Thuốc chống viêm phi steroid (NSAID) là một trong các nhóm thuốc được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Qua khảo sát tại khoa Nội 2 Bệnh viện Lạng Sơn, chúng tôi thấy đây là một trong những khoa lâm sàng có sử dụng nhiều thuốc nhóm NSAID trong điều trị nhiều nhóm bệnh. Nghiên cứu nhằm hai mục tiêu: Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc chống viêm phi steroid tại khoa Nội 2 Bệnh viện Lạng Sơn; Đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng thuốc chống viêm phi steroid hợp lý, an toàn.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Thuốc chống viêm phi steroid (NSAID) là một trong các nhóm thuốc được sử dụng rộng rãi trên thế giới Theo một nghiên cứu thì trên thế giới có khoảng 20 triệu người sử dụng thường xuyên các loại thuốc này và có khoảng
25 tỷ viên thuốc được bán không toa mỗi năm ở riêng châu Mỹ [6] Ở nước
ta, thuốc chống viêm phi steroid là một nhóm thuốc chiếm vị trí khá lớn trong danh mục thuốc của bệnh viện, có nhiều dược chất được lựa chọn đưa vào
danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám, chữa bệnh
Đây là một trong những thuốc được lựa chọn đầu tiên trong điều trị các bệnh viêm thấp khớp, chấn thương, tim mạch, nhiễm trùng với các tác dụng hạ sốt,
giảm đau và chống viêm
Bên cạnh các tác dụng chính của thuốc, nhóm thuốc này còn có nhiều tác dụng phụ bất lợi, như: gây loét dạ dày tá tràng, làm tăng thời gian chảy máu, kéo dài thời gian mang thai và gây đẻ khó, gây độc với thận…
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, như: nhóm thuốc có nhiều dẫn chất
mà trong các dẫn chất có nhiều chủng loại, với rất nhiều biệt dược khác nhau,
có nhiều dạng bào chế phối hợp giữa các thuốc với nhau gây khó khăn, dễ nhầm lẫn khi lựa chọn thuốc điều trị; đây là nhóm thuốc được sử dụng rộng rãi, dễ dàng mua mà không cần kê đơn, dễ dẫn tới hiện tượng lạm dụng thuốc nên đã có không ít người dùng thuốc nhóm này gặp nhiều tai biến trong và sau quá trình điều trị
Theo các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Copenhagen (Đan Mạch) tiến hành theo dõi 83.675 người trưởng thành có cơn nhồi máu cơ tim cấp, so sánh giữa những bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim có và không có dùng thuốc NSAID, nhận thấy: chỉ cần điều trị các thuốc này trong vòng một tuần đã làm
Trang 2tăng 45% nguy cơ tử vong hay tái nhồi máu cơ tim Nếu dùng thuốc kéo dài
ba tháng nguy cơ này tăng lên đến 55% [7]
Các nhà nghiên cứu khác còn cho biết việc sử dụng thuốc NSAID có thể gây nguy hại cho nhiều cơ quan nội tạng, đặc biệt là dạ dày, gan và thận Người ta coi việc sử dụng lâu dài thuốc NSAID là nguyên nhân thứ 2 gây loét
và tăng tỷ lệ tạo loét ở dạ dày [6]
Như vậy, việc thận trọng là rất cần thiết khi xem xét sử dụng thuốc NSAID để điều trị phối hợp cho các bệnh nhân
Qua khảo sát tại khoa Nội 2 - Bệnh viện Lạng Sơn, chúng tôi thấy đây
là một trong những khoa lâm sàng có sử dụng nhiều thuốc nhóm NSAID trong điều trị nhiều nhóm bệnh (Các bệnh đường hô hấp, các bệnh đường tiêu hóa, các bệnh cơ, xương khớp ), và hiện nay chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào viết về vấn đề này tại khoa Với lý do trên và với mong muốn nhằm góp phần nhỏ bé nhằm thực hiện tốt hơn nữa công tác dược lâm sàng tại bệnh viện, đồng thời thực hiện tốt nhiệm vụ nghiên cứu, giảng dạy tại nhà trường,
bộ môn Dược đề xuất phối hợp với khoa Nội 2 tiến hành đề tài nghiên cứu
khảo sát tình hình sử dụng thuốc chống viêm phi steroid tại khoa Nội 2 - Bệnh viện Lạng Sơn trong 6 tháng đầu năm 2015.
Nghiên cứu nhằm hai mục tiêu:
1- Khảo sát thực trạng sử dụng thuốc chống viêm phi steroid tại khoa Nội 2- Bệnh viện Lạng Sơn
2- Đề xuất một số giải pháp nhằm sử dụng thuốc chống viêm phi steroid hợp lý, an toàn
Trang 3CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm và ứng dụng thuốc chống viêm phi Steroid
1.1.1 Khái niệm
Thuốc chống viêm phi Steroid, viết tắt là NSAID “Non steroidal anti inflammatory drug”, là những chất có tác dụng hạ sốt, giảm đau và chống viêm mà trong phân tử không chứa khung Steroid
1.1.2 Ứng dụng của thuốc NSAID
+ Thuốc được dùng trong các trường hợp viêm thấp khớp, viêm xương khớp, viêm đốt sống cứng khớp, viêm đa khớp dạng thấp, viêm sưng sau chấn thương hoặc hậu phẫu, viêm khớp tuổi trẻ
+ Giảm đau hệ thần kinh ngoại vi như: đau nhẹ và đau vừa sau phẫu thuật, đau cơ, đau răng, đau do viêm khớp, viêm dây thần kinh, đau đầu, đau
cơ xương do tổn thương phần mềm của vân động viên, tai nạn, gout cấp…
+ Hạ sốt trong các trường hợp nhiễm khuẩn, cảm cúm, khối u
+ Dùng làm thuốc phòng, chống bệnh huyết khối: Do một số thuốc như Acetylsalicylic (Aspirin, Aspegic) ngoài tác dụng hạ sốt, giảm đau, chống viêm, còn có tác dụng chống ngưng kết tiểu cầu, nên thuốc này cũng hay được sử dụng trong một số bệnh tim mạch (nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não )
Phạm vi sử dụng thuốc ngày càng mở rộng: trong các bệnh nội khoa, ngoại khoa, và các trạng thái đau không do viêm khác như: đau cứng cơ, đau thắt lưng, đau bụng trong chu kì kinh nguyệt v.v…
1.2 Sinh lý bệnh của phản ứng viêm, sốt, đau và cơ chế tác dụng của thuốc chống viêm NSAID
Trang 4+ Sinh lý bệnh của phản ứng viêm: Viêm là sự đáp ứng không đặc hiệu
của hệ miễn dịch đối với các tế bào bị tổn thương và đó cũng là triệu chứng của nhiều bệnh phổ biến hay gặp, như: nhiễm trùng, chấn thương, viêm thấp khớp
Đặc trưng của viêm là: sưng, nóng, đỏ đau Có nhiều chất gây ra viêm, trong đó chủ yếu là Prostaglandin E2, chất này có tác dụng giãn mạch máu, nên làm tăng dòng máu tới mô bị tổn thương và gây đỏ chỗ viêm, ngoài ra Prostaglandin E2 còn làm cho cơ thể tăng nhạy cảm với các chất kích thích đau và kích thích sự di chuyển các thực bào qua thành mạch
+ Cơ chế tác dụng của thuốc NSAID: Thuốc NSAID có tác dụng ngăn
chặn sự hình thành Prostaglandin, Thromboxan, Leukotrien bởi sự ức chế của enzym Cyclooxygenase và Lipoxygenase, việc ức chế không tạo ra Prostaglandin Do đó, triệu chứng sưng, nóng đỏ, đau của phản ứng viêm giảm Tuy nhiên sự hủy diệt mô khỏe mạnh bởi thực bào vẫn tiếp tục trong bệnh tự miễn dịch, nên thuốc NSAID chỉ có tác dụng làm giảm triệu chứng, giảm tiến triển của bệnh, mà nhờ đó ta có thể phối hợp với các thuốc khác và phương pháp điều trị phối hợp để đạt được hiệu quả điều trị cao
1.2.2 Sinh lý bệnh của phản ứng sốt và cơ chế tác dụng của thuốc NSAID
+ Sinh lý bệnh của phản ứng sốt: là phản ứng phòng ngự của cơ thể với
các tác nhân ngoại lai (như vi khuẩn, viêm bệnh khối u, tổn thương mô và khi dùng một số thuốc), mà sốt cũng là triệu chứng của nhiều bệnh
Đặc trưng của sốt là hấp thụ nhiệt thụ động từ môi trường, tạo nhiệt bằng các chuyển hóa, rùng mình và làm giảm quá trình mất nhiệt Dưới tác dụng của các tác nhân ngoại lai trên cơ thể sẽ kích thích bạch cầu sản xuất ra chất gây sốt nội tại, chất này kích thích tăng tổng hợp Prostaglandin E2 từ Arachidonic acid từ vùng dưới đồi, chất này gây ra sốt, do đó làm tăng quá trình tạo nhiệt và làm mất nhiệt
Trang 5+ Cơ chế tác dụng của thuốc NSAID: thuốc ngăn chặn sự hình thành
Prostaglandin, làm giãn mạch máu ngoại biên, tăng toát mồ hôi làm tăng quá trình thải nhiệt để lập lại cân bằng cho trung tâm điều hòa thân nhiệt ở vùng dưới đồi Thuốc chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng, không trị được nguyên nhân gây sốt
1.2.3 Sinh lý bệnh của phản ứng đau và cơ chế tác dụng của thuốc NSAID
+ Đau: là cơ chế tự vệ của cơ thể chống lại những kích thích có hại,
cũng có khi là triệu chứng báo trước của một bệnh lý nào đó và là hậu quả kích thích các thụ thể của hệ thần kinh ngoại vi, chúng chuyển các xung động qua đường đau tới não gây ra cảm giác đau
Đặc trưng của đau là do giải phóng nhiều Prostaglandin và các chất trung gian khác làm tăng độ nhạy cảm với đau, đặc biệt khi bị viêm tấy
+ Cơ chế tác dụng của NSAID: thuốc có tác dụng ngăn chặn sự hình
thành Prostaglandin, nên có tác dụng giảm đau Thuốc chỉ có tác dụng giảm đau nhẹ và vừa, như đau sau phẫu thuật, đau do viêm khớp, viêm răng
1.3 Tác dụng không mong muốn của thuốc NSAID
1.3.1 Gây loét dạ dày, tá tràng
Do 2 yếu tố sau:
+ Tác dụng tại chỗ: thuốc chống viêm phi steroid đều là các acid hữu
cơ yếu mà chủ yếu dùng bằng đường uống, mà màng tế bào lipid của lớp trong cùng dạ dày có nhiệm vụ bảo vệ không cản trở được các NSAID, nên bị tăng tính thẫm, sưng tấy và các tế bào bị chết Để khắc phục nhược điểm này
ta phải dùng viên bao film
+ Tác dụng toàn thân: thuốc chống viêm phi steroid ức chế việc tạo thành Prostaglandin, mà các Prostaglandin do các tế bào thành dạ dày tiết ra
có tác dụng tăng tạo chất nhầy và HCO3_ ở lớp trong cùng của dạ dày để ức
Trang 6Việc các thuốc NSAID ức chế enzym Cyclooxygenase, nên Prostaglandin không được tạo thành, dạ dày không tự bảo vệ được nó, sẽ bị acid và pepsin
do chính dạ dày tiết ra ăn mòn và gây loét, gây thủng, gây chảy máu dạ dày
1.3.2 Gây rối loạn đông máu
Đại đa số thuốc chống viêm phi steroid ức chế việc kết tập tiểu cầu, do NSAID ức chế enzym Cyclooxygenase xúc tác tạo ra Thromboxan A2, mà Thromboxan A2 là chất gây kết tập tiểu cầu mạnh Vậy phải thận trọng dùng thuốc NSAID trong phẫu thuật vì chúng làm tăng sự chảy máu trong và sau phẫu thuật
1.3.3 Gây kéo dài thời gian mang thai và gây đẻ khó
Vì khi đẻ tử cung tăng sinh tổng hợp các Prostaglandin, các chất này tăng co bóp tử cung để giúp đẻ, việc thuốc NSAID ức chế tổng hợp các chất này, nên gây kéo dài kỳ thai và đẻ khó Ngoài ra trong thời gian mang thai mà dùng thuốc NSAID sẽ tác dụng lên thai nhi gây đóng ống động mạch sớm và
sẽ gây cao huyết áp
1.3.4 Gây độc với thận
Đối với người thận bình thường thì ít bị ảnh hưởng, còn đối với bệnh nhân suy tim, xơ gan, bệnh thận mãn tính mà dùng thuốc NSAID, thì thuốc sẽ làm giảm lưu lượng máu qua thận, giảm tốc độ lọc của cầu thận, ngoài ra còn làm tăng sự lưu giữ nước và muối, nên gây phù Đặc biệt khi dùng thuốc lạm dụng mà phối hợp hoặc dạng bào chế phối hợp sẽ làm tăng nguy cơ tổn thương thận, gây viêm khe thận mãn tính
1.3.5 Gây tác dụng không mong muốn trên gan
Tăng một hay nhiều men gan do tác dụng độc tế bào gan có hồi phục, nhất là với Diclofenac, Transaminase có thể trở về mức bình thường sau khi ngừng thuốc
Trang 7Một số ít thuốc khi sử dụng gây rối loạn chức năng gan nặng làm tăng Bilirubin, kéo dài thời gian Prothrombin, những trường hợp này cần phải ngưng dùng thuốc
Phenylbutazon gây viêm đường mật, viêm gan dạng u hạt, có thể dẫn đến tử vong trong một số trường hợp
Một số trường hợp dùng thuốc có thể gây độc với tế bào gan: Dùng Paracetamol liều cao (>4g) có thể gây hoại tử tế bào gan, dẫn tới tử vong
Do đó khi dùng thuốc chống viêm không steroid cần theo dõi men Transaminase định kì
1.3.6 Đối với hệ tim mạch
Thuốc nhóm ức chế chuyên biệt COX-2 (Nimesulid, Meloxicam, Celecoxib, Rofecoxib ), Diclofenac có thể làm gia tăng các biến cố tim mạch
ở người có tiền sử bệnh tim mạch, đặc biệt tiền sử bệnh mạch vành, tăng huyết áp nên cần tránh sử dụng
1.3.7 Các tác dụng không mong muốn khác
Thuốc có thể gây chóng mặt, đau đầu, ù tai (Indomethacin, Aspirin); trên da và niêm mạc, có thể xuất hiện ban, ngứa, dị ứng nặng; trên hô hấp, gây hen phế quản; làm tình trạng nhiễm trùng nặng thêm
1.4 Các tương tác của thuốc NSAID với các thuốc khác
- Làm tăng nguy cơ chảy máu khi dùng cùng các thuốc chống đông máu như: Dicumarol, Heparin
- Làm tăng nguy cơ loét dạ dày tá tràng lên gấp 15 lần khi dùng cùng với thuốc Corticoid như: Methylprednisolon, Prednisolon, Mazipredon
- Làm giảm tốc độ thải trừ của thuốc Digoxin, các thuốc kháng sinh nhóm Aminoglycosid
Trang 8- Làm giảm tác dụng của các thuốc chống cao huyết áp khi dùng đồng thời như: Nifedipin, Captopril; gây giảm tác dụng của một số thuốc như Furosemid, Meprobamat, Androgen
- Làm giảm hấp thu thuốc NSAID khi dùng đồng thời với các thuốc Antacid như: Maalox, Kremil - S
- Làm tăng nồng độ thuốc Phenytoin khi dùng đồng thời với thuốc NSAID (đặc biệt là thuốc Ibuprofen)
1.5 Nguyên tắc sử dụng thuốc NSAID
- Các thuốc trong nhóm chỉ có tác dụng chữa triệu chứng bệnh, không chữa được nguyên nhân gây bệnh, nên khi sử dụng phải chẩn đoán bệnh chính xác (vì làm mất triệu chứng của bệnh) và dùng phải phối hợp với thuốc chữa nguyên nhân thì mới đạt hiệu quả chuyên môn cao
- Đa số các thuốc trong nhóm đều gây kích ứng niêm mạc dạ dày, nên phải thận trọng về đối tượng dùng, dạng bào chế và chọn cách dùng hợp lý Trường hợp cần thiết phải dùng cùng với các thuốc bảo vệ niêm mạc dạ dày hoặc uống thuốc vào trong hoặc sau bữa ăn để tránh kích ứng dạ dày Phải ngừng dùng thuốc khi có dấu hiệu xuất huyết đường tiêu hóa hoặc nổi ban mụn nước
- Không chỉ định dùng thuốc cho người viêm loét dạ dày - tá tràng hoặc
có tiền sử viêm loét dạ dày - tá tràng, bị sốt xuất huyết, tạng dễ chảy máu
- Chỉ định thận trọng bệnh nhân viêm thận, suy gan
- Nếu phải điều trị kéo dài, cần kiểm tra về công thức máu 2 tuần/lần (vì thuốc có tác dụng đối kháng với Thromboxan A2 trong màng tiểu cầu) và chức năng thận
- Chú ý trong dùng phối hợp thuốc: Không được dùng phối hợp các thuốc cùng dẫn xuất với nhau (vì làm tăng độc tính); không dùng thuốc
Trang 9NSAID cùng với thuốc chống đông máu (Wafarin hoặc Dicoumarol ) hoặc Sulfamid hạ đường huyết vì thuốc NSAID làm tăng độc tính của thuốc đó
1.6 Phân loại thuốc NSAID
Theo cấu trúc hóa học, có thể chia thuốc NSAID thành 10 nhóm:
- Nhóm các dẫn chất của Salicylic acid như: Acethylsalicylic acid, Methylsalicylat, Salicylamid…
- Nhóm các dẫn chất của para aminophenol như: Acetaminophen, Phenacetin…
- Nhóm các dẫn chất của Indol acid và Inden acetic như: Indomethacin, Etodolac, Sulidac…
- Nhóm các dẫn chất của Anthranilic acid (các Fenamat) như: Mefenamic acid, Mechlofenamat…
- Nhóm các dẫn chất của Heteroaryl acetic acid như: Diclofenac, Ketorolac…
- Nhóm các dẫn chất của Propionic acid như: Ibuprofen, Fenoprofen, Ketoprofen…
- Nhóm các dẫn chất của acid Enolic (các Oxicam) như: Piroxicam, Meloxicam, Tenoxicam…
- Nhóm các dẫn chất của Pyrazolon như: Pyramidon, Analgin, Phenylbutazon…
- Nhóm các dẫn chất của Alkanol như: Nabumeton…
- Nhóm các dẫn chất của các thuốc chống viêm phi steroid khác như: Apazon, Nimesulid, Celebrex, các thuốc phối hợp như Alaxan, Paracetamol-Codein…
1.7 Đặc điểm tình hình khoa Nội 2 - Bệnh viện Lạng sơn
1.7.1 Tổng quan về khoa Nội 2
Trang 10Khoa Nội 2 là khoa lâm sàng thuộc Bệnh viện Lạng Sơn (Bệnh viện hạng II), với tổng số 40 giường bệnh
Chức năng, nhiệm vụ chính của Khoa:
- Khoa tiếp nhận và điều trị cho tất cả bệnh nhân có bảo hiểm và không
có bảo hiểm y tế Cụ thể, khám và điều trị tại khoa các nhóm bệnh chính sau:
- Tham gia nghiên cứu khoa học
- Tham gia giảng dạy cho các học sinh, sinh viên thực tập tại bệnh viện
1.7.2 Một số thuốc NSAID thường dùng tại khoa Nội 2 - Bệnh viện Lạng sơn 1.7.2.1 Thuốc Acetylsalicylic acid (Aspegic)
- Dược động học:
+ Hấp thu tương đối nhanh vào máu Sinh khả dụng đường uống đạt khoảng 68%
+ Gắn với protein huyết tương khoảng 50 - 80%
+ Thuốc được chuyển hóa ở gan và thải trừ qua nước tiểu Thời gian bán thải khoảng 6 giờ, sản phẩm đào thải ở dạng acid Salicylic tự do và các chất chuyển hóa liên hợp
- Tác dụng:
+ Hạ sốt, giảm đau, chống viêm
+ Chống sự kết dính của tiểu cầu (chống kết tập tiểu cầu)
- Độc tính:
Trang 11+ Mặc dù ít độc, dễ uống, nhưng có thể gây buồn nôn, ù tai, nhức đầu + Có thể gây dị ứng: phù, mề đay, hen…
+ Gây xuất huyết dạ dày thể ẩn, nặng gây loét dạ dày, nôn ra máu + Dùng liều cao trên 10g gây kích thích trung tâm hô hấp, gây độc hoặc
có thể gây tử vong Liều chết khoảng 20g đối với người lớn
1.7.2.2 Thuốc Paracetamol (Efferalgan, Protamol, Perfalgan)
- Dược động học:
+ Hấp thu: Paracetamol được hấp thu nhanh chóng và hầu như hoàn
toàn qua đường tiêu hóa Sinh khả dụng khoảng 80 - 90%
+ Phân bố: Paracetamol phân bố nhanh và đồng đều trong phần lớn các
mô của cơ thể, hầu như không gắn Protein huyết tương
+ Chuyển hóa: Phần lớn được chuyển hóa ở gan, một phần nhỏ chuyển
hóa ở thận
+ Thải trừ: Đào thải chủ yếu qua thận Nửa đời huyết tương của
Paracetamol là 1,25 - 3 giờ, có thể kéo dài với liều gây độc hoặc ở người bệnh
có thương tổn gan Sau liều điều trị, có thể tìm thấy 90 đến 100% thuốc trong nước tiểu trong ngày thứ nhất, chủ yếu sau khi liên hợp trong gan với acid glucuronic (khoảng 60%), acid sulfuric (khoảng 35%) hoặc cystein (khoảng 3%); cũng phát hiện thấy một lượng nhỏ những chất chuyển hóa hydroxyl - hoá
và khử acetyl
- Tác dụng: Paracetamol là thuốc giảm đau - hạ sốt Thuốc làm giảm
thân nhiệt ở người bệnh sốt, nhưng hiếm khi làm giảm thân nhiệt ở người bình thường Thuốc tác động lên vùng dưới đồi gây hạ nhiệt, tỏa nhiệt tăng do giãn mạch và tăng lưu lượng máu ngoại biên Paracetamol, với liều điều trị, ít tác động đến hệ tim mạch và hô hấp, không làm thay đổi cân bằng acid - base, không gây kích ứng, xước hoặc chảy máu dạ dày như khi dùng salicylat, vì
Trang 12paracetamol không tác dụng trên cyclooxygenase toàn thân, chỉ tác động đến cyclooxygenase/prostaglandin của hệ thần kinh trung ương
- Độc tính:
+ Ban da và những phản ứng dị ứng khác thỉnh thoảng xảy ra Thường
là ban đỏ hoặc mày đay, nhưng đôi khi nặng hơn và có thể kèm theo sốt do thuốc và thương tổn niêm mạc
+ Người bệnh mẫn cảm với salicylat hiếm mẫn cảm với paracetamol và những thuốc có liên quan
+ Trong một số ít trường hợp riêng lẻ, thuốc gây giảm bạch cầu trung tính, giảm tiểu cầu và giảm toàn thể huyết cầu
+ Dùng liều cao trên 10g, sau thời gian tiềm tàng 24 giờ, xuất hiện hoại
tử tế bào gan, có thể dẫn tới tử vong sau 5 - 6 ngày
1.7.2.3 Thuốc Piroxicam (Felden)
- Dược động học:
+ Hấp thu: Thuốc được hấp thu tốt qua đường tiêu hóa Nồng độ đỉnh
trong huyết tương xuất hiện từ 3 - 5 giờ sau khi uống thuốc Do Piroxicam có chu kỳ gan - ruột và có sự khác nhau rất nhiều về hấp thu giữa các người bệnh, nên nửa đời thải trừ của thuốc trong huyết tương biến đổi từ 20 - 70 giờ
+ Phân bố: Thuốc gắn rất mạnh với protein huyết tương (khoảng 99%)
Thể tích phân bố xấp xỉ 120 ml/kg Nồng độ thuốc trong huyết tương và trong hoạt dịch xấp xỉ bằng nhau khi ở trạng thái thuốc ổn định (nghĩa là sau 7 - 12 ngày)
+ Chuyển hóa: Thuốc chuyển hóa phần lớn ở gan, phần nhỏ ở thận
Chuyển hóa chủ yếu của thuốc là hydroxyl - hóa vòng pyridin, tiếp theo là liên hợp với acid glucuronic
+ Thải trừ: Chủ yếu đào thải qua thận, có khoảng 5% thuốc thải trừ ở
dạng không thay đổi
Trang 13- Tác dụng: Piroxicam là thuốc chống viêm không steroid, thuộc nhóm
oxicam, thuốc có tác dụng chống viêm, giảm đau và hạ sốt Piroxicam còn có thể ức chế hoạt hóa của các bạch cầu đa nhân trung tính, ngay cả khi có các sản phẩm của cyclooxygenase, cho nên tác dụng chống viêm còn gồm có ức chế proteoglycanase và colagenase trong sụn
Piroxicam còn ức chế kết tụ tiểu cầu
- Độc tính: Trên 15% số người dùng piroxicam có một vài phản ứng
không mong muốn, phần lớn thuộc đường tiêu hóa nhưng nhiều phản ứng không cản trở tới liệu trình điều trị Khoảng 5% phải ngừng điều trị Thường gặp:
+ Tiêu hóa: Viêm miệng, chán ăn, đau vùng thượng vị, buồn nôn, táo bón, đau bụng, ỉa chảy, khó tiêu
+ Huyết học: Giảm huyết cầu tố và hematocrit, thiếu máu, giảm bạch cầu, tăng bạch cầu ưa eosin
+ Da: Ngứa, phát ban
+ Thần kinh: Hoa mắt, chóng mặt, buồn ngủ
+ Tiết niệu: Tăng urê và creatinin huyết
+ Toàn thân: Nhức đầu, khó chịu
+ Giác quan: Ù tai
+ Tim mạch, hô hấp: Phù
1.7.2.4 Thuốc Meloxicam (Mobimed)
- Dược động học:
+ Hấp thu: Sau khi uống sinh khả dụng của thuốc khoảng 89%
+ Phân bố: Liên kết mạnh với protein huyết tương, chủ yếu là Albumin
(99%)
+ Chuyển hóa: Thuốc được chuyển hóa mạnh, nhất là bị oxy hóa ở gốc
Trang 14+ Thải trừ: Thuốc được bài tiết một nửa qua nước tiểu, một nửa qua
phân, sản phẩm không bị biến đổi được bài tiết chiếm khoảng 3% Thời gian bán thải của đào thải trung bình là 20 giờ
- Tác dụng: Hạ sốt, giảm đau, chống viêm và chống kết tập tiểu cầu
Tuy nhiên tác dụng hạ sốt kém nên Meloxicam chủ yếu dùng giảm đau và chống viêm
Meloxicam ít tan trong mỡ nên thấm tốt vào các hoạt dịch và tổ chức viêm Thuốc xâm nhập kém vào mô thần kinh nên ít có tác dụng không mong muốn trên hệ thần kinh
+ Hệ tim mạch: Phù, tăng huyết áp, hồi hộp, đỏ bừng mặt
+ Hệ tiết niệu: Các thông số chức năng bất thường (Tăng creatinin, tăng
Urê huyết thanh)
1.7.2.5 Ketorolac (Daitos)
- Dược động học:
+ Hấp thu: Sau khi tiêm bắp hoặc uống, thuốc hấp thu nhanh và hoàn
toàn Tốc độ hấp thu giảm khi uống thuốc cùng bữa ăn có nhiều chất béo, nhưng lượng hấp thu không giảm Sự hấp thu không bị ảnh hưởng khi dùng đồng thời với các thuốc kháng acid
Trang 15+ Phân bố: Thể tích phân bố khoảng 0,15 - 0,33 lít/kg Liên kết protein
rất cao khoảng 99%
+ Chuyển hóa: Dưới 50% liều được chuyển hóa qua gan
+ Thải trừ: Thời gian bán thải ở người lớn có chức năng thận bình
thường khoảng 5,3 giờ và kéo dài hơn ở người giảm chức năng thận (khoảng 10,3 - 10,8 giờ hoặc hơn) Một lượng nhỏ thuốc phân bố vào sữa mẹ
- Tác dụng: Ketorolac là thuốc chống viêm không steroid có cấu trúc
hóa học giống Indomethacin và Tolmetin Ketorolac ức chế sinh tổng hợp prostaglandin Thuốc có tác dụng giảm đau, chống viêm, hạ nhiệt nhưng tác dụng giảm đau lớn hơn tác dụng chống viêm Ngoài ra, Ketorolac còn có tác dụng chống viêm khi dùng tại chỗ ở mắt Thuốc có tác dụng giảm đau mạnh
và chống viêm vừa phải, được dùng thay thế cho các thuốc nhóm opioid và các thuốc giảm đau không steroid, trong điều trị giảm đau vừa đến nặng sau phẫu thuật, và có thể dùng trong điều trị đau cơ xương cấp hoặc đau khác và viêm ở mắt
- Độc tính: Hầu hết các phản ứng bất lợi của thuốc có triệu chứng ở hệ
thần kinh trung ương như đau đầu, chóng mặt và buồn ngủ Ngoài ra, một số phản ứng ở đường tiêu hóa thường gặp như khó tiêu, buồn nôn, đau và kích ứng
Cần lưu ý người bệnh điều trị bằng thuốc chống viêm không steroid như Ketorolac có thể bị suy thận cấp hoặc tăng kali huyết hoặc cả hai Ðặc biệt thận trọng trong trường hợp người bệnh đã bị suy thận trước đó
Thường gặp:
+ Toàn thân: Phù, đau đầu, chóng mặt
+ Thần kinh trung ương: Mệt mỏi, ra mồ hôi
+ Tiêu hóa: Buồn nôn, khó tiêu, đau bụng, ỉa chảy
Trang 161.7.2.6 Thuốc phối hợp Paracetamol-Codein (Efferalgan Codeine)
- Dược động học:
Sự hấp thu và dược động học của Paracetamol và Codeine không bị ảnh hưởng lẫn nhau khi dùng phối hợp
- Tác dụng:
Paracetamol: Giảm đau, hạ sốt; Codeine: Giảm đau trung ương
Phối hợp Paracetamol và Codein cho tác dụng giảm đau mạnh hơn rất nhiều so với từng hoạt chất riêng biệt, và thời gian tác dụng cũng dài hơn
- Độc tính: Nổi mẩn da và phản ứng dị ứng khác Mất ngủ, mệt mỏi,
bồn chồn, buồn nôn, ói, kích ứng dạ dày Dùng liều cao kéo dài, có thể gây
suy tế bào gan
1.7.2.7 Nefopam (Fenopam)
- Dược động học:
+ Hấp thu: Nefopam được hấp thu qua đường tiêu hóa Nồng độ đỉnh
trong huyết tương đạt được trong vòng từ 1-3 giờ sau khi uống và khoảng 1,5 giờ sau khi tiêm bắp
+ Phân bố: Khoảng 73% thuốc gắn kết với protein huyết tương; thuốc
phân bố vào trong sữa mẹ
+ Chuyển hóa: Thuốc được chuyển hóa chủ yếu qua gan
+ Thải trừ: Thời gian bán thải của thuốc khoảng 4 giờ, thải trừ chủ yếu
qua nước tiểu, trong đó dưới 5% liều sử dụng được thải trừ dưới dạng không đổi
- Tác dụng: Nefopam hydroclorid là một thuốc giảm đau không opioid
có tác động trung ương, mặc dù cơ chế tác động của thuốc chưa được biết rõ Ngoài ra, thuốc còn có một vài tác dụng kháng muscarin và kích thích thần kinh giao cảm
Trang 17Ở liều 30-120 mg, Nefopam có hiệu quả giảm đau mạnh hơn Aspirin, mặc dù tác dụng phụ nhiều hơn như đổ mồ hôi, chóng mặt và buồn nôn, đặc biệt ở liều cao
Hiệu quả giảm đau của Nefopam yếu hơn Morphin hay Oxycodon, nhưng ít gây tác dụng phụ hơn, không gây ức chế hô hấp và mức độ lạm dụng thuốc ít hơn nhiều, được coi là thuốc lựa chọn thay thế các thuốc giảm đau opioid
- Độc tính: Các tác dụng bất lợi thường gặp bao gồm buồn nôn, nôn, đổ
mồ hôi, buồn ngủ, bí tiểu, chóng mặt, tụt huyết áp, run, dị cảm, đánh trống ngực, hồi hộp, lú lẫn, nhìn mờ, nhức đầu, khô miệng, ngất, phù mạch và tim đập nhanh Thỉnh thoảng gặp các tác dụng ngoại ý khác như sảng khoái, ảo giác, co giật và nước tiểu có màu hồng tạm thời
Tác dụng không mong muốn của thuốc tăng lên khi dùng đồng thời Nefopam với thuốc kháng Muscarin hay thuốc kích thích thần kinh giao cảm; tăng nguy cơ động kinh khi dùng chung thuốc này với thuốc chống trầm cảm
3 vòng
Tác dụng ức chế thần kinh trung ương tăng khi dùng đồng thời Nefopam với các thuốc an thần
Trang 18CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân nằm điều trị tại khoa Nội 2 Bệnh viện Lạng sơn từ tháng 1 đến tháng 6 năm 201 có sử dụng thuốc NSAID
- Tiêu chuẩn loại trừ: Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân điều trị tại khoa Nội 2 không dùng thuốc NSAID
2.2 Địa điểm
Phòng Kế hoạch tổng hợp, Khoa Nội 2 - Bệnh viện Lạng sơn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang Nghiên cứu hồi cứu, thu thập số liệu qua bệnh án của bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa Nội 2 từ tháng 1 đến tháng 6 năm 201, tại kho lưu trữ phòng Kế hoạch tổng hợp - Bệnh viện Lạng Sơn
- Chọn cỡ mẫu: Lấy mẫu toàn bộ
- Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập thông tin bằng phiếu khảo sát
hồ sơ bệnh án với sự hỗ trợ của cán bộ y tế trong khoa Thu thập thông tin cụ thể như sau:
Hồ sơ bệnh án: Họ tên, tuổi, giới tính người bệnh, chẩn đoán lúc nhập viện điều trị, chỉ định dùng thuốc, tổng số ngày điều trị, số ngày sử dụng thuốc NSAID, kết quả điều trị, tai biến (nếu có)
- Các nội dung nghiên cứu:
1- Số lượng nhóm người bệnh sử dụng thuốc NSAID tại khoa Nội 2 2- Danh mục thuốc NSAID dùng tại khoa Nội 2
3- Số lượng nhóm người bệnh dùng thuốc NSAID theo giới tính
4- Số lượng nhóm người bệnh dùng thuốc NSAID theo lứa tuổi
Trang 195- Số ngày điều trị thuốc NSAID bình quân trong số ngày điều trị các
nhóm bệnh tại khoa Nội II
6- Hiệu quả điều trị phối hợp thuốc NSAID với nhóm thuốc khác trong