 23

- Đất giao thông đối ngoại: Bao gồm đất xây dựng các tuyến đường giao thông cao

tốc quốc gia, các tuyến đường sắt, các bến bãi, quảng trường giao thông, bến xe, ga đườngsắt, bến cảng, sân bay và ga sân bay v.v…

- Đất vùng ngoại ô: Bao gồm đất dự trữ phát triển đô thị, các khu vực xây dựng các

công trình đô thị đặc biệt về cơ sở hạ tầng kỹ thuật như trạm xử lý nước, trạm bơm nước, lọcnước v.v… Các khu quân sự bảo vệ đô thị, các khu quân sự khác không trực thuộc thành phố,các khu di tích, khu nghĩa trang, khu rừng bảo vệ v.v… Các khu đất này được bố trí ngoàithành phố nhưng có quan hệ mật thiết với mọi hoạt động bên trong thành phố Tất cả các khuđất trên được bố trí hài hòa với nhau trong cơ cấu tổ chức đất đai toàn thành phố

I.2.3.5 Định hướng quy hoạch cải tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị là một bộ phận rất quan trọng, nhằm bảo đảm cho đôthị phát triển hợp lý, giữ gìn môi trường đô thị trong lành, bảo đảm tốt đời sống sinh hoạtcủa người dân

- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị bao gồm:

- Chuẩn bị kỹ thuật đất đai;

- Cấp điện, hơi đốt;

- Thoát nước bẩn, nước mặn và vệ sinh môi trường

- Thông tin, bưu điện v.v…

Trong quy hoạch định hướng cải tạo và xây dựng hạ tầng kỹ thuật điều quan trọngnhất là phải xác định được vị trí các công trình đầu mối (nhà ga, bến bãi, các nguồn nước,các trạm xử lý nước bẩn, nước sạch…), phân loại và hệ thống hóa các mạng lưới kỹ thuật,mạng lưới giao thông Ngoài ra, cần có các biện pháp thực hiện trong từng giai đoạn vàtừng loại hình nhằm đảm bảo cho các hoạt động của các công trình kỹ thuật không bị giánđoạn trong cả quá trình xây dựng và phát triển đô thị

I.2.4 Quy hoạch xây dựng các khu chức năng trong đô thị

I.2.4.1 Quy hoạch xây dựng khu công nghiệp

20

Trang 24

a) Các loại hình khu công nghiệp

Xuất phát từ đặc điểm của sự tác động tương hỗ về công nghệ, sự ảnh hưởng củachúng đến quy hoạch tổ chức không gian đô thị cũng như chiến lược phát triển kinh tế xãhội, các khu công nghiệp tập trung được phân bố ra như sau:

- Tổ hợp công nghệ hoàn chỉnh dưới hình thức liên hợp hóa dây chuyền công

nghệ.

- Khu công nghiệp hỗn hợp đa ngành là khu công nghiệp tập trung hình thành trên

cơ sở 1 - 2 xí nghiệp chế tạo máy lớn và các nhà máy chuyên môn hóa có kèm theo các côngtrình phụ trợ khác bên cạnh

- Khu công nghiệp tổng hợp chuyên ngành bao gồm các xí nghiệp công nghiệp nhẹ

và thực phẩm cùng các công trình phụ trợ

- Khu công nghiệp tập trung hàng xuất khẩu gọi tắt là khu chế xuất, được hình

thành từ chiến lược phát triển kinh tế ở đây mục tiêu của nước chủ nhà và của các công tyxuyên quốc gia trùng hợp nhau

- Khu công nghiệp kỹ thuật cao - là khu công nghiệp tạo ra những sản phẩm kỹ

thuật cao tiêu thụ trên thị trường quốc tế

Ngoài các khu công nghiệp tập trung ở các đô thị lớn, còn có rất nhiều khu côngnghiệp địa phương ở các thành phố, thị xã, thị trấn Các khu công nghiệp này không lớnlắm, nhưng vai trò vị trí của nó có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và phát triển của đô thị,đến đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân, đặc biệt là các loại công nghiệp chế biếnđịa phương, các xí nghiệp thủ công đặc sản, các cơ sở sản xuất dịch vụ, giao thông vận tải,

cơ khí sửa chữa v.v… Các cơ sở sản xuất này có thể xây dựng tập trung vào một khu vực,nhưng cũng có thể phân tán ở nhiều nơi xen kẽ với khu ở hoặc các khu công cộng khác vớiđiều kiện không làm ảnh hưởng đến môi trường sống và sự phát triển của thành phố

b) Nguyên tắc bố trí khu công nghiệp trong đô thị

Các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp cần xây dựng tập trung thành từng cụm,khu công nghiệp và bố trí ở ngoài khu dân dụng thành phố Khu công nghiệp phải đặt ở

Trang 25

phía cuối hướng gió và cuối nguồn nước nếu ở gần sông Vị trí của khu công nghiệp phải bảo đảm yêu cầu về giao thông, yêu cầu về cung cấp nước, điện và các dịch vụ khác.

Đất xây dựng khu công nghiệp phụ thuộc vào tính chất quy mô của các xínghiệp công nghiệp được tính toán theo nhiệm vụ thiết kế của các xí nghiệp Trong trườnghợp chưa có danh mục công nghiệp cụ thể muốn dự tính đất đai khu công nghiệp (kể cảđất dự trữ), có thể căn cứ vào loại hình công nghiệp và loại đô thị để tính theo tiêu chuẩnsau:

- Đối với đô thị trung bình loại III: 25 - 30m2/ người

(Theo tiêu chuẩn quy phạm thiết kế quy hoạch xây dựng đô thị)

Đất đai các cụm xí nghiệp công nghiệp nhỏ, trung bình 10 - 25ha Các khu công nghiệp tập trung nên ở mức trên dưới 100 ha trong điều kiện hiện nay ở đô thị Việt Nam.Trong các cụm khu công nghiệp được phân chia thành các khu chức năng baogồm:

- Các khu đất xây dựng các xí nghiệp công nghiệp và các công trình phụ trợ của nhàmáy

- Khu vực trung tâm công cộng, hành chính, NCKH dịch vụ kỹ thuật, vườn hoa cây xanh bến bãi

- Hệ thống đường giao thông (đường ôtô, quảng trường giao thông, bến bãi xe côngcộng, xe tư nhân…) các công trình giao thông vận chuyển hàng hóa, nguyên vật liệu, đưa đóncông nhân đi lại v.v… Có thể có đường sắt chuyên dùng hoặc các bến cảng

- Các công trình kỹ thuật hạ tầng cơ sở cấp thoát nước, điện, hơi đốt, thông tin v.v… phục vụ cho cả cụm khu công nghiệp

- Các khu vực thu gom rác, chất thải, cây xanh cách ly và đất dự trữ phát triển

Các nhà máy, khu cụm công nghiệp có thải chất độc thì phải có khoảng cách ly thích hợp với khu ở và các khu vực xung quanh

Chiều rộng khoảng cách ly dựa theo bảng phân cấp độc hại của nhà máy như sau:

Trang 26

- Loại công nghiệp độc hại cấp I, khoảng cách ly nhỏ nhất 1000m.

- Loại công nghiệp độc hại cấp II, khoảng cách ly nhỏ nhất 300m

- Loại công nghiệp độc hại cấp III, khoảng cách ly nhỏ nhất 100m

- Loại công nghiệp độc hại cấp IV, khoảng cách ly nhỏ nhất 50m

Các khu công nghiệp đặc biệt có chất phóng xạ hoặc sản xuất các chất nổ, vũkhí,… nhất thiết không được bố trí trong phạm vi đô thị Vị trí các loại công nghiệp đặcbiệt đó phải được cấp có thẩm quyền cho phép và phải có điều kiện cách ly bảo vệ tốt

Ở các khoảng cách ly chủ yếu dùng biện pháp trồng cây xanh, bởi vì cây xanh

là loại hình tự nhiên có tác dụng tích cực nhất về nhiều mặt làm giảm khói, bụi, tiếng ồn,tốc độ gió cũng như cải tạo môi trường tự nhiên

Bố trí khu công nghiệp phải bảo đảm điều kiện liên hệ thuận tiện với nơi ở đểngười đi làm đến khu công nghiệp không vượt quá 30 km bằng các loại phương tiện giaothông của thành phố

c) Các hình thức bố trí khu công nghiệp trong quy hoạch xây dựng đô thị

Tùy theo địa hình và tính chất sản xuất của khu công nghiệp Bố trí khu công nghiệp trong quy hoạch đô thị có thể theo các hình thức sau đây:

- Bố trí khu công nghiệp về một phía so với khu dân dụng

Trang 27

Cả hai loại hình đất đai cùng phát triển về một hướng theo kiểu thành phố dải, pháttriển song song Phương án khác tuy bố trí về một phía, nhưng hướng phát triển lại ngượcchiều Phát triển cách này không hợp lý vì càng ngày càng xa nhau.

- Bố trí khu công nghiệp phát triển song song theo từng đơn vị đô thị hoặc từngdải

- Bố trí xen kẽ với khu dân dụng và phát triển phân tán xen kẽ theo nhiều hướng

I.2.4.2 Quy hoạch xây dựng khu kho tàng

Khái niệm: Kho tàng là nơi chứa các tài sản, vật tư, nhiên liệu, hàng hóa của Nhànước, của tư nhân, của các xí nghiệp sản xuất và dịch vụ công cộng trong thành phố.Vai trò: Trong quy hoạch xây dựng đô thị khu đất kho tàng chiếm vị trí khá quantrọng đối với việc điều hòa phân phối và dự trữ các tài sản phục vụ cho sản xuất và sinhhoạt của nhân dân đô thị và các vùng xung quanh

a) Các loại kho tàng và nguyên tắc bố trí

Tùy theo tính chất, chức năng và quản lý, kho tàng đô thị có thể phân thành các loạisau:

- Kho dự trữ quốc gia ngoài đô thị

Trang 28

Đây là loại kho đặc biệt do Nhà nước quản lý Loại kho này mang tính chất chiếnlược nhằm dự trữ những tài sản đặc biệt như lương thực, vũ khí, chất đốt để điều phối thịtrường và đề phòng những sự cố, tai nạn có thể xảy ra trong quá trình phát triển Loại khonày bố trí bên ngoài thành phố ở những vị trí đặc biệt an toàn, thuận lợi giao thông và cóđiều kiện bảo vệ tốt nhất.

- Kho trung chuyển

Là loại kho nhằm phục vụ cho việc chuyển giao hàng hóa tài sản trước khi phânphối vận chuyển đi nơi khác, đặc biệt từ phương tiện này sang phương tiện khác Khu đấtcủa loại kho này thường chiếm diện tích lớn, bố trí theo từng loại hình hàng hóa ở các khuđầu mối giao thông như ga tàu, bến cảng, sân bay

Trong khu vực kho thường bố trí các loại nhà kho, bãi hàng hóa, nhà hành chínhđiều hành, đường ô tô và bến bãi đỗ xe, bốc xếp, có thể có đường sắt chuyên dùng, cácloại thiết bị bốc xếp và các trang thiết bị cần thiết khác Kho trung chuyển phải bố trí ở vịtrí thuận lợi nhất về mặt giao thông nhằm giải tỏa nhanh chóng hàng hóa, tránh việc ứđọng quá lâu đặc biệt là ở các khu vực ga cảng

- Kho công nghiệp

Loại kho này chủ yếu phục vụ cho các hoạt động của nhà máy và của toàn khucông nghiệp Tùy theo yêu cầu của từng loại xí nghiệp sản xuất, loại kho này thường được

bố trí cạnh khu công nghiệp hoặc ngay trong khu công nghiệp tập trung bên cạnh các nhàmáy

- Kho vật liệu xây dựng, vật tư và nguyên liệu phụ

Phục vụ cho thành phố và các khu công nghiệp, loại kho này được bố trí thành từngcụm ở phía ngoài cạnh các đầu mối giao thông, liên hệ tốt với thành phố và dễ dàng trongđiều phối lưu thông hàng ngày

- Các kho phân phối

Lương thực, thực phẩm, hàng hóa - Các loại kho này thường được bố trí đều trongkhu dân dụng thành phố, trên những khu đất riêng có khoảng cách ly cần thiết đối với cáckhu ở và công cộng

- Kho lạnh

Trang 29

Đây là loại nhà kho đặc biệt chứa các hàng hóa dễ hỏng dưới tác động của thời tiết,chủ yếu là các loại thực phẩm đông lạnh Loại kho này có yêu cầu đặc biệt về kỹ thuật,được bố trí thành những khu vực riêng bảo đảm yêu cầu về bảo quản và bốc dỡ.

- Kho dễ cháy dễ nổ, kho nhiên liệu, kho bãi chứa chất thải rắn

Bố trí cách xa thành phố và có khoảng cách ly an toàn

b) Quy mô kho tàng

Đất đai dành cho kho tàng phụ thuộc vào địa điểm và chức năng của từng loại kho.Quy mô của kho tàng còn phụ thuộc vào khả năng lưu thông hàng hóa, thời gian lưu kho

và đặc điểm của từng loại hàng hóa

Kho tàng xây dựng trong đô thị phải đảm bảo mật độ xây dựng trên 60% Trừnhững loại kho đặc biệt chuyên dùng, diện tích chung đất đai kho tàng phục vụ cho đô thị

có thể tính toán như sau:

Trong nền kinh tế thị trường nhiều doanh nghiệp sản xuất nhà nước và tư nhân cóthể có những nhu cầu riêng về sản xuất kinh doanh và có những yêu cầu về đất đai khotàng riêng cho từng đơn vị Trong quy hoạch đô thị, có thể dành những khu vực tập trunghoặc phân tán bên cạnh các cụm kho do Nhà nước và thành phố quản lý cho các đối tượngtrên, cũng có thể dành như khu vực kho riêng cho từng đối tượng nếu xét thấy cần thiết

Mỗi khu vực kho tàng cần chú ý phải dành đất dự trữ phát triển và bảo đảm khoảngcách ly vệ sinh cần thiết giữa kho tàng với các khu ở và công trình công cộng

Nói chung, quy mô đất đai kho tàng phụ thuộc vào các yếu tố cơ bản sau đây:

- Tính chất và quy mô của thành phố

- Đặc điểm của các loại hàng hóa bảo quản

- Điều kiện tổ chức giao thông và phương thức điều hòa phân phối

- Hình thức bố trí kho và các trang thiết bị phục vụ cho các kho

I.2.4.3 Quy hoạch khu đất dân dụng

b) Các bộ phận chức năng trong khu đất dân dụng đô thị

Trang 30

Đất ở đô thị

Đất ở đô thị là phạm vi đất đai xây dựng các công trình nhà ở, các công trình dịch

vụ công cộng phục vụ cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày, các cửa hàng dịch vụ, các khu câyxanh, vườn hoa, sân chơi trẻ em trên các khu đất trống giữa các công trình

- Đất ở đô thị được giới hạn bởi hệ thống đường nội bộ, phân thành những lô đất có quy mô vừa đủ để đảm bảo cuộc sống an toàn thoải mái và bền vững

Đất xây dựng các công trình công cộng

Đất xây dựng các công trình công cộng trong khu dân dụng là những lô đất dànhriêng cho những công trình dịch vụ công cộng cấp thành phố, cấp quận, khu nhà ở về mặtvăn hoá, chính trị, hành chính, xã hội Các công trình này trực tiếp phục vụ cho sinh hoạthàng ngày của người dân đô thị

Mạng lưới đường và quảng trường

Đường trong khu dân dụng là mạng lưới giao thông nối các bộ phận chức năng vớinhau thành một thể thống nhất, đồng thời là ranh giới cụ thể phân chia các khu đất thànhcác đơn vị ở, các khu ở và khu công cộng

Không gian đường bao gồm: các tuyến đường cho xe chạy, các lối đi và các trangthiết bị như: vỉa hè, cây xanh, quảng trường Đây là những không gian công cộng dothành phố quản lý và xây dựng

Đất cây xanh – TDTT

- Đất cây xanh thường được bố trí ở các khu nhà ở, đơn vị ở, trung tâm quận, trungtâm thành phố Trong đơn vị ở cây xanh thường được bố trí gắn liền với hệ thống trường học,câu lạc bộ…

- Đất cây xanh khu dân dụng không tính đến các công viên văn hóa nghỉ ngơi, câyxanh trong các khu vườn đặc biệt phục vụ cho chức năng riêng như vườn thú, các dãy câyphòng hộ, rừng…

b) Cơ cấu tổ chức khu dân dụng

Đơn vị ở của khu dân dụng được chia như sau:

- Đối với đô thị đặc biệt và loại I gồm có: Nhóm nhà ở; đơn vị ở cấp phường, cấp khu nhà ở; cấp khu thành phố

Trang 31

- Đối với đô thị loại II gồm có: Nhóm nhà ở; Đơn vị ở cấp phường và khu nhà ở.

- Đối với đô thị loại III có: Nhóm nhà ở; Đơn vị ở cấp phường; Đơn vị khu nhà ở (có thể có hoặc không)

- Đối với đô thị loại IV, loại V chỉ có: Nhóm nhà ở hoặc đơn vị ở cấp phường tùy theo điều kiện cụ thể để bố trí

Đơn vị tổ chức quy hoạch cơ bản trong khu dân dụng đô thị

Là đơn vị ở cấp phường, tương đương với một đơn vị cấp tiểu khu nhà ở trướcđây

Coi phường là đơn vị trong cơ cấu tổ chức khu dân dụng là kế thừa những truyềnthống xây dựng khu ở của dân tộc Việt Nam không chỉ ở tên gọi mà còn là nội dung tổchức ăn ở sinh hoạt xã hội, lao động và nghỉ ngơi của người dân đô thị

Đơn vị ở là một tổng thể hài hoà các hoạt động trong đô thị có tính chất phù hợp với chức năng ở

Trang 32

Quy mô đất đai của đơn vị phường khoảng từ 16 - 100 ha, với số dân từ 4000 - 10.000 người hoặc thấp hơn, tuỳ theo tỷ lệ tầng cao xây dựng.

Khu nhà ở gồm một số phường xó điều kiện địa lý tương tự

Khu nhà ở được giới hạn bởi mạng lưới đường chính của đô thị và các ranh giới tựnhiên khác như sông ngòi, hồ hoặc kênh mương trong đô thị Trong khu nhà ở có các côngtrình công cộng cấp khu thành phố như trường PTTH, công trình văn hoá xã hội, thươngmại, y tế, hành chính, khu cây xanh, sân TDTT

Khu nhà ở là một đơn vị quy hoạch cơ bản đối với các thành phố lớn và cực lớn.Giới hạn của khu nhà ở có thể là các đường giao thông chính của đô thị, khoảng từ 600 -

800 - 1000m Trung bình 80 - 150 ha Trong phạm vi đất đai này ngoài các công trình dịch

vụ công cộng khu ở còn có thể bố trí các cơ quan, trường học, các cơ sở sản xuất nhỏkhông độc hại, các xí nghiệp, thủ công nghiệp…

Cơ cấu tổ chức khu dân dụng

Đơn vị ở trong cấu trúc khu dân dụng

* Nhóm nhà ở:

Theo quan điểm mới thì đơn vị nhỏ nhất tương đương với một tổ dân phố hiện nay

ở đô thị Việt Nam Nhóm nhà ở không có giới hạn quá chặt chẽ về quy mô dân số Ở đây

Trang 33

chủ yếu là dựa trên cơ sở tổ chức không gian của một lô phố hay một ngõ phố để xác định nhóm nhà ở, nói một cách khác là quan hệ hàng xóm.

Đất đai của nhóm nhà ở chủ yếu là đất xây dựng nhà ở các loại Ở đây chủ yếu là không gian cá thể và một số không gian xã hội nhỏ nhất trên đường phố hoặc trong lô phố

Quy mô của nhóm nhà ở có diện tích 4 - 5 ha và được giới hạn bởi các đường nội

bộ trong khu ở, với khoảng cách giữa các đường từ 150 - 200m Trung tâm công cộng của

nó thường là một nhà trẻ, ngoài ra còn có các quầy dịch vụ nhỏ, cửa hàng ăn uống, giảikhát, ki ốt bán thực phẩm, dịch vụ nhỏ vườn cây, sân chơi nhỏ Một đơn vị ở có thể có từ

4 - 6 nhóm nhà ở

* Đơn vị ở (đơn vị ở cấp phường)

- Đơn vị ở là đơn vị hành chính cấp phường (nếu nhỏ có thể 1 - 3 đơn vị ở/1phường) Nó được giới hạn bởi hệ thống giao thông nội bộ khu ở với bán kính 400 - 500m(diện tích đất khoảng 16 - 100ha)

- Mỗi đơn vị ở cấp phường có thể chia ra nhiều đơn vị ở nhỏ Nhóm nhà ở trong cơcấu quy hoạch xây dựng khu dân dụng, các tiểu khu trước đây dựa vào cấu trúc của hệ thốngphục vụ kiểu tầng bậc, thường chia theo 3 cấp:

Trang 34

c) Một số chỉ tiêu cơ bản trong khu dân dụng

Dựa vào chức năng sử dụng, đất dân dụng được phân thành 4 loại cơ bản

Các thành phần đất đai này có tỷ lệ tương quan với nhau do điều kiện tự nhiên chiphối và chỉ tiêu lựa chọn

Chỉ tiêu cân bằng đất đai khu dân dụng

I.2.4.4 Quy hoạch khu trung tâm đô thị và hệ thống dịch vụ công cộng đô thị

Về mặt lý luận quy hoạch xây dựng đô thị vẫn tồn tại hai khái niệm: Khu Trungtâm thành phố hay gọi là "Trung tâm đô thị" và khu Trung tâm dịch vụ công cộng đô thịhay "Trung tâm dịch vụ cấp đô thị"

Khái niệm "Khu Trung tâm đô thị" có tính chất chỉ vị trí khu đất trung tâm đô thị,nơi kế thừa các di tích lịch sử hình thành đô thị, nơi có mật độ xây dựng tập trung cao vềnhà ở có trang thiết bị hiện đại với các công trình công cộng về hành chính, văn hóa,thương mại, dịch vụ công cộng v.v…

Ngày đăng: 30/05/2022, 16:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

hình b b in thay đi ổ d in tích đt nông nghi p gi m sút ả - BÀI tập NHÓM môn QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH tế   xã hội chủ đề QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN đô THỊ
hình b b in thay đi ổ d in tích đt nông nghi p gi m sút ả (Trang 13)
- Hình thức phổ biến nhất là đô thị phát triển theo ô bàn cờ và dạng tự do. Một số dạng hình học tam giác, lục giác hay đa giác hầu hết chỉ dừng lại ở dạng lý thuyết nhiều hơn là trong thực tế xây dựng. - BÀI tập NHÓM môn QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH tế   xã hội chủ đề QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN đô THỊ
Hình th ức phổ biến nhất là đô thị phát triển theo ô bàn cờ và dạng tự do. Một số dạng hình học tam giác, lục giác hay đa giác hầu hết chỉ dừng lại ở dạng lý thuyết nhiều hơn là trong thực tế xây dựng (Trang 25)
c) Các hình thức bố trí khu công nghiệp trong quy hoạch xây dựng đô thị Tùy theo địa hình và tính chất sản xuất của khu công nghiệp - BÀI tập NHÓM môn QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH tế   xã hội chủ đề QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN đô THỊ
c Các hình thức bố trí khu công nghiệp trong quy hoạch xây dựng đô thị Tùy theo địa hình và tính chất sản xuất của khu công nghiệp (Trang 30)
Cả hai loại hình đất đai cùng phát triển về một hướng theo kiểu thành phố dải, phát triển song song - BÀI tập NHÓM môn QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH tế   xã hội chủ đề QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN đô THỊ
hai loại hình đất đai cùng phát triển về một hướng theo kiểu thành phố dải, phát triển song song (Trang 31)
- Bố trí theo mạng cây xanh tự do kết hợp với các trục hình học trong cơ cấu quy hoạch phát triển đô thị - BÀI tập NHÓM môn QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH tế   xã hội chủ đề QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN đô THỊ
tr í theo mạng cây xanh tự do kết hợp với các trục hình học trong cơ cấu quy hoạch phát triển đô thị (Trang 48)
đường khu vực, đường khu nhà ở…) khó thích hợp với điều kiện địa hình phức tạp, chỉ có thể sử dụng được ở những khu vực có địa hình bằng phẳng. - BÀI tập NHÓM môn QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH tế   xã hội chủ đề QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN đô THỊ
ng khu vực, đường khu nhà ở…) khó thích hợp với điều kiện địa hình phức tạp, chỉ có thể sử dụng được ở những khu vực có địa hình bằng phẳng (Trang 50)
Đồng thời, việc xây dựng, hình thành các tuyến đường vành đai lớn (như vành đai 2; 2.5; 3; 3.5,…) và các trục hướng tâm lớn (đại lộ Giải Phóng – Lê Duẩn, Nguyễn Trãi – Tây Sơn – Nguyễn Lương Bằng, Lê Văn Lương – Láng Hạ - Giảng Võ,…) làm cơ sở để phân chi - BÀI tập NHÓM môn QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH tế   xã hội chủ đề QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN đô THỊ
ng thời, việc xây dựng, hình thành các tuyến đường vành đai lớn (như vành đai 2; 2.5; 3; 3.5,…) và các trục hướng tâm lớn (đại lộ Giải Phóng – Lê Duẩn, Nguyễn Trãi – Tây Sơn – Nguyễn Lương Bằng, Lê Văn Lương – Láng Hạ - Giảng Võ,…) làm cơ sở để phân chi (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w