1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

đề tài Phân tích một vụ việc thực tiễn về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền

21 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 429,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xác định hành vi mà Vinapco thực hiện có thuộc các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền được pháp luật quy định?...3 2.3... Độc quyền thị trường không viphạm pháp luật, tuy nhiên việc lạm d

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI KHOA PHÁP LUẬT KINH TẾ

BÀI TẬP NHÓMMÔN: LUẬT CẠNH TRANH

Trang 2

BIÊN BẢN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ THAM GIA VÀ KẾT QUẢ THAM GIA LÀM

Nội dung: Bài tập nhóm môn Luật Cạnh tranh

Tên bài tập: Đề bài số 02

Môn học: Luật Cạnh tranh

Xác định mức độ tham gia và kết quả tham gia của từng sinh viên trong việc thực hiện bài tập nhóm số: 02 Kết quả như sau:

ST

T Mã SV Họ và tên

Đánh giá của SV

SV ký tê n

Đánh giá của GV

Điểm (số)

Điểm (chữ)

GV ký tên

10 442556 Nông Thị Mỹ Dung X

Kết quả điểm bài viết: Hà Nội, ngày 12 tháng 04 năm 2022

NHÓM TRƯỞNG

Kết quả điểm thuyết trình: ……….

Trang 3

 Giáo viên cho thuyết trình: ……… Nguyễn Thị Kim Thi

Điểm kết luận cuối cùng: ………

BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ

(Họ tên – Mã số sinh viên)

1 Tóm tắt vụ việc – Đặt vấn đề Nông Thị Mỹ Dung (442556)

2 Phân tích vụ việc:

- Xác định Vinpco có phải doanh

nghiệp độc quyền hay không;

- Xác định hành vi Vinapco thực

hiện;

- Chế tài xử lý

Lê Bích Loan (442546)Đinh Văn Hiếu (442548)

3.2 Những điểm hạn chế của quy

định pháp luật về hành vi lạm dụng

VTĐQ

Nguyễn Thị Thảo (442547)Nguyễn Song Thương (442554)

4 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

1 TÓM TẮT VỤ VIỆC – ĐẶT VẤN ĐỀ 1

2 PHÂN TÍCH VỤ VIỆC 2

2.1 Xác định Vinapco có được coi là Doanh nghiệp có vị trí độc quyền hay không? 2

2.2 Xác định hành vi mà Vinapco thực hiện có thuộc các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền được pháp luật quy định? 3

2.3 Chế tài xử lý 5

3 BÌNH LUẬN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN 6

3.1.Những điểm tích cực của pháp Luật Cạnh tranh hiện hành về hành vi lạm dụng vị trí độc quyền so với Luật Cạnh tranh 2004 6

3.1.1.Bổ sung tiêu chí xác định doanh nghiệp có vị trí độc quyền 6

3.1.2.Về các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm 6

3.1.3.Bổ sung chế tài xử lý vi phạm đối với các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền 8

3.2.Những điểm hạn chế của quy định pháp luật về hành vi lạm dụng vị trí độc quyền 9

3.2.1.Pháp luật cạnh tranh vẫn thừa nhận nhiều lĩnh vực độc quyền Nhà nước với cơ chế kiểm soát riêng 9

3.2.2.Hạn chế về xác định vị trí độc quyền - điều kiện để kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí độc quyền của doanh nghiệp 10

3.2.3.Hạn chế về vấn đề xác định các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền bị cấm của doanh nghiệp độc quyền 11

Trang 5

3.2.4.Hạn chế trong công tác phát hiện và tiến hành điều tra hành vi lạm

dụng vị trí độc quyền 13

3.2.5.Về các biện pháp xử lý đối với các hành vi vi phạm 14

4 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ LẠM DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN 15

4.1 Đối với quy định về độc quyền Nhà nước 15

4.2 Đối với việc xác định doanh nghiệp có vị trí độc quyền 16

4.3 Đối với những quy định về hành vi bị cấm 17

4.4 Đối với cơ quan thực thi pháp luật về kiểm soát hạn chế cạnh tranh18 4.5 Chế tài đối với hành vi vi phạm 19

KẾT LUẬN 20

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

Trang 6

MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay, luôn tồn tạinhững doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, VTĐQ Độc quyền thị trường không viphạm pháp luật, tuy nhiên việc lạm dụng VTĐQ thông qua các hành vi mà phápLCT quy định là vi phạm pháp luật Các hành vi này có thể là việc doanh nghiệpgiữ VTĐQ tác động mạnh mẽ đến các yếu tố thị trường hay triệt tiêu khả năngcạnh tranh của đối thủ nhằm duy trì vị thế của mình, xâm hại đến lợi ích củangười tiêu dùng Và để ngăn chặn, xử lý các hiện trạng trên pháp luật nước ta đã

có những quy định cụ thể tại LCT năm 2018 và các văn bản pháp luật có liênquan khác Để tìm hiểu rõ hơn về hành vi lạm dụng VTĐQ cũng như các quy

định của pháp luật về hành vi này nhóm chúng em xin phép được chọn đề bài số

02 để phân tích và làm rõ hơn, đề bài như sau : “Phân tích một vụ việc thực

Trong quá trình thương lượng, Vinapco đã có Công văn gửi PA ngày 20/3/2008 thông báo: (1) Từ 01/4/2008, mức phí cung ứng nhiên liệu bay sẽ là 750.000 đồng/tấn; (2) Từ 01/7/2008, hai bên sẽ căn cứ vào giá nhiên liệu thế giới để điều chỉnh mức phí cung ứng cho phù hợp Bên phía PA cho rằng “mức tăng như vậy là phù hợp nhưng yêu cầu phí cung ứng phải bình đẳng giữa các hãng hàng không nội địa, cụ thể là giữa PA và Tổng công ty Hàng không Việt Nam (VNA).” Sau đó, Vinapco có văn bản yêu cầu PA phải chấp nhận mức phí

Trang 7

mới, đồng thời có văn bản gửi cho các các xí nghiệp xăng dầu của Vinapco ở các khu vực đề nghị các xí nghiệp này ngừng tra nạp nhiên liệu JET A-1 cho mọi chuyến bay của PA từ 0h00 ngày 01 tháng 4 năm 2008 cho đến khi có chỉ đạo mới bằng văn bản của Vinapco, ép buộc PA phải chấp nhận với mức phí mà Vinapco đưa ra Tháng 5 năm 2008, Cục Quản lý cạnh tranh đã quyết định điều tra chính thức vụ việc Hội đồng kết luận công ty Xăng dầu hàng không VINAPCO đã có hành vi lạm dụng độc quyền trên thị trường nhiên liệu hàng không vi phạm các khoản 2 và 3, Điều 14 của LCT Hội đồng quyết định phạt Vinapco 3,378 tỷ đồng về các hành vi vi phạm và 100 triệu đồng phí xử lý vụ việc 1

Vụ việc trên đặt ra một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, ta cần xác định Vinapco có được coi là doanh nghiệp có VTĐQ

hay không?

Thứ hai, các hành vi mà Vinapco thực hiện có thuộc hành vi lạm dụng VTĐQ

được pháp luật quy định hay không?

Thứ ba, chế tài đối xử lý đối với hành vi nêu trên.

Ngoài ra, chúng em xin phép được bình luận các quy định của pháp luật về

vấn đề nêu trên đồng thời đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật vềhành vi lạm dụng VTĐQ

Trang 8

Căn cứ Điều 25 LCT năm 2018 quy định về “Doanh nghiệp được coi là có

VTĐQ nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan.”

Theo đó, Vinapco là doanh nghiệp độc quyền nhà nước hoạt động trong thịtrường dịch vụ cung cấp xăng dầu hàng không dân dụng - Vinapco Trước năm

2009, Vinapco là đơn vị duy nhất cung cấp xăng dầu cho ngành hàng không tạiViệt Nam, từ ngày 16/9/2009 khi cục hàng không cấp giấy phép cho Petrolimexcung cấp xăng dầu cho máy bay đến nay Vinapco vẫn chiếm 97% thị phần trongngành xăng dầu hàng không Vậy, Vinapco là doanh nghiệp độc quyền cung cấpnhiên liệu bay cho các hãng hàng không dân dụng tại các sân bay dân dụng củaViệt Nam Khi Vinapco dừng cung cấp nhiên liệu bay cho bất kỳ công ty kinhdoanh vận tải hàng không nào, công ty ấy không thể tiếp tục hoạt động vì không

có nguồn cung thay thế

Như vậy, Vinapco được coi là doanh nghiệp có VTĐQ tại thời điểm đó

2.2 Xác định hành vi mà Vinapco thực hiện có thuộc các hành vi lạm dụng VTĐQ được pháp luật quy định?

Theo hồ sơ vụ việc cạnh tranh, Vinapco bị điều tra vì đã thực hiện hai hành vi

hạn chế cạnh tranh theo điểm b, điểm c khoản 2 Điều 27 LCT 2018 về hành vi

áp đặt điều kiện bất lợi cho khách hàng và lợi dụng VTĐQ để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng.

Doanh nghiệp bị áp đặt các điều kiện bất lợi và có giao kết hợp đồng bị hủy bỏvới Vinapco là Pacific Airlines (PA) - nay là JPA Vào thời điểm xảy ra hành vi,trên thị trường vận chuyển hành khách bằng máy bay trong nước chỉ có PA vàVNA trực tiếp cạnh tranh với nhau mà Vinapco là doanh nghiệp trực thuộcVNA Với tình trạng này, có hai vấn đề cạnh tranh được đặt ra:

Trang 9

Một là, nhiên liệu bay là đầu vào thiết yếu cho các hãng hàng không.

Vinapco là doanh nghiệp độc quyền cung cấp nhiên liệu bay cho các hãng hàngkhông dân dụng tại các sân bay dân dụng của Việt Nam Khi Vinapco dừng cungcấp nhiên liệu bay cho bất kỳ công ty kinh doanh vận tải hàng không nào, công

ty ấy không thể tiếp tục hoạt động vì không có nguồn cung thay thế

Hai là, trong vụ việc này, những hành vi mà các cơ quan tiến hành tố tụng

tiến đến điều tra chủ yếu là gây ra những khó khăn cho PA trong hoạt động kinhdoanh

 Với hành vi áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng của doanh

Những nghĩa vụ này gây khó khăn cho PA trong quá trình thực hiện hợpđồng: Ở khía cạnh này, HĐCT đã dựa vào kết quả hiệp thương giá cung cấpxăng dầu hàng không do Bộ Tài chính tổ chức là 725.000 đồng/tấn (theo Côngvăn số 261/BT-BTC ngày 14/7/2008) để kết luận mức phí mà Vinapco đề nghịban đầu với PA (750.000đ/tấn) là cao Bên cạnh đó, khi Vinapco ngừng cung cấpnhiên liệu bay cho PA vào ngày 01/4/2008 đã dẫn đến việc các chuyến bay của

PA trong thời gian này bị chậm hoặc hủy chuyến Như vậy, PA gặp khó khăntrong việc thực hiện hợp đồng

4

Trang 10

 Với hành vi lạm dụng VTĐQ để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp

đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng:

+ Vinapco có hành vi đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kếtbằng việc ngừng cung cấp nhiên liệu bay

+ Vinapco dựa vào lý do không liên quan trực tiếp đến các điều kiện cần thiết

để tiếp tục thực hiện đầy đủ hợp đồng

Hội đồng cho rằng mức phí cung ứng là yếu tố không liên quan trực tiếp đếncác điều kiện cần thiết để tiếp tục thực hiện đầy đủ hợp đồng bởi theo Hợp đồng

số 34/PA2008 chỉ duy nhất một trường hợp Vinapco có thể tạm ngừng việc thựchiện Hợp đồng, đó là do PA chậm thanh toán Cho đến ngày 01/4/2008, PA chưa

hề chậm thanh toán cho Vinapco

Như vậy, Vinapco đã thực hiện hai hành vi vi phạm LCT 2018 (hành vi lạmdụng VTĐQ bị cấm) đó là áp đặt điều kiện bất lợi cho khách hàng và lợi dụngVTĐQ để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có

lý do chính đáng

2.3 Chế tài xử lý

Chế tài xử lý hành vi lạm dụng VTĐQ được quy định tại khoản 1 Điều 111LCT 2018 và Điều 9 Nghị định 75/2019/NĐ-CP Theo đó, hành vi lạm dụngVTĐQ phải chịu mức phạt tiền từ 01% đến 10% tổng doanh thu của doanhnghiệp trong năm tài chính liền kề

Ở đây, Vinapco đã có hai hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường vi

phạm pháp luật về cạnh tranh đó là hành vi áp đặt các điều kiện bất lợi cho

khách hàng của doanh nghiệp có VTĐQ và hành vi lợi dụng VTĐQ để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng Vậy, Vinapco phải bị phạt tiền từ 01% đến 10% tổng doanh thu trên thị

Trang 11

trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi viphạm cho cả hai hành vi trên

Cụ thể, tổng doanh thu trên thị trường liên quan của Vinapco trong năm tàichính liền kề trước năm thực hiện hành vi lạm dụng VTĐQ là năm 2007 vớitổng doanh thu là 3.378.086.700.000đ Như vậy, Vinapco phải chịu mức xử phạt

với mỗi hành vi từ 33.780.867.000 đồng đến 337.808.670.000 đồng Như vậy

tổng mức xử phạt là 67.561.734.000 đồng đến 675.617.340.000 đồng

Ngoài ra, Vinapco còn thể phải chịu hình thức xử phạt bổ sung là tịch thukhoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi 2 và các biện pháp khắc phụchậu quả như: buộc loại bỏ những điều khoản liên quan đến việc tăng chi phícung ứng nhiên liệu khỏi hợp đồng; Loại bỏ các điều kiện bất lợi đã áp đặt choPacific Airlines, tiếp tục cung ứng nhiên liệu như đã thống nhất trong hợpđồng3…

3 BÌNH LUẬN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VTĐQ

Những điểm cải thiện so với LCT 2004, những hạn chế còn tồn đọng và

đề xuất biện pháp khắc phục hạn chế, hoàn thiện pháp luật

Trang 12

Trải qua quá trình thực thi LCT 2004 đến nay đồng thời kế thừa trên cơ sở chọn lọc các tiêu chí của thông lệ quốc tế phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị

trường tại Việt Nam, LCT 2018 đã bổ sung quy định mới về sức mạnh thị

trường như một tiêu chí xác định doanh nghiệp có vị trí độc quyền, bên cạnh tiêu chí thị phần.

Cụ thể, Điều 26 LCT 2018 quy định : Sức mạnh thị trường đáng kể của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp được xác định căn cứ vào một số yếu tố sau đây:

a) Tương quan thị phần giữa các doanh nghiệp trên thị trường liên quan;b) Sức mạnh tài chính, quy mô của doanh nghiệp;

c) Rào cản gia nhập, mở rộng thị trường đối với doanh nghiệp khác;

mở rộng phạm vi áp dụng đối với các hành vi này Theo đó, LCT năm 2018 nêu

rõ hơn mục đích của các hành vi lạm dụng VTĐQ của doanh nghiệp là nhằmgây ra thiệt hại cho khách hàng và người tiêu dùng Hay nói cách khác là Nhấnmạnh vào yếu tố “lỗi cố ý” trong cấu thành hành vi vi phạm Có thể nhận thấyđiều đó qua việc (note)

3.1.3 Điểm thay đổi tích cực cuối cùng là Bổ sung chế tài xử lý vi phạm đối với các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng VTĐQ

7

Trang 13

Nếu như trong LCT 2004, tỉ lệ để tính mức xử phạt được dao động từ 0% đến 10% tại Điều 117 Luật cạnh tranh 2004 và hướng dẫn chi tiết tại Nghị định số 120/2005/NĐ-CP Theo đó, hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường phải chịu hình phạt chính là hình phạt tiền Mức phạt có thể lên đến 5% tổng doanh thu của năm tài chính trước năm thực hiện

hành vi vi phạm Trong một số trường hợp đặc biệt, mức phạt có thể lên đến 10%thì đến LCT

2018 mức tỉ lệ này được điều chỉnh là từ 01% đến 10%

 Có thể thấy so với LCT 2004 thì mức tỉ lệ trongLCT 2018 cao hơn Nếu vụ việc đề bài được xử

lý theo LCT 2018 thì Vinapco sẽ còn phải chịu Ngoài ra, những thiếu sót của LCT 2004 về xác định mức phạt trong trườnghợp tổng doanh thu của doanh nghiệp có hành vi vi phạm trên thị trường liênquan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm được xácđịnh bằng 0 (không) và thiếu cơ sở thống nhất, cụ thể để xác định mức phạt cụ

thể đối với từng hành vi vi phạm thì đã được LCT 2018 khắc phục: cụ thể là tại khoản 3 Điều 4 Nghị định 75/2019,

“Trường hợp doanh thu để xác định mức phạt bằng 0 thì áp dụng mức phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng”

Ngoài ra, việc tách riêng biện pháp tịch thu khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm ra khỏi biện pháp tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm bao gồm cả tịch thu toàn bộ khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm như quy định của LCT

2004 là phù hợp với bản chất, khoản lợi nhuận thu được từ hành vi vi phạm không phải và không thể là tang vật hay phương tiện sử dụng để thực hiện hành

Trang 14

bên ngoài của hành vi, do đó một biện pháp chỉ có thể phù hợp đối với một vài

có thể thực hiện hành vi lạm dụng VTĐQ

Thứ hai, Hạn chế về xác định vị trí độc quyền

Điều 25 LCT 2018 quy định: “Doanh nghiệp được coi là có VTĐQ nếu

không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan” Như vậy, có thể hiểu, đối

tượng điều chỉnh của pháp luật về kiểm soát hành vi lạm dụng VTĐQ của các doanh nghiệp tại Việt Nam chỉ xác định đối với những doanh nghiệp có 100% thị phần trên thị trường mà không có các đối tượng là độc quyền nhóm Do vậy, trong quá trình thực thi Luật Cạnh tranh đã bỏ sót nhiều trường hợp vi phạm

Một vấn đề nữa liên quan đến việc xác định thị phần trên TTLQ là không xem xét đến tính bền vững của vị thế độc quyền của doanh nghiệp Hiện tượng độc quyền có một đặc điểm quan trọng đó là khả năng duy trì

vị thế lâu dài của doanh nghiệp trên thị trường hoàn toàn có thể xảy ra

định tại Nghị định 94/2017/NĐ-CP

9

Trang 15

trường hợp đó là doanh nghiệp tuy thỏa mãn các yếu tố để được xác định là một doanh nghiệp độc quyền, và có các hành vi “phản cạnh tranh” nhưng chỉ có thể duy trì điều đó trong khoảng thời gian ngắn bởi sự gia nhập thị trường nhanh chóng của các đối thủ khác, dẫn đến việc duy trì các hành vi của doanh nghiệp độc quyền trước đây là khó xảy ra Đây là một cách thức điều hòa tự nhiên của quy luật cung - cầu trong nền kinh tế thị trường, tạo

ra lợi ích tối đa cho xã hội mà ít cần tới sự can thiệp của nhà nước.

độc quyền bị cấm của doanh nghiệp độc quyền

a, Đối với hành vi áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý

Thứ nhất, quy định pháp luật còn thiếu khái niệm về “mua với mục đích loại trừ”

Thứ hai, quy định pháp luật hiện tại chưa bao quát đến khả năng Nhà độc

quyền phớt lờ sự giảm giá vì nguyên nhân khách quan của nguyên liệu đầu vào,

từ đó khiến người tiêu dùng bỏ lỡ lợi ích từ việc có thêm sản phẩm tiêu dùng giá

rẻ hơn

Thứ ba, liên quan đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp độc quyền và các nhà

phân phối Việc nhà phân phối chấp nhận theo đề xuất của doanh nghiệp độc

quyền có thể là sự miễn cưỡng nhằm không bị loại bỏ ra khỏi chuỗi phân phốihoặc là sự thông đồng có chủ ý Vì vậy nên cơ quan chức năng gặp khó khăntrong cơ chế giải quyết hành vi này

b, Đối với hành vi áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch tương tự

10

Downloaded by Quang Tr?n (tranquang141994@gmail.com)

Ngày đăng: 30/05/2022, 11:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ - đề tài Phân tích một vụ việc thực tiễn về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ (Trang 3)
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ - đề tài Phân tích một vụ việc thực tiễn về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w