1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng lý thuyết chương 6 giao tiếp nhân sự để giải quyết tình huống sau

33 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử Dụng Lý Thuyết Chương 6 Giao Tiếp Nhân Sự Để Giải Quyết Tình Huống
Tác giả Nguyễn Thảo Ly, Bùi Mai Chi, Nguyễn Thúy Hoài, Đinh Thị Ánh Tuyết, Vũ Tuấn Dương, Vongdueon Xaymani
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tâm Lý Học Lao Động
Thể loại bài tập nhóm
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 79,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm giao tiếp nhân sự Giao tiếp nhân sự là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích traođổi nhận thức, tư tưởng, tình cảm vốn sống, kinh nghiệm cá nhân hoặc xã

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

BÀI TẬP NHÓM HỌC PHẦN: TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG Lớp tín chỉ: Tâm lý học lao động (221)_01

NHÓM 4

Trang 2

Sử dụng lý thuyết chương 6: giao tiếp nhân sự để giải quyết tình huống sau.

Đề án 135 của Chính phủ là đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ởnước ngoài hoặc đào tạo tại các cơ sở trong nước theo hình thức liên kết với nước ngoài donước ngoài cấp bằng Đối tượng ưu tiên của Đề án bao gồm lãnh đạo, quản lý đương chức;cán bộ nguồn và cán bộ trẻ tài năng Học viên tham gia chương trình đào tạo sẽ được tàitrợ toàn bộ chi phí như học phí, sinh hoạt phí, phương tiện đi lại,…

Tuấn và Bích là 2 cán bộ nguồn trong diện quy hoạch của cơ quan Tuấn năm nay

34 tuổi, là một người năng động, đã có vợ và 1 con gái Trong công việc, anh là người cóchuyên môn tốt, sắc sảo, thành thạo tiếng Anh Mặc dù tính tình hơi nóng nảy nhưng anhđược lãnh đạo đánh giá cao về hiệu quả công việc

Bích năm nay 37 tuổi, đã có chồng và 2 con Tuy không sắc sảo như Tuấn nhưngBích là một người chăm chỉ, chắc về chuyên môn, có mối quan hệ tốt với mọi người.Bích cũng thành thạo tiếng Anh và được đánh giá cao về kinh nghiệm công tác

Vì nằm trong diện quy hoạch nên cả Bích và Tuấn đều mong muốn được đào tạobài bản để nâng cao trình độ của bản thân và chuẩn bị cơ hội cho sư thăng tiến trong thờigian tới Từ trước tới nay, hai người vẫn có quan hệ đồng nghiệp tốt Mới đây, cơ quan có

1 chỉ tiêu đi đào tạo thạc sĩ theo đề án 165 với các yêu cầu và lợi ích cụ thể như sau:

Yêu cầu: dưới 40 tuổi, thành thạo tiếng Anh, có chuyên môn nghiệp vụ tốt

Địa điểm học: học viên được lựa chọn đi học tại nước ngoài hoặc học trong nước theo chương trình liên kết đào tạo giữa Việt nam với một trường đại học nước ngoài có uy tín

Học viên được tài trợ toàn bộ cho quá trình học tập và được cơ quan tạo mọi điều kiện về thời gian để hoàn thành khóa học

Lợi ích của khóa học là rất rõ ràng với cả hai người Tuy nhiên, chỉ tiêu lại chỉ có một Lãnh đạo cũng đã trao đổi vấn đề này với cả Tuấn và Bích vì bản thân lãnh đạo cũng rất phân vân trong việc chọn đối tượng đi học

Trang 3

1.LỜI MỞ ĐẦU 2

Trang 4

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com

Trang 5

1 LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời đại hội nhập ngày nay, giá trị của người lao động được thể hiện qua

những ka năng, những tiêu chuẩn công việc hoàn toàn mới Trong đó, ka năng lãnh

đạo và phối hợp làm việc nhóm ngày càng trở nên quan trọng Giao tiếp lại là một

phương thức tồn tại để giúp ta có thể rèn luyện tốt những ka năng ấy

Qua thực tế những nghiên cứu về giao tiếp rất đa dạng và phong phú, bao trùm lênmột phạm vi tương đối rộng, từ lý luận đến những nghiên cứu thực nghiệm, xuấtphát từ nhiều quan điểm khác nhau Trong cuộc sống hàng ngày luôn tồn tại các mốiquan hệ giao tiếp, vì mỗi con người là tổng thể các mối quan hệ xã hội Thực ra khinói tới giao tiếp người ta hay nghĩ tới câu nói “ Lời nói chẳng mất tiền mua Lựa lời

mà nói cho vừa lòng nhau” Nhưng để kể ra thì giao tiếp không chỉ là lời nói qua lạigiữa các cá nhân, mà còn là ánh mắt, cử chỉ, từng điệu bộ, Đôi khi chỉ hai mắtchạm nhau, ta đã có thể hiểu đối phương muốn gì và cần gì Hoặc đôi khi, đơn giảnhơn, người ta chỉ cần im lặng ngồi cạnh nhau- cũng là một loại giao tiếp Cũng cóloại giao tiếp chỉ là lắng nghe Chúng ta đã từng biết hơn 1 trăm năm trước, nhàphân tâm học Sigmund Freud đã thay đổi cách trị liệu tâm lý truyền thống của cácbác sĩ tâm thần Thay vì đưa thuốc và scan não đại lại, ông khuyến khích bệnh nhâncủa mình nằm êm ái trên một chiếc ghế dài và lắng nghe họ chia sẻ từng dòng suynghĩ đang chạy loanh quanh trong đầu họ ở khoảnh khắc hiện tại

Ông sẽ ngồi ở một góc nào đó không phiền đến tầm quan sát của họ, nơi mà họ khôngthấy được sự có mặt của ông nhưng vẫn có thể cảm nhận được sự tồn tại của ông nơi đó,một cách để ông không làm phiền đến dòng suy nghĩ của các bệnh nhân

Ông dùng một phương pháp trị liệu chuyên nghiệp và đạo đức, ông tránh xa các lờikhuyên nhủ đầy định kiến hay là trách móc, chỉ trích họ Ông dùng một cách giao tiếp,một phương pháp trị liệu khác, để có thể bày tỏ sự tôn trọng và tâm huyết của mình

Trong môi trường công sở nhiều mối quan hệ phức tạp giữa cấp trên và cấp dưới, giữanhững đồng nghiệp với nhau, giao tiếp trở thành vấn đề vừa khó vừa dễ Bởi lẽ mỗi người

có một tính cách khác nhau, chúng ta không thể làm hài lòng tất cả mọi người, nhưng giaotiếp uyển chuyển lại làm ta có thể hòa đồng với tất cả mọi người

Trang 6

Đặc biệt ở Việt Nam hiện nay , với xu hướng toàn cầu hóa ngày càng phát triển thì giaotiếp phải có sự thay đổi sao cho phù hợp với môi trường nhân sự cạnh tranh gay gắt khôngchỉ giữa những người cùng nói một thứ tiếng mà cả với những người có quốc tịch khácnhau Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học ka thuật và công nghệ thông tin cùng với áp lựckhách hàng, chất lượng nguồn nhân lực tăng lên,… thì vấn đề giao tiếp trong nhân sự đóngvai trò quan trọng trong sự thành công của một doanh nghiệp nói riêng và của các nhà lãnhđạo doanh nghiệp nói chung Giao tiếp không đơn thuần chỉ là nói cho hay, nói cho đúng

mà giao tiếp còn bao gồm rất nhiều khía cạnh từ ngoại hình, phong thái đến cách ứng xửtrong nhiều tình huống và đối tượng khác nhau Hẳn ai cũng đã từng biết đến câu chuyệnmột bạn nhân viên đi ký hợp đồng với khách hàng, người tối tác kia lại uống nhầm cốcnước của bạn ấy Khi phát hiện ra mình uống nhầm, người đối tác đã xin lỗi, bạn nhânviên đó không trả lời là “Không sao ạ” mà câu trả lời của bạn là “Cốc nước ấy em lấy choanh mà” Và bạn có thể thấy, giao tiếp không hẳn là cần đúng, mà cần phù hợp với tìnhhuống

Xuất phát từ những cơ sở lý luận và thực tiễn yêu cầu cuộc sống nói trên, nhóm em lựachọn đề tài : Sử dụng lý thuyết chương 6 là giao tiếp nhân sự để giải quyết tình huống nêutrên

2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG

2.1 Khái niệm giao tiếp nhân sự

Giao tiếp nhân sự là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích traođổi nhận thức, tư tưởng, tình cảm vốn sống, kinh nghiệm cá nhân hoặc xã hội, ka năng kaxảo nghề nghiệp, để tạo nên ảnh hưởng tác động qua lại với nhau nhằm điều chỉnh và phốihợp các hành vi phù hợp với các chuẩn mực trong xã hội

2.2 Bản chất của giao tiếp nhân sự

Giao tiếp với tư cách là sự tiếp xúc tâm lý giữa những con người trong xã hội là quá trình

bộ lộ cái tôi của mỗi cá nhân ra bên ngoài xã hội

Cái tôi là kết quả của phát triển tâm lý của cá nhân và nó được chi phối bởi 3 nguồn nănglượng đó là: cái nó, cái siêu tôi, cái tôi

Trang 7

=> Cái tôi luôn bị giằng xé bởi cái nó và cái siêu tôi.

2.3 Các yếu tố tham gia vào quá trình giao tiếp nhân sự

-Có 6 yếu tố tham gia vào quá trình gia:

Một là mục đích giao tiếp: Mục đích giao tiếp là cái đích mà mỗi người

trong giao tiếp cần đạt được

Hai là nội dung giao tiếp: Nội dung giao tiếp thể hiện ở thông tin cần truyền

đạt cho đối tượng giao tiếp để họ hiểu được ý đồ của mỗi cá nhân Nội dung thể hiện qua ý nghĩa của các thông tin truyền đi và phương tiện truyền tin theo sự sắp p nhất định để đạt được mục đích giao tiếp

Ba là phương tiện giao tiếp: Phương tiện giao tiếp là công cụ chứa đựng

thông tin cần truyền đi như: lời nói, chữ viết, điệu bộ, cử chỉ, hành vi Trong thời đại ngày nay còn nhiều loại phương tiện truyền thông tin hiện đạinhư: ảnh, video, tranh, vô tuyến truyền hình

Bốn là hoàn cảnh giao tiếp: Hoàn cảnh giao tiếp là toàn bộ các điều kiện

môi trường xung quanh giao tiếp như không gian, thời gian, cự li, khoảng cách, bối cảnh tự nhiên, xã hội, đây là các yếu tố khách quan bên ngoài chi phối quá trình giao tiếp

Trang 8

Năm là kênh giao tiếp: Kênh giao tiếp là các đường liên lạc dẫn và tiếp nhận

tin như: mắt, tai, xúc giác sờ mó, cầm nắm, nếm, ngửi đưa vào các kênh giao tiếp mà người giao tiếp cần chuẩn bị nội dung giao tiếp sao cho ngắn gọn, cụ thể, rõ ràng để đạt được mục đích giao tiếp

Sáu là quan hệ giao tiếp: Quan hệ giao tiếp là tương quan về vai trò và vị trí

tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp giữa đối tượng và chủ thể giao tiếp

2.4 Chức năng của giao tiếp nhân sự

Để thấy rõ chức năng của giao tiếp, chúng ta xem xét giao tiếp dưới hai góc độ sau:

-Thứ nhất xét dưới góc độ là một phạm trù Tâm lý học: Giao tiếp với tư cách là

phạm trù Tâm lý học có các chức năng cơ bản sau đây:

+Chức năng định hướng hoạt động: Khi giao tiếp với nhau, con người xác lập hướng hoạt

động của mình Thực chất của sự định hướng trong giao tiếp là khả năng thăm dò để xácđịnh mức độ nhu cầu, thái độ, tình cảm, ý nghĩa, thiên hướng của đối tượng giao tiếp, nhờ

đó mà chủ thế có được những đáp ứng kịp thời, phù hợp với nhiệm vụ, mục đích giao tiếpđặt ra Sự thăm đò này nhiều khi không dễ dàng, vì những điều mà chủ thể định thăm dòthường là tiềm ẩn, hoặc hay thay đổi, hoặc sự biểu hiện bên ngoài không tương thích vớithực chất bên trong Sự định hướng chính xác chỉ khi chủ thể nắm vững được nghệ thuậtgiao tiếp, tạo ra bầu không khí thân thiện, cởi mở, hiểu biết lẫn nhau giữa chủ thể và kháchthể giao tiếp

+Chức năng phản ánh nhận thức: Đây là chức năng thực hiện mục đích giao tiếp, nó bao

gồm quá trình thu nhận và xử lý thông tin Để thu nhận thông tin, con người thường sửdụng miệng nói, tai nghe, mắt nhìn, tay ra hiệu Đế xử lý thông tin con người thường sửdụng các phép biện chứng như: phân tích, tổng hợp, phán đoán, suy lý, khái quát hóa, cụthể hóa, trừu tượng hoá Trên cơ sở kết quả thu nhận và xử lý thông tin, kết hợp với trithức, hiểu biết, kinh nghiệm và vốn sống, con người tiếp nhận được bản chất đích thực của

sự vật, hiện tượng trong giao tiếp

+Chức năng đánh giá và điều chỉnh: Dựa trên kết quả nhận thức, chủ thể đánh giá thái độ,

tình cảm của đối tượng giao tiếp từ đó, chủ thể và khách thể tự điều chỉnh hành vi,

Trang 9

thái độ của mình cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và không khí tâm lý khi giao tiếp,nhằm làm cho giao tiếp đạt mục đích và hiệu quả cao.

-Thứ hai xét dưới góc độ là một hoạt động của tổ, đội: Giao tiếp với tư cách là sự

trao đổi quan hệ giữa các thành viên tổ, đội có các chức năng cơ bản sau:

+Chức năng liên kết: Nhờ có giao tiếp mà con người liên kết, hiệp đồng, hợp tác được với

nhau trong công việc Để tránh cảm giác bị đơn lẻ, để tăng thêm cảm giác an toàn, bănggiao tiếp con người đã gắn bó, đoàn kết với nhau trong cuộc sống

+Chức năng hòa nhập: Đây là sự hòa nhập, sự tham gia của các cá nhân vào tổ đội xã hội.

Qua giao tiếp con người thấy được minh là thành viên của tổ, đội, có nghĩa vụ, tráchnhiệm với tổ, đội và được hưởng mọi quyền lợi như các thành viên khác trong tổ, đội Họchia sẻ ngọt bùi, đồng cam cộng khổ với tổ, đội theo khả năng của mình Mặt khác chính

tố, đội xã hội lại tác động không nhô lên nhân cách, thái độ, hành vi của mỗi thành viên.Những quy định, những đòi hỏi của tổ, đội sẽ chi phối các hoạt động riêng tư của mỗithành viên trong tổ, đội Trong một chừng mực nào đó, chức năng hòa nhập còn chứađựng cả đối lập và mâu thuẫn của các thành viên trong tổ, đội với nhau Chức năng đối lập

đã nói lên tính phong phú, phức tạp của hoạt động giao tiếp trong tổ, đội

-Thứ ba xét trên giác độ trao đổi thông tin: Giao tiếp với tư cách trao đổi thông tin

có các chức năng cơ bản sau (theo Jakobson nhà ngôn ngữ học):

+Chức năng nhận thức thế hiện ở những thông tin nhận thức rõ ràng, rành mạch, ngắn

gọn, cụ thể

+Chức năng cảm xúc thể hiện ở không khí giao tiếp thoải mái, hình thành xúc cảm tốt đẹp,

tạo niềm tin và hy vọng ở nhau

+Chức năng duy trì sự liên tục thể hiện ở không có khoảng trống trong giao tiếp, xen kẽ

những giao tiếp chính là những giao tiếp phụ như: hỏi thăm nhau, kể chuyện vui, hài

+Chức năng thơ mộng thế hiện sự thi vị, kích thích trí tưởng tượng phong phú, và xúc cảm

thẩm ma trong giao tiếp

Trang 10

+Chức năng siêu ngôn ngữ thể hiện ở sự lựa chọn và sử dụng câu, từ chính xác, sâu sắc,

gây ấn tượng mạnh mẽ

+Chức năng quy chiếu thể hiện ở sự thu phục nhân tâm của giao tiếp nhằm giải quyết

đúng những vấn đề mà cả chủ thể lẫn khách thể giao tiếp đang mong đợi

2.5 Phân loại giao tiếp nhân sự

2.5.1 Căn cứ vào sự có mặt hay vắng mặt của chủ thể và đối tượng trong một thời điểm nhất định

Một là giao tiếp trực tiếp: Giao tiếp trực tiếp là sự tiếp xúc giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp trong khoảng thời gian và không gian nhất định.Giao tiếp trực tiếp thường diễn ra dưới hai hình thức chủ yếu là đối thoại và độc thoại Đối thoại là giao tiếp giữa hai người vừa là chủ thể vừa là đối tượng giao tiếp Độc thoại là hình thức giao tiếp chỉ có một người nói và các đối tượng khác ngồi nghe, độc thoại đòi hỏi diễn giảng có trình độ hiểu biết sâu sắc về nội dung diễn giảng, có khả năng truyền cảm khi nói

Hai là giao tiếp gián tiếp: Giao tiếp gián tiếp là loại giao tiếp được thực hiện thông qua phương tiện truyền tin trung gian như: văn bản, điện thoại, phim ảnh, tivi, fax, thư tín

2.5.2 Căn cứ vào mục đích và nội dung giao tiếp cũng như những nghi thức phục vụ cho quá trình giao tiếp

Thứ nhất giao tiếp chính thức: Giao tiếp chính thức là giao tiếp giữa các cá nhân đại diện quyền lợi cho tổ, đội xã hội hoặc giữa các tổ, đội chính thức theo mục đích, nội dung định trước

Thứ hai giao tiếp không chính thức: Giao tiếp không chính thức là giao tiếp không

có quy định về nghi thức, không bị ràng buộc bởi thời gian, không gian, thường mang tính thân tình, nội dung được giữ kín, đại điện hoặc không đại diện cho tổ, đội xã hội nào

2.5.3 Căn cứ vào đối tượng và tính chất giao tiếp thường có

Trang 11

Một là giao tiếp song đôi là giao tiếp giữa hai người có tính chất thân tình hay trao đổi công việc

Hai là giao tiếp tổ, đội là giao tiếp giữa các thành viên trong tổ, đội với nhau hoặc các tổ, đội với nhau

Ba là giao tiếp nghề nghiệp là giao tiếp giữa các thành viên thực hiện hoạt động nghề nghiệp nào đó

2.6 Các phương tiện giao tiếp nhân sự

Trong giao tiếp con người thường dùng tiếng nói, chữ viết, dáng bộ, cử chỉ để diễn tảthông tin cần truyền đạt đến người nhận Thông thường phương tiện giao tiếp thường có 2loại chính sau đây

2.6.1 Giao tiếp bằng ngôn ngữ

Giao tiếp bằng ngôn ngữ là cách giao tiếp phổ biến nhất trong cuộc sống hàng ngày củachúng ta Tuy nhiên mỗi người lại có một cách sử dụng ngôn ngữ khác nhau Nên tạo racác phong cách giao tiếp khác nhau Ngôn ngữ có 3 loại được sử dụng phổ biến hiện naytrong giao tiếp: ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết và ngôn ngữ hình ảnh

2.6.2 Giao tiếp phi ngôn ngữ

Giao tiếp qua nét mặt

Trang 12

-Khái niệm: Tri giác xã hội là cảm nhận, hiểu biết và đánh giá của chủ tri giác về các đối

tượng xã hội, tri giác xã hội thể hiện sự hiểu biết xã hội của mỗi cá nhân trong điều kiệnsống nhất định

-Các cơ chế của tri giác xã hội:

+Ấn tượng ban đầu

Là hình ảnh tổng thể mà chúng ta có được về một người khác hoặc về nhóm xã hội dựatrên một sự nhìn nhận, đánh giá chung thông qua những biểu hiện về diện mạo, lời nói, cửchỉ, tác phong, ánh mắt,… Sau lần tiếp xúc ban đầu ta sẽ có một ấn tượng nhất định về đốitượng của mình

Thông thường sau lần gặp gỡ đầu tiên, về mặt vô thức trong đầu chúng ta đã hiểu về người

đó xem liệu có thể làm bạn hay không, người này có cảm tình với mình hay không…Chúng ta quy lại một cách nhìn chung, do đó nó chi phối rất nhiều trong quá trình tri giáclần sau

Ấn tượng ban đầu được hình thành trên cơ sở:

Đặc điểm trung tâm

Trong quá trình ứng xử xã hội, giao tiếp thông thường ở mỗi cá nhân có nổi lên một đặcđiểm nào đó và chúng ta đã lấy nó để suy luận về họ

Ấn tượng ban đầu được hình thành trên cơ sở một vài đặc điểm biểu hiện ra ngoài mangtính nổi bật trong một hoàn cảnh nào đó Đặc điểm ấy thường gọi là đặc điểm trung tâm

Nó quyết định, khống chế cách thức và chiều hướng suy nghĩ cảm nhận của người tri giác

Vì thế, không phải lúc nào chúng ta tri giác cũng đúng

Sơ đồ nhân cách tiềm ẩn

Trong mỗi con người đều có sẵn một sơ đồ liên hệ giữa các tính cách của con người vớinhau Chúng ta hay gán ghép những nét tính cách, phẩm chất giống nhau lại Khi tiếp xúcvới các cá nhân trong xã hội, thì mối liên hệ nét tính cách tốt hay xấu nó được hoạt hoá vàchúng ta dùng để đánh giá người khác

Trang 13

Khái niệm sơ đồ nhân cách tiềm ẩn: nhằm mô tả một biểu tượng tinh thần sơ lược có chứcnăng hiểu biết hiện thực bằng cách giản lược những phức tạp của đối tượng, thực tế, dựđoán được các phản ứng hành động của đối tác, định ra cái chuẩn có khả năng nhờ đó cóthể kiểm tra được người khác và hành động của họ.

Sơ đồ nhân cách ngầm ẩn nó phụ thuộc vào:

Kinh nghiệm (những ý niệm, tri thức của chúng ta có về người khác), chúng ta sẽ

có phản ứng tích cực hay tiêu cực về các nhóm xã hội khác

Động cơ (lý do hành động), đó là hoạt động của chúng ta hướng vào để đạt được mong muốn, ý đồ của chúng ta

Hoàn cảnh, bối cảnh cụ thể Nó quy định cách thức chúng ta nhìn nhận người khác, quy định chuẩn mực của sự đánh giá

Thông tin đầu tiên

Là những tri thức, cảm xúc của con người, trật tự của những thông tin quy địnhcách chúng ta đánh giá người khác

Thứ tự thông tin rất quan trọng trong việc quan sát người khác, những thông tinđến sớm nhất, đầu tiên bao giờ cũng tác động gây cho người ta có sự tri giác gây ấn tượnglớn Nó tạo nên sự áp đặt, nó chi phối làm sai lệch cách chúng ta cảm nhận người khác

Thông tin ban đầu có tính quyết định khi tri giác người lạ, còn đối với người quenthì thông tin cuối cùng lại có ý nghĩa hơn cả

Như vậy, ấn tượng ban đầu mang tính chủ quan khó xác định, bị nhiều hiệu ứng tácđộng không dễ xoá nhoà Nó quyết định nhiều thái độ ứng xử tiếp đó của chúng ta đối vớiđối tượng

+ Quy gán xã hội

Trang 14

- Nguyên tắc tâm lý ngây thơ

- Chúng ta luôn tìm cách khám phá nguyên nhân hành vi để hiểu và dự đoán sự kiện sắp tới, với mong muốn có thể giám sát được môi trường và mọi vật xung quanh

- Nguyên tắc suy diễn tương ứng

Khi quan sát hành vi của người khác, ta luôn tìm cách suy diễn ý nghĩa của hành vi đótương ứng với những gì ta thấy Nếu chúng ta có nhiều thông tin về mục đích hoạt độngcủa đối tượng thì sự suy diễn tương ứng càng chính xác Sự suy diễn tương ứng nhằm điđến một quy gán nào đó bị ảnh hưởng bởi 3 yếu tố sau:

+ Chuỗi hành vi không thống nhất

+ Hành vi xã hội được mong đợi hay hành vi không được mong đợi

+ Những hành vi được tự do lựa chọn dễ suy diễn hơn hành vi bắt buộc

Cách suy diễn tương ứng để tìm nguyên nhân hành vi không phải lúc nào cũng chính xác

Sự suy diễn tương ứng chỉ phản ánh được lượng thông tin chúng ta có về đối tượng Khi

cá nhân không có thông tin chi tiết, cụ thể nên hay dựa vào một điều bất kỳ mà người đóbiết để quy gán hoặc cho là thế này, hoặc thế kia

Nguyên tắc suy diễn nhân quả: thường biểu hiện bởi 3 yếu tố: Chủ quan, kháchquan, đối tượng

Theo một quy luật chung: khi cá nhân thành công thì thường quy gán nghiêng về bản thântheo xu hướng quy gán vào nâng cao năng lực, phẩm chất của mình

Ngược lại, khi thất bại cá nhân thường đổ lỗi cho khách quan Còn đối với người khác khithành công chúng ta hay quy gán cho là khách quan, khi họ thất bại lại quy gán do chủquan của họ

Trong quá trình quy gán chúng ta hay cho thái độ và hành vi của mình là chuẩn, hành vicủa người khác là không chuẩn Từ đó, chúng ta nhìn nó để chiếu theo người khác, épngười khác theo chuẩn của mình

Trang 15

Một trong những nhược điểm của con người khi quy gán nguyên nhân hành vi là ảo tưởngrằng mình có khả năng kiểm soát được mọi yếu tố quyết định thành công hay thất bại.

3.2 Định kiến xã hội

- Khái niệm: Là những hoạt động, cử chỉ, tính cách hình thành trong quá trình xã hội hóa

cá nhân, hình thành từ giáo dục nhà trường thông qua tiếp xúc với thầy cô, bạn bè, hình thành

khuôn mẫu trong nhận thức

Biểu tượng xã hội

Trang 16

Định kiến ám chỉ một kiểu thái độ đặc biệt mà thông thường là những thái độ tiêucực đối với thành viên của nhóm xã hội khác Vì một kiểu thái độ nên định kiến khôngphải lúc nào cũng được phản ánh công khai trong hành động Trong rất nhiều trường hợp,

cá nhân mang định kiến nhận ra rằng mình không thể biểu đạt nó một cách trực tiếp Cómột nghìn lẻ một các lý do khiến họ làm như vậy: luật lệ, áp lực xã hội, nỗi sợ hãi bị trảthù… đã ngăn cản họ thực hiện hành động tiêu cực một cách rộng rãi Nhưng khi khôngcòn những rào cản và sự kiềm toả như vậy thì những niềm tin, cảm giác tiêu cực thắng thế

và nó được thể hiện một cách công khai và trở thành sự phân biệt đối xử

3.3 Trao đổi thông tin

* Chủ thể truyền thông tin: Là người phát ra thông tin

Yêu cầu: Phải sắp xếp thông tin và lựa chọn thông tin truyền đi, sử dụng các nghệ thuậtphát tin, khai thác các hoàn cảnh giao tiếp

* Khách thể giao tiếp nhận tin:

Chú ý nghe hoặc đọc thông tin do chủ thể phát ra,xử lý các thông tin tiếp nhận được đểhiểu rõ bản chất thông tin cần nhận,tạo ra các phản ứng đáp lại kích thích từ đối phương

* Các phương thức ảnh hưởng lẫn nhau trong giao tiếp nhân sự -Phương thức vâng theo:+ Điều kiện Xã hội hóa cá nhân

+ Hành động theo ý chí của người khác

Ngày đăng: 30/05/2022, 16:40

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w