Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về tổ chức hội nghị, đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng và đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao công tác tổ chức hội nghị của Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
Trang 1BỘ NỘI VỤ TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
KHOA QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÌM HIỂU CÔNG TÁC TỔ CHỨC HỘI NGHỊ
TẠI VĂN PHÒNG BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Khóa luận tốt nghiệp ngành : QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG Người hướng dẫn : ThS HOÀNG VĂN THANH
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
Mã số sinh viên : 1205QTVA054
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Em thực hiện đề tài “Tìm hiểu công tác tổ chức Hội nghị tại Văn phòng Bộ
Khoa học và Công nghệ” Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của nhóm
trong thời gian qua Em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu có sự không trung thực về
thông tin sử dụng trong công trình nghiên cứu này
Hà Nội, ngày 15 tháng 4 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Phương
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
6 Giả thuyết nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Bố cục của đề tài 3
PHẦN NỘI DUNG 4
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC HỘI NGHỊ 4
1.1.Khái niệm hội nghị 4
1.2 Vai trò, ý nghĩa của tổ chức hội nghị 5
1.3 Phân loại tổ chức hội nghị 6
1.4 Quy trình tổ chức hội nghị 8
1.4.1 Quy trình tổ chức các hội nghị bình thường, không nghi thức 8
1.4.2 Hoạch định và tổ chức các hội nghị theo nghi thức 9
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC HỘI NGHỊ TẠI VĂN PHÒNG BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 17
2.1 Giới thiệu khái quát về Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ 17
2.2 Các loại hội nghị do Văn phòng tổ chức 20
2.3 Thực trạng công tác tổ chức Hội nghị tại Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ 27
2.3.1 Công tác Lập kế hoạch tổ chức hội nghị 27
2.3.2 Công tác chuẩn bị tổ chức hội nghị 36
2.3.2.1 Chuẩn bị nội dung hội nghị 36
2.3.2.2 Xây dựng chương trình nghị sự 38
2.3.2.3 Lập danh sách đại biểu, viết và gửi giấy mời 41
2.3.2.4 Chuẩn bị địa điểm tổ chức hội nghị 46
2.3.2.5 Công tác trang trí, khánh tiết, thiết bị kỹ thuật phục vụ tổ chức hội nghị 49
Trang 42.3.2.6 Công tác thông tin truyền thông 52
2.3.2.7 Công tác y tế 52
2.3.2.8 Chuẩn bị kinh phí tổ chức hội nghị 53
2.3.2.9 Chuẩn bị cho việc ghi biên bản hội nghị 54
2.3.2.10 Chuẩn bị các yếu tố khác 55
2.3.3 Giai đoạn tiến hành 57
2.3.3.1 Đón tiếp đại biểu 58
2.3.3.2 Vận hành, điều khiển thiết bị kỹ thuật 59
2.3.3.3 Triển khai chương trình hội nghị 59
2.3.3.4 Theo dõi diễn biến hội nghị,giữ đúng giờ giải lao và báo cáo cho đại biểu đọc tham luận 60
2.3.3.5 Giải quyết vấn đề phát sinh 63
2.3.3.6.Bố trí thư ký ghi biên bản hội nghị 64
2.3.3.7 Bế mạc hội nghị 64
2.3.4 Giai đoạn kết thúc 65
2.3.5 Đánh giá công tác tổ chức hội nghị 67
2.3.5.1 Ưu điểm 67
2.3.5.2 Nhược điểm 71
2.3.5.3 Nguyên nhân 73
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC HỘI NGHỊ TẠI VĂN PHÒNG BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 76
3.1 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế có liên quan đến việc tổ chức Hội nghị 76
3.1.1 Xây dựng và ban hành quy chế phối hợp trong tổ chức hội nghị tại Bộ Khoa học và Công nghệ 76
3.1.2 Xây dựng và ban hành các văn bản khác có liên quan đến quá trình tổ chức hội nghị tại Bộ 78
3.1.3.Xây dựng danh mục hội nghị hàng năm 82
3.1.4 Lập kế hoạch chi tiết, rõ ràng 83
3.2 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất phục vụ Hội nghị 84 3.3 Tăng cường công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức hội nghị
Trang 5863.4 Chú trọng nâng cao nghiệp vụ văn phòng của đội ngũ cán bộ 1023.5 Đề xuất với nhà trường về chương trình đào tạo của môn chuyên ngành quản trị văn phòng 103
KẾT LUẬN 107 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng cán bộ của văn phòng trong giai đoạn 2012 – 2015 18
Bảng 2.2 Số lượng các loại hình hội nghị của Bộ 20
tổ chức giai đoạn 2012 – 2015 20
Bảng 2.3 Số lượng các loại hình hội nghị do Văn phòng tổ chức 24
giai đoạn 2012 – 2015 24
Bảng 2.4 Tình hình tổ chức hội nghị của Văn phòng Bộ so với cả Bộ giai đoạn 2012 – 2015 26
Bảng 2.5 Thống kê trình độ chuyên môn của cán bộ làm việc tại 67
Văn phòng Bộ năm 2015 67
Bảng 2.6 Thống kê số lượng trang thiết bị, cơ sở vật chất đầu tư cho hội nghị tại Bộ Khoa học và Công nghệ năm 2015 70
Bảng 3.1 So sánh 3 loại công nghệ hội hội nghị 100
Bảng 3.2 So sánh các nội dung trong quy trình tổ chức hội nghị giữa lý thuyết và thực tiễn 103
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1 Các công việc cần phải làm để tổ chức một hội nghị không nghi thức 9
Sơ đồ 1.2 Các bước trong giai đoạn chuẩn bị Hội nghị có nghi thức 10
Sơ đồ 1.3.Các bước tiến hành Hội nghị có nghi thức 13
Sơ đồ 1.4 Các bước tiến hành sau khi Hội nghị kết thúc 15
Sơ đồ 2.1 Các bước lập kế hoạch tổ chức hội nghị tại Văn phòng Bộ 29
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Các loại hình hội nghị của Bộ Khoa học và Công nghệ giai đoạn 2012 – 2015 23
Biểu đồ 2.1 Các hội nghị do Văn phòng Bộ tổ chức giai đoạn 2012 – 2015 28
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức Hội nghị là một trongnhững hoạt động thực tiễn diễn ra thường xuyên trong môi trường làm việc, bởi lẽ đây là một trong những kênh trao đổi thông tin trực tiếp trong việc truyền đạt và kiểm soát công việc Nếu một cơ quan, đơn vị, có hoạt động tổ chức, điều hành và tham gia một hội nghị hiệu quả, thì các cá nhân trong cơ quan sẽ nắm bắt thông tin và xử lý thông tin nhanh chóng Đồng thời khi tổ chức Hội nghị không chỉ nhằm mục đích giải quyết công việc mà còn là nơi trao đổi, học hỏi, tiếp thu để tìm ra các giải pháp tốt nhất cho
mọi vấn đề Tăng cường thiết lập các mối quan hệ mở
Sau khi được học lý thuyết về nghiệp vụ thư ký văn phòng và các kỹ năng quản trị văn phòng, em muốn được nghiên cứu và tìm hiểu về công tác tổ chức hội nghị của một Văn phòng/Phòng Hành chính của một cơ quan Để hiểu sâu hơn về công tác tổ
chức Hội nghị nhằm so sánh lý thuyết và so sánh thực tiễn, em đã lựa chọn đề tài “Tìm
hiểu công tác tổ chức Hội nghị tại Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ” mong
rằng những thông tin em mang đến sẽ giúp cho các sinh viên chuyên ngành quản trị Văn phòng và bạn đọc hiểu rõ hơn về công tác tổ chức Hội nghị trong cơ quan, tổ chức
nói chung và Bộ Khoa học và Công nghệ nói riêng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
- Tình hình nghiên cứu trong nước:
Công tác tổ chức hội nghị tại các cơ quan, tổ chức đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu, nhóm nghiên cứu được chia làm hai nguồn chính: một là các giáo trình, lý luận về công tác tổ chức hội nghị tại cơ quan, tổ chức; hai là các đề tài nghiên cứu thực
trạng công tác tổ chức hội nghị tại một cơ quan, đơn vị cụ thể
Đầu tiên các sách, giáo trình nghiên cứu lý luận tổ chức hội nghị tại các cơ quan,
tổ chức có một số giáo trình tiêu biểu như:
- Hoàng Giang, Nghiệp vụ thư ký văn phòng, NXB Văn hóa Thông tin, hà Nội,
2009
- Phạm Hưng, Lê Văn In, Nghiêm Kỳ Hồng, Văn phòng hiện đại và Nghiệp vụ
hành chính Văn phòng, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1996
- Trần Hoàng – Nguyễn Hữu Thời, Giáo trình Nghiệp vụ thư ký, Hà Nội, 1989
- Nghiêm Kỳ Hồng, Lê Văn In, Phạm Hưng, Trần Mạnh Thành, Bùi Hữu Duy,
Trang 8Nghiệp vụ thư ký văn phòng hiện đại, NXB Lao động, Thành phố Hồ Chí Minh, 2009
- PGS.TS Vũ Thị Phụng, Giáo trình Nghiệp vụ thư ký văn phòng, Hà Nội, 2010
- Trường Cao đẳng Nội Vụ Hà Nội, Nghiệp vụ thư ký văn phòng, Hà Nội, 2009
Cùng với đó là các Công trình nghiên cứu, Báo cáo, Luận văn tốt nghiệp nghiên
cứu về tổ chức hội nghị như:
- Đề tài: Tìm hiểu Quy trình tổ chức Hội nghị ở Tổng cục Thuế – Trần Thị Vân
Anh – TKVPK2 – Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
- Đề tài: Tìm hiểu Quy trình tổ chức một loại hình Hội họp cụ thể ở các cơ quan,
tổ chức – Nguyễn Thị Bích Hằng – Liên thông TKVPK2 – Trường Đại học Nội vụ Hà
Nội
- Đề tài: Quy trình tổ chức Hội nghị trong cơ quan, tổ chức – Trần Thị Thanh
Hoài – Liên thông TKVPK2 - Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
- Đề tài: Tìm hiểu công tác tổ chức Hội thảo tại Trường Cao đẳng Nội vụ Hà
Nội – Ngô Thi Lệ – TKVPK3 – Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
- Đề tài: Tìm hiểu Quy trình tổ chức một số loại hình Hội họp tại phòng Thông
tin khoa học Quân sự Trường Học viện Kỹ thuật Quân sự – Hoàng Thị Phương –
TKVK3 – Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
- Đề tài: Tìm hiểu Quy trình tổ chức một loại hình Hội nghị ở UBND – HĐND
huyện Như Thanh – Nguyễn Thị Thoa – TKVPK2 – Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
3 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về tổ chức hội nghị, đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng và đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao công tác tổ chức hội nghị của Văn
phòng Bộ Khoa học và Công nghệ
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để làm rõ mục tiêu nghiên cứu của đề tài có rất nhiều nhiệm vụ được đặt ra
trong đó tập trung vào các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Thứ nhất: Làm rõ Cơ sở lý luận về công tác Hội nghị trong cơ quan, tổ chức;
- Thứ hai: Khảo sát, đánh giá thực trạng công tác tổ chức Hội nghị của Văn
phòng Bộ Khoa học và Công nghệ;
- Thứ ba: Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện về công tác tổ chức Hội nghị
của Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 9Đối tượng nghiên cứu: Công tác tổ chức hội nghị của Văn phòng Bộ Khoa học
6 Giả thuyết nghiên cứu
Công tác tổ chức hội nghị của Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ đã rất tốt
vì đã ứng dụng tin học vào tất cả các khâu
7 Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp thống kê điều tra khảo sát
- Phương pháp so sánh -Phương pháp mô tả
- Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp
- Phương pháp phỏng vấn
8 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phụ lục thì nội dung chính
của đề tài bao gồm những phần sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về tổ chức hội nghị Chương này cho thấy những lý luận chung về hội nghị và nêu nên những nội
dung của quy trình của công tác tổ chức hội nghị
Chương 2 Thực trạng công tác tổ chức hội nghị tại Văn phòng Bộ Khoa học và
Công nghệ Chương này trình bày về chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng Bộ và các loại hội nghị do Văn phòng Bộ tổ chức.Tiến hành khảo sát công tác tổ chức hội nghị tại Văn phòng Bộ, đánh giá những ưu điển, hạn chế và tìm ra nguyên nhân
Chương 3 Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác tổ
Trang 10chức hội nghị tại Văn phòng Bộ Trong chương này, em xin mạnh dạn đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác tổ chức hội nghị của Văn phòng Bộ, trong đó nổi lên các giải pháp như: hoàn thiện thể chế có liên quan đến tổ chức hội nghị; giải pháp về công nghệ; giải
pháp về cơ sở vật chất
PHẦN NỘI DUNG Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC HỘI NGHỊ
1.1 Khái niệm hội nghị
Hội nghị là một hoạt động không thể thiếu trong hoạt động của mỗi cơ quan, tổ chức Là hình thức cơ bản để phát huy và thực hiện quyền dân chủ, tạo điều kiện để mọi người lao động tham gia vào hoạt động quản lý của cơ quan, tổ chức Đồng thời đây cũng là hình thức nhằm thông báo, trao đổi bàn bạc, thảo luận để tạo ra sự thống nhất, phối hợp hành động để giải quyết một hoặc một số vấn đề mà mọi người cùng
quan tâm
Để hiểu được những cơ sở lý luận về tổ chức hội nghị, ta cần làm sáng tỏ các khái niệm có liên quan đến Hội nghị như: hội nghị là gì, hội họp là gì, phân biệt hội nghị và hội họp Khi đi làm sáng tổ được các khái niệm này thì những lý luận có liên
Trang 11quan đến công tác tổ chức hội nghị sẽ trở lên dễ hiểu hơn
Hội nghị là cuộc họp mặt của nhiều người để bàn về một vấn đề quan trọng, diễn ra theo quy trình, thủ tục nhất định và thường đưa ra các nghị quyết hoặc các
quyết định [2;149]
Họp là một hình thức của hoạt động quản lý nhà nước, một cách thức giải quyết công việc, thông qua đó thủ trưởng cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp thực hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động trong việc giải quyết các công việc thuộc chức
năng, thẩm quyền của cơ quan mình theo quy định của pháp luật.[10]
Hội họp là sự tập hợp ở một nơi để làm việc, hoặc tìm ra cách làm việc chung
1.2 Vai trò, ý nghĩa của tổ chức hội nghị
- Hội nghị là nơi để phát huy quyền làm chủ của mọi người, để mọi người bày
tỏ quan điểm, bàn bạc đóng góp ý kiến giúp cho Lãnh đạo có quyết định đúng đắn Qua hội nghị, một số quyết định được ban hành, một số tư tưởng quan điểm mới được
thừa nhận
- Khi cơ quan, tổ chức mở các Hội nghị sẽ giúp thủ trưởng cơ quan đánh giá được tình hình hoạt động của cơ quan trong một năm, để từ đó phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong quá trình hoạt động Sau đó cùng nhau bàn bạc tìm ra phương án giải quyết để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc và
đưa ra phương hướng hoạt động cho năm tới
Trang 12- Tổ chức Hội nghị là cơ hội để các phòng, ban, đơn vị trong cơ quan giao lưu, học hỏi lẫn nhau trong quá trình làm việc, nâng cao tinh thần đoàn kết trong nội bộ cơ quan, luôn đặt lợi ích của tập thể lên hàng đầu Thông qua các giai đoạn của tổ chức hội nghị các đơn vị, cá nhân tham gia vào quá trình chuẩn bị tổ chức hội nghị sẽ học hỏi được những kinh nghiệm trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ chuẩn bị, tiến hành cũng kết thúc hội nghị Từ đó việc tổ chức hội nghị của các đơn vị được tốt hơn
- Hội nghị là nơi các thành viên trong cơ quan và ngoài cơ quan trao đổi, đóng góp ý về một vấn đề nào đó, giúp cơ quan có được nhiều phương án hoạt động và sau
đó sẽ cùng nhau thống nhất một phương án tối ưu nhất cho hoạt động của cơ quan, tổ chức Giúp cho hoạt động của cơ quan, tổ chức được ổn định và bền vững
1.3 Phân loại tổ chức hội nghị
Có nhiều căn cứ khác nhau để phân loại hội nghị trong đó điển hình có một số
căn cứ phổ biến sau:
a Căn cứ vào tính chất và mục đích của hội nghị thì có thể phân thành:
- Hội nghị phát triển: thông qua hội nghị để phổ biến cho mọi người các chủ trương, chính sách, đường lối, các chương trình kế hoạch hành động nhằm nâng cao trình độ nhận thức và tạo tiền đề cho việc thực hiện các chủ trương, đường lối và
cao và hành động thống nhất trước khi triển khai
- Hội nghị bàn bạc, giải quyết vấn đề:
+ Tập thể thảo luận một hoặc một số vấn đề cụ thể đểthống nhất ra một quyết định tập thể Ví dụ như hội nghị đề xuất hình thức và mức độ khen thưởng hay kỷ luật đối với một cá nhân, đơn vị hoặc hội nghị bàn bạc thảo luận cách tháo gỡ khó khăn về
giải quyết tình trạng vỡ ống nước tại Thành phố Hà Nội chẳng hạn
+ Tập thể thảo luận một hoặc một số vấn đề cụ thể nhưng không quyết định mà
là thủ trưởng căn cứ vào đó để đưa ra quyết định Ví dụ như Hội nghị bàn bạc thảo
luận các vấn đề công tác
b Căn cứ vào các khâu của quá trình quản lý
Trang 13- Hội nghị bàn bạc ra quyết định
- Hội nghị phổ biến, triển khai: quyết định ban hành cần được phổ biến, tổ chức thực hiện Loại hội nghị này nhằm phổ biến quán triệt, tư tưởng, quan điểm chủ trương, chính sách, giải pháp đã trình bày trong các trong quyết định đến các đối tượng (tùy phạm vi và nội dung của quyết định) Mặt khác thông qua cuộc họp để bàn bạc, xây dựng chương trình, kế hoạch biện pháp thực hiện các quyết định Ví dụ như hội nghị tổng kết công tác năm 2014 và triển khai phương hướng nhiệm vụ năm 2015 Trong hội nghị này, Lãnh đạo cơ quan, tổ chức phổ biến, hay thông báo những kết quả đã đạt
được trong năm cũ và tiến hành triển khai nhiệm vụ công tác năm mới
- Hội nghị kiểm tra đôn đốc: trong quá trình triển khai quyết định có thể xảy ra các tình huống: các đơn vị triển khai thực hiện tốt, có nhiều sáng kiến, biện pháp sáng tạo, thực hiện tốt các quyết định, ngược lại cũng có những đơn vị thực hiện chưa tốt các quyết định do chưa hiểu đúng tinh thần, hoặc chưa tích cực sáng tạo trong tổ chức thực hiện Chính vì vậy cần phải tổ chức những hội nghị để triển kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các quyết định quản lý của cơ quan Ví dụ như các hội nghị sơ kết, hội nghị đánh giá công tác ứng dụng tin học trong công tác hành chính, hội nghị đánh giá tiến trình ứng dụng hệ thống quản lý chất lượng vào công tác văn thư lưu trữ của Văn
phòng Bộ Khoa học và Công nghệ năm 2014
- Hội nghị sơ kết, tổng kết: mỗi quyết định, chương trình kế hoạch đều có mục tiêu, chỉ tiêu rõ ràng và thời gian cụ thể Vì vậy, cần tổ chức hội nghị sơ kết để đánh giá việc thực hiện quyết định trao đổi kinh nghiệm hay uốn nắn các lệch lạc để tiếp tục thực hiện quyết định tốt hơn ở giai đoạn sau Ví dụ hội nghị sơ kết công tác thanh tra 6
tháng đầu năm 2014
c Căn cứ vào hình thức tổ chức
- Hội nghị không chính thức: do yêu cầu bí mật hoặc những lý do tế nhị các bên gặp nhau, bàn bạc nhưng không muốn để cho nhiều người biết, hội nghị được tổ chức nhưng không chính thức công bố Cũng có khi một tổ chức muốn họp nội bộ để bàn riêng một số vấn đề gọi là hội nghị kín Ví dụ như các cuộc họp của Lãnh đạo Bộ với
các cán bộ chủ chốt
- Hội nghị chính thức, công khai: đây là những hội nghị do các đơn vị, những người có trách nhiệm đứng ra tổ chức một cách công khai theo đúng chương trình kế hoạch Hội nghị này được phổ biến công khai nên số lượng người biết và tham gia vào
Trang 14trước khi ra quyết định theo chức năng, thẩm quyền
- Họp làm việc là cuộc họp của cấp trên với thủ trưởng cơ quan, đơn vị cấp dưới để giải quyết những công việc có tính chất quan trọng vượt quá thẩm quyền của cấp dưới hoặc để kiểm tra trực tiếp tại chỗ về tình hình thực hiện các nhiệm vụ công
tác của cấp dưới
- Họp chuyên môn là cuộc họp để trao đổi, thảo luận những vấn đề thuộc về chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ nhằm xây dựng và hoàn thiện các dự án, đề án
- Họp giao ban là cuộc họp của lãnh đạo cơ quan, đơn vị hành chính nhà nước
để nắm tình hình triển khai thực hiện nhiệm vụ công tác; trao đổi ý kiến và thực hiện
chỉ đạo giải quyết các công việc thường xuyên
- Họp tập huấn, triển khai (Hội nghị tập huấn, triển khai) là cuộc họp để quán triệt, thống nhất nhận thức và hành động về nội dung và tinh thần các chủ trương, chính sách lớn, quan trọng của Đảng và Nhà nước về quản lý, điều hành hoạt động
kinh tế - xã hội
- Họp tổng kết (Hội nghị tổng kết) hàng năm là cuộc họp để kiểm điểm, đánh giá tình hình và kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác hàng năm và bàn phương hướng nhiệm vụ công tác cho năm tới của cơ quan, đơn vị hành chính nhà nước
- Họp sơ kết hoặc tổng kết (Hội nghị sơ kết hoặc tổng kết) chuyên đề là cuộc họp để đánh giá tình hình triển khai và kết quả thực hiện một chủ trương, chính sách
quan trọng.[10]
1.4 Quy trình tổ chức hội nghị
1.4.1 Quy trình tổ chức các hội nghị bình thường, không nghi thức
Các hội nghị nội bộ, bình thường không nghi thức như các cuộc các hội nghị giao ban tuần, tháng, các hội nghị giải quyết vấn đề, các hội nghị thông báo,… các hội
nghị này do các cấp quản trị trong cơ quan triệu tập và chủ trì
Đối với các hội nghị bình thường không nghi thức thì việc tiến hành tổ chức hội
Trang 15nghị cũng tương đối dễ dàng đối với các cán bộ, nhân viên của các đơn vị
Sơ đồ 1.1 Các công việc cần phải làm để tổ chức một hội nghị không nghi
- Chuẩn bị tài liệu: Đôi khi hội nghị cần nhiều phương tiện hỗ trợ, thư ký cần
chuẩn bị:Tài liệu phát tại chỗ
- Chuẩn bị công cụ nghe nhìn: Dụng cụ nghe nhìn máy chiếu ( overhad
projector, video, bảng viết, sơ đồ)
- Chuẩn bị nước giải khát: Phục vụ trà, nước suối nếu hội nghị ngắn gọn Đối với các hội nghị dài, thư ký phải linh hoạt theo sự chỉ đạo của cấp trên hoặc giờ giải lao mới phục vụ nước giải khát, hoặc để trên bàn sẵn cho người tham dự
- Ghi biên bản: Thông thường, các hội nghị không cần nghi thức, biên bản chỉ
cần ghi ý chính và tóm tắt
- Theo dõi: Sau hội nghị thường các cấp quản trị yêu cầu thư ký soạn thảo bản tóm tắt trích từ biên bản, đôi khi còn gửi cho các thành viên tham dự Thư ký giữ lại bản chính để lưu Theo dõi việc thực hiện các quyết định hội nghị [2;153-155]
1.4.2 Hoạch định và tổ chức các hội nghị theo nghi thức
Các hội nghị trang trong nghi thức là các cuộc hop:
Các công việc cần làm khi tổ chức hội nghị
không nghi thức
Theo dõi
dự
Chuẩn
bị tài liệu
Chuẩn
bị công
cụ nghe nhìn
Chuẩn
bị nước giải khát
Ghi biên bản
Trang 16- Các hội nghị lớn;
- Các hội nghị có ý nghĩa quan trọng các thành viên có các ý kiến khác nhau;
- Tập thể cần đưa ra các quyết định có tính pháp lý mà tất cả các thành viên đều
phải bị ràng buộc tuân theo
Quy trình tổ chức Hội nghị tại cơ quan, tổ chức thường có 3 giai đoạn như sau:
Lập kế hoạch Hội nghị Căn cứ vào chương trình kế hoạch công tác năm, quý, tháng của cơ quan, văn phòng xây dựng kế hoạch hội nghị cho từng năm, tháng, quý [2;153] Như vậy theo quan điểm của GS Nguyễn Thành Độ thì việc xây dựng kế hoạch tổ chức hội nghị của
cơ quan sẽ do Văn phòng đảm nhận Đây là các quan điểm đứng trên khía cạnh chức năng của Văn phòng cụ thể là chức năng tham mưu, tổng hợp Có quan điểm khác cho rằng: Tùy theo tính chất, tầm vóc, quy mô và mục đích mà nhà quản lý đặt ra khi tổ chức Hội nghị việc lập kế hoạch tổ chức Hội nghị có thể được hoặc không được tiến
hành hoặc có những yêu cầu đặc biệt trong kỹ thuật xây dựng.[2;150]
Kế hoạch Hội nghị là một văn bản có tính định hướng trình bày những vấn đề
cơ bản liên quan đến việc tổ chức hội nghị
Kế hoạch Hội nghị bao gồm các nội dung cơ bản sau:
+Mục đích, yêu cầu của Hội nghị
+ Tên Hội nghị
+ Thời gian Hội nghị
+ Địa điểm Hội nghị
+ Thành phần Hội nghị
+ Nội dung Hội nghị
Giai đoạn 1: Giai đoạn chuẩn bị
Sơ đồ 1.2 Các bước trong giai đoạn chuẩn bị Hội nghị có nghi thức
Bước 3: Soạn thảo và gửi giấy mời
Bước 4:
Chuẩn bị địa điểm Hội nghị
Bước 7: Chuẩn
bị kinh phí tổ chứên bản Hội nghị
Bước 6:
Chuẩn bị ghi biên bản Hội nghị
Bước 5:
Chuẩn bị thời gian
Bước 8: Chuẩn bị
các yếu tố khác
Trang 17Bước 1: Xây dựng chương trình nghị sự Hội nghị Chương trình nghị sự Hội nghị là một văn bản trình bày lịch trình công việc sẽ
được tiến hành tại Hội nghị
Khi xây dựng chương trình nghị sự cán bộ chuyên môn phải xây dựng thành hai
những nội dung mà họ quan tâm
Hai chương trình nghị sự về cơ bản đều phải trình bày các nội dung thông tin
Danh sách khách mời bao gồm các nội dung sau:
Trang 18đó
Tùy thuộc vào vị trí của từng đại biểu, tính chất của mối quan hệ và các nghi thức phải tuân thủ sẽ có nhiều mẫu giấy mời khác nhau Sự trang trọng của giấy mời sẽ tạo nên những đánh giá ban đầu của đại biểu về thái độ, sự tôn trọng của cơ quan hay quy mô của chính Hội nghị Thư ký sẽ là người trực tiếp soạn thảo giấy mời
Thông thường một mẫu giấy mời cần đảm bảo các nội dung sau:
+ Tên cơ quan, đơn vị, cá nhân mời
Bước 4: Chuẩn bị địa điểm tổ chức Hội nghị
Việc lựa chọn địa điểm cho các Hội nghị được căn cứ vào tính chất, mục đích của Hội nghị, căn cứ vào số lượng và đặc điểm, vị trí của người tham dự, căn cứ vào điều kiện của cơ quan, tổ chức Địa điểm tổ chức Hội nghị có thể là ở trong cơ quan và
ngoài cơ quan
Ngoài hội trường - nơidiễn ra hội nghị thì Ban tổ chức cần chuẩn bị thêm các khu vực cạnh hội trường dành cho đại biểu, khách mời trước khi vào tham gia Hội nghị như khu vực để xe, khu vực vệ sinh, khu vực ăn uống, khu vực nghỉ giải lao Khi đã lựa chọn được địa điểm tổ chức hội nghị thì Ban tổ chức phối hợp với các cán bộ, phòng, ban, đơn vịchuẩn bị hệ thống như âm thanh, ánh sáng…để có
phương án dự phòng
Sau khi đã chuẩn bị toàn bộ hệ thống và trang thiết bị tại hội trường thì Ban tổ chức cần kiểm lại toàn bộ các hệ thống và trang thiết bị một lần nữa để đảm bảo an
toàn trong quá trình Hội nghị diễn ra
Bước 5: Chuẩn bị thời gian Hội nghị Thời gian chi tiết của Hội nghị đã được xác định tại chương trình nghị sự, tuy nhiên để đảm bảo thành công Hội nghị cần lưu ý một số vấn đề sau:
- Không tổ chức hội nghị vào thời điểm mà một số đại biểu chủ chốt không
tham dự được
- Thời gian dự phòng trước và sau Hội nghị
Trang 19- Thời gian dự phòng khi thực hiện từng nội dung hoặc khi chuyển tiếp các
phần trong chương trình nghị sự
Bước 6: Chuẩn bị ghi biên bản Hội nghị
Biên bản Hội nghị là văn bản ghi lại những diễn biến của Hội nghị, là bằng chứng để chứng minh cho các sự kiện xảy ra trong Hội nghị
Công việc ghi biên bản tại Hội nghị được giao cho một cá nhândo đơn vị chủ trì hội nghị cử hoặc do Thư ký Văn phòng trực tiếp đảm nhiệm
Để chuẩn bị tốt cho việc ghi biên bản tại Hội nghị thì đơn vị chủ trì hội nghị cần
thực hiện các công việc sau:
- Xin ý kiến lãnh đạo về hình thức ghi biên bản Hội nghị để giao cho Thư ký
Hội nghị thực hiện tại Hội nghị
- Kiểm tra lại vị trí chỗ ngồi của Thư ký Hội nghị
- Chuẩn bị các phương tiện phục vụ hoặc hỗ trợ kỹ thuật ghi biên bản như máy tính, máy ghi âm, máy ảnh, sổ ghi biên bản, giấy ghi biên bản
- Ngoài ra cần chuẩn bị hồ sơ, tài liệu phục vụ cho kỹ thuật ghi biên bản Hội
nghị
Bước 7: Chuẩn bị kinh phí tổ chức Hội nghị
Căn cứ vào quy mô và yêu cầu tổ chức, đơn vị chủ trì lập một bản dự trù kinh phí các khoản chi tiêu cho Hội nghị như kinh phí trang trí hội trường (cờ, hoa, băng rô, maket…), kinh phí đi lại cho đại biểu, kinh phí khen thưởng…Sau khi hoàn thành trình lên lãnh đạo cơ quan xem xét và phê duyệt nguồn kinh phí để tiến hành việc tổ
chức Hội nghị
Bước 8:Chuẩn bị các yếu tố khác
Bên cạnh việc chuẩn bị các yếu tố đã kể trên thì Ban tổ chức Hội nghị phải chuẩn bị thêm các yếu tố khác như; chuẩn bị phương tiện đưa đón đại biểu; chuẩn bị
nước uống; chuẩn bị thẻ đại biểu; chuẩn bị công tác y tế
Giai đoạn 2: Giai đoạn tiến hành Hội nghị [27;158-160]
Sơ đồ 1.3.Các bước tiến hành Hội nghị có nghi thức
Bước 3: Giữ đúng giờ giải lao
và giờ đọc báo cáo tham luận
Bước 4: Ghi biên bản Hội nghị
Trang 20Bước 1: Đón tiếp đại biểu
Đón tiếp đại biểu là nhiệm vụ đầu tiên được thực hiện trong quá trình diễn ra hội nghị Việc thực hiện nhiệm vụ đón tiếp đại biểu sẽ giúp cơ quan thể hiện thiện chí
của mình đến với các đại biểu, khách mời đến tham dự Hội nghị
Tuỳ theo số lượng, trình độ và vị trí của từng đại biểu, thì Ban tổ chức có thể áp dụng nhiều hình thức khác nhau trong việc đón tiếp đại biểu
Đối với Hội nghị có quy mô nhỏ thì việc đón tiếp có thể được tiếp hành đối với từng đại biểu Việc đón tiếp đại biểu sẽ giao cho một cá nhân hay một nhóm người
trong đơn vị, cơ quan đảm nhiệm
Đối với Hội nghị có quy mô lớn có thể sử dụng băng rô, cờ hoa, khẩu hiệu chào mừng hoặc thông qua diễn văn khai mạc của người dẫn chương trình
Đón tiếp đại biểu đòi hỏi cần phải chu đáo và thận trọng trong từng cử chỉ,
tránh ảnh hưởng đến hình ảnh của cơ quan
Bước 2: Điểm danh đại biểu
Việc điểm danh đại biểu giúp cho Ban tổ chức xác định được chính xác số lượng đại biểu chính thức đến tham dự hội nghị Điều này còn liên quan tới giá trị của các Hội nghị Đối với một số hội nghị, Nghị quyết chỉ có giá trị pháp lý nếu đảm bảo
đủ số lượng đại biểu có mặt biểu quyết nhất trí
Ban tổ chức Hội nghị có thể áp dụng nhiều hình thức khác nhau để điểm danh đại biểu Một số hình thức điểm danh đại biểu trong Hội nghị như:
- Sơ đồ vị trí chỗ ngồi
- Thẻ đại biểu
- Đăng ký của trưởng đoàn đại biểu tại ban lễ tân
Một phiếu đăng ký có mặt bao gồm các nội dung sau: Họ và tên, đơn vị công tác, chức vụ, tham dự hội nghị, thời gian, và có dòng lưu ý “Đề nghị gửi về cho Ban tổ
chức trước giờ, ngày tháng năm ”
Bước 3: Giữ đúng giờ giải lao và báo cáo tham luận cho đại biểu đọc tham luận
Để đảm bảo giữ đúng giờ giải lao trong quá trình hội nghị diễn ra thì Ban tổ chức nên công khai chương trình nghị sự Hội nghị để gửi cho các đại biểu có liên quan Trong trường hợp chương trình nghị sự có sự thay đổi thì Ban tổ chức phải báo cáo kịp
thời cho các đối tượng có liên quan
Trang 2115
Giờ giải lao không chỉ giảm căng thẳng của Hội nghị mà còn là bước chuyển tiếp nội dung giữa các chương trình chính vì vậy việc duy trì giờ giải lao là rất cần
thiết
Bước 4: Ghi biên bản Hội nghị
Người được giao nhiệm vụ ghi biên bản tại hội nghị không nhất thiết là Thư ký Văn phòng Thư ký Hội nghị có thể là cán bộ, nhân viên của cơ quan, tổ chức
Các yêu cầu đối với việc ghi biên bản:
Việc ghi biên bản cần tuân thủ các thủ tục sau:
- Sau khi ghi xong biên bản phải thông qua lãnh đạo, việc thông qua này cũng
phải được ghi vào biên bản
- Biên bản phải có đầy đủ chữ ký của các đối tượng cơ bản có liên quan
- Trường hợp phải gửi biên bản đến một cơ quan khác khi cần thiết thì phải được thủ trưởng cơ quan ghi xác nhận và đóng dấu Ngoài ra phải gửi kèm theo một
công văn Nếu biên bản có nhiều trang phải đóng dấu giáp lai
Biên bản Hội nghị phải gồm các nội dung chính sau đây:
-Người chủ trì và danh sách những người tham dự có mặt tại hội nghị
- Các nội dung được bàn bạc trong hội nghị
- Ý kiến của các đơn vị
- Kết luận của Lãnh đạo cơ quan Giai đoạn 3: Giai đoạn kết thúc Hội nghị
Sơ đồ 1.4 Các bước tiến hành sau khi Hội nghị kết thúc
Trang 22Khi Hội nghị kết thúc cần tiến hành thực hiện các công việc sau:
- Ban tổ chức phối hợp các phòng ban chức năng giải quyết các giấy tờ, thủ tục
liên quan tới kỹ thuật tổ chức Hội nghị
- Tiến hành thu thập các văn bản hình thành trong quá trình tổ chức hội nghị để
phục vụ công tác lập hồ sơ Hội nghị
- Lập hồ sơ Hội nghị, bao gồm toàn bộ văn bản giấy tờ hình thành trong quá trình tổ chức hội nghị như: biên bản Hội nghị, các báo cáo tham luận, diễn văn khai
mạc, bế mạc…
- Lưu hồ sơ Hội nghị Đơn vị chủ trì hội nghị tiến hành lưu hồ sơ hội nghị theo
đúng các quy định của nhà nước đã quy định
- Giúp lãnh đạo thông báo và triển khai kết luận của Hội nghị
- Tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm sau Hội nghị
Trên đây là toàn bộ các cơ sở lý luận về các quy trình thực hiện các công việc
có liên quan đến công tác tổ chức hội nghị trong một cơ quan Đây sẽ là những tiền đề quan trong để em thực hiện việc nghiên cứu thực trạng công tác tổ chức hội nghị tại Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ Đồng hời sẽ là căn cứ giúp em đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức hội nghị tại Văn phòng Bộ Khoa học và Công
nghệ
Trang 23Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC HỘI NGHỊ TẠI VĂN PHÒNG BỘ
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 2.1 Giới thiệu khái quát về Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ
a Chức năng của Văn phòng Bộ
Tại Điều 1 của Quy chế tổ chức và hoạt động của Văn phòng Bộ ( Ban hành kèm theo quyết định số 886/QĐ-BKHCN ngày 22 tháng 4 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ
Khoa học và Công nghệ) (Phụ lục 01) đã quy định rất rõ về vị trí và chức năng của
Văn phòng Bộ như sau:
“Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ (sau đây gọi tắt là Văn phòng Bộ) là đơn vị trực thuộc Bộ Khoa học Công nghệ, thực hiện chức năng tham mưu tổng hợp
về chương trình, kế hoạch công tác và phục vụ hoạt động của Bộ, Bộ trưởng; điều phối, tổng hợp, theo dõi, đôn đốc các tổ chức, đơn vị thuộc Bộ thực hiện chương trình kế hoạch công tác của Bộ; theo dõi, đôn đốc, tổng hợp tình hình thực hiện Quy chế làm việc của Bộ; thực hiện công tác hành chính, văn thư, lưu trữ, lễ tân, quản trị, an ninh bảo vệ,quân sự, y tế, tài chính, đầu tư xây dựng, quản lý cơ sở vật chất-kỹ thuật, tài sản, kinh phí hoạt động đảm bảo phương tiện, điều kiện làm việc phục vụ cho hoạt động
của Cơ quan Bộ
Văn phòng Bộ có con dấu riêng, được mở tài khoản kho bạc Nhà nước, ngân hàng để hoạt động và giao dịch theo quy định của pháp luật.” [15]
Như vậy ở đây ta có thể nhận thấy các vị trí cũng như chức năng của Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ đã đảm bảo đầy đủ các chức năng chính của một văn phòng như đã được học tại các lý luận về văn phòng và quản trị văn phòng đã
được học trong nhà trường
Hiện nay Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý 73 cán bộ công chức viên chức Trong đó có 60 cán bộ làm việc theo biên chế nhà nước và có 13 cán bộ là
nhân viên hợp đồng
Trang 24Bảng 2.1 Số lượng cán bộ của văn phòng trong giai đoạn 2012 – 2015
sự tham gia, phối hợp của nhiều người
b Nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ
Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Văn phòng Bộ đã được quy định tại Điều 2 Quy chế tổ chức và hoạt động của Văn phòng Sau đây em xin được tóm tắt lại các nhiệm
vụ, quyền hạn của văn phòng gồm:
- Tham mưu cho Bộ trưởng trong công tác chỉ đạo, điều hành các hoạt động của
Bộ;
- Xây dựng, trình Bộ trưởng ban hành Quy chế làm việc và các quy định nội bộ khác của Bộ; theo dõi, đôn đốc, tổng hợp tình hình thực hiện Quy chế sau khi được
Trang 25ban hành
- Thực hiện công tác văn thư, lưu trữ của Bộ;
- Là đầu mối cung cấp thông tin cho các phương tiện truyền thông đại chúng, các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật và phân công của Bộ trưởng
- Phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ thực hiện các chế độ, chính sách đối với cán
bộ, công chức, viên chức và người lao động của cơ quan Bộ; thực hiện thăm hỏi, thăm
viếng, tang lễ theo phân cấp chỉ đạo của Bộ trưởng
- Quản lý kinh phí hoạt động của cơ quan Bộ; quản lý các nguồn kinh phí khác
khi được Bộ trưởng giao
- Quản lý và đảm bảo cơ sở vật chất, tài sản, phương tiện, trang thiết bị và điều
kiện làm việc của Lãnh đạo Bộ và Cơ quan Bộ
- Chủ trì quản lý đầu tư xây dựng đối với các đơn vị trực thuộc Bộ;
- Thực hiện công tác lễ tân và hậu cần phục vụ các hội nghị, Hội nghị làm việc
của Bộ;
- Chủ trì tổ chức công tác quân sự - quốc phòngtại cơ quan Bộ
- Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ
- Quản lý cán bộ, tài sản, tài liệu của văn phòng Bộ theo phân cấp của bộ và
quy định của pháp luật
- Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được Bộ trưởng giao
c Cơ cấu tổ chức
Theo Điều 3, 4 của Quy chế Tổ chức và hoạt động của Văn phòng có quy định
về cơ cấu tổ chức của Văn phòng Bộ, em xin khái quát lại như sau
Chánh văn phòng Bộ: người đứng đầu Văn phòng Bộ, là người lãnh đạo và điều hành mọi hoạt động của Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm
trước Lãnh đạo Bộ về toàn bộ hoạt động của Văn phòng
Các Phó Chánh văn phòng Bộ (03 người ) giúp Chánh văn phòng trong việc lãnh đạo công tác của Văn phòng Bộ; được quyết định những vấn đề thuộc phạm vi, nhiệm vụ được phân công và chịu trách nhiệm trước Chánh Văn phòng về công việc
được giao
Về tổ chức bộ máy của Văn phòng có thể phân thành hai nhóm thực hiện hai chức năng chính của Văn phòng gồm nhóm đơn vị thực hiện chức năng tham mưu, tổng hợp và nhóm đơn vị thực hiện chức năng hậu cần (Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Văn
phòng Bộ - Xem tại Phụ lục 2 )
Trang 26Nhóm đơn vị thực hiện chức năng tham mưu, tổng hợp bao gồm: Phòng Tổng
hợp; Phòng Hành chính-Tổ chức; Phòng Lưu trữ;
Nhóm đơn vị thực hiện chức năng đảm bảo cơ sở vật chất, an ninh gồm: Phòng Tài vụ; Phòng Quản trị-Y tế; Phòng Quản lý đầu tư xây dựng; Phòng Lễ tân; Phòng
Quản lý xe; Ban chỉ huy Quân sự Bộ
Như vậy Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ đã thực hiện đầy đủ các chức năng chính của một văn phòng nói chung Chính vì vậy các nhiệm vụ của Văn phòng cũng được cụ thể hóa và đảm bảo thực hiện đầy đủ các chức năng chính Về cơ cấu tổ chức của Văn phòng cũng được tổ chức theo chức năng chuyên môn, tức là gồm các phòng thực hiện các nhiệm vụ khác nhau, đảm bảo chức năng của văn phòng được
thực hiện một cách đầy đủ và tốt nhất
2.2 Các loại hội nghị do Văn phòng tổ chức
Trong hoạt động của các cơ quan, đơn vị việc tổ chức và điều hành có hiệu quả các hội nghị có vai trò rất quan trọng Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ trong phạm vi cả nước nên việc tổ chức hội nghị được diễn ra thường xuyên dưới nhiều hình thức và quy mô khác nhau, thành phần tham dự có cả trong nước và quốc tế Chính vì vậy Văn phòng Bộ cần thực hiện tốt các khâu tổ chức hội nghị sao cho khoa học và hợp lý để mang lại hiệu quả cao nhất khi
tiến hành
Văn phòng Bộ là đơn vị thực hiện chức năng giúp việc hậu cần cho Bộ, chính vì vậy hầu như tất cả các hội nghị của Bộ, Văn phòng đều đứng ra tổ chức công tác hậu cần (do Phòng Lễ tân thuộc Văn phòng Bộ quản lý và thực hiện) Chính vì vậy, Văn phòng mới có thể thống kê và báo cáo lãnh đạo bộ đầy đủ số lượng hội nghị và hội
nghị của cơ quan, của từng đơn vị trong từng năm
Theo thống kê tại Phòng Lễ tân thuộc Văn phòng Bộ thì từ năm 2012 đến 2015
số lượng các hội nghị và hội nghị mà Phòng đã tham gia vào công tác chuẩn bị tổ chức
hội nghị được thống kê tại bảng sau
Bảng 2.2 Số lượng các loại hình hội nghị của Bộ
tổ chức giai đoạn 2012 – 2015
(Đơn vị: cuộc )
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Trang 27Các hội nghị 748 53,8 756 50,4 770 44,2 780 43,2 Các hội nghị 169 12,1 180 12 197 11,3 208 11,4 Các hội thảo 138 11,2 176 11,7 208 11,9 234 13
Tổng số 1389 100 1500 100 1741 100 1809 100
(Nguồn: Báo cáo công tác hàng năm của Văn phòng Bộ )
Căn cứ vào bảng 2.2 khi ta tiến hành xử lý số liệu theo cơ cấu ta sẽ biết được
số lượng các hội nghị, hội nghị chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng số các lần tổ
chức hội nghị tại đơn vị
Như vậy nhìn vào bảng số liệu trên ta có thể thấy được số lượng các hội nghị, hội nghị, hội thảo, tiếp khách của Bộ là rất lớn và được duy trì ở mức ổn định qua các
Trang 28780 hội nghị) Như vậy số lượng hội nghị năm 2013 lên 2014 là tăng nhanh và mạnh nhất 14 cuộc Sở dĩ có sự tăng mạnh như vậy vì năm 2013, các cơ quan đơn vị của Bộ
đã và đang trong quá trình ổn định tổ chức (vì năm 2012 Bộ chuyển từ trụ sở cũ (39 Trần Hưng Đạo) về trụ sở mới (113 Trần Duy Hưng) việc xây dựng mới các văn bản quy định về chế độ làm việc cũng như công tác của cơ quan, đơn vị Chính vì vậy mà
số lượng các hội nghị trong năm 2014 tăng nhanh như vậy Còn các năm sau (2014, 2015), thì Chình phủ có chỉ đạo cho Bộ tiến hành xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế có liên quan, thuộc Lĩnh vực quản lý của Bộ, chính vì vậy Lãnh đạo Bộ, và các đơn vị có liên quan phải thường xuyên tổ chức các hội nghị để bàn bạc, giải quyết công việc Mặc dù số lượng các hội nghị có tăng đều qua các năm nhưng cơ cấu hội nghị trong các loại hình hội hội nghị lại có xu hướng giảm qua các năm Từ năm 2012
là 53,8% giảm xuống còn 50,4% (năm 2013), 44,2% (năm 2013), 43,2 (năm 2015) Sự biến động trái ngược này là do số lượng các loại hình khác cũng tăng lên làm cho số
lượng hội nghị dù có tăng lên nhưng cơ cấu lại không tăng được
Số lượng các hội nghị, của Bộ cũng tăng đều qua các năm cụ thể: từ năm 2012 đến năm 2013 tăng 24 hội nghị ( từ 169 hội nghị lên 180 hội nghị), từ năm 2013 đến
2014 tăng 17 hội nghị (từ 180 hội nghị đến 197 hội nghị), từ năm 2014 đến 2015 tăng
8 hội nghị (từ 197 hội nghị đến 208 hội nghị) Cơ cấu hội nghị trong bảng phần trăm các loại hình hội nghị của Bộ cũng có xu hướng giảm chậm từ 12,1% (năm 2012) xuống 12% (năm 2013), 11,3% (năm 2014) và 11,4% (năm 2015) Sự biến động này là
do sự tăng mạnh của các loại hình khác (tiếp khách, hội thảo) nên dù số lượng hội nghị
có tăng nhưng cơ cấu lại giảm
Các cuộc hội thảo cũng được tăng đều qua các năm cụ thể từ năm 2012 đến
2013 tăng 38 hội thảo (từ 138 hội thảo lên 176 hội thảo); từ năm 2013 đến 2014 tăng
32 hội thảo (từ 176 hội thảo lên 208 hội thảo ); từ năm 2014 đến 2015 tăng 32 hội thảo (từ 208 hội thảo đến 234 hội thảo) Cơ cấu hội thảo lại có sự tăng nhanh trong cơ cấu các loại hình hội nghị của Bộ cụ thể tăng từ 11,2% (năm 2012) lên 11,7% (năm 2013), 11,9% (năm 2014) và 13% (năm 2015) Sở dĩ các hội thảo có sự tăng nhanh và mạnh như vậy một phần là do các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước chỉ đạo đẩy mạnh học tập, ứng dụng, chuyển giao, tiếp thu các tiến bộ khoa học công nghệ của các nước trên thế giới Sự chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ, thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ, kế
hoạch công tác năm của Bộ, của từng đơn vị
Trang 29Các cuộc tiếp khách của Bộ cũng tăng đều qua các năm từ năm 2012 đến 2013 tăng 52 cuộc tiếp khách (từ 294 cuộc lên 346 cuộc); từ năm 2013 đến 2014 tăng 182 cuộc tiếp khách (từ 346 cuộc lên 528 cuộc); từ năm 2014 đến 2015 tăng 15 cuộc tiếp khách (từ 528 cuộc lên 543 cuộc) Cơ cấu các cuộc tiếp khách tăng nhanh và mạnh nhất trong các loại hình hội nghị của Bộ từ 21,1% (năm 2012) lên 23% (năm 2013),
30,3% (năm 2014), và 30% (năm 2015)
Các loại hình hội hội nghị khác cũng có sự gia tăng nhẹ: năm 2012 đến 2013 tăng 02 cuộc hội hội nghị từ (40 cuộc lên 42 cuộc); từ năm 2013 đến 2014 giảm 04 cuộc hội hội nghị (từ 42 cuộc xuống 38 cuộc); từ năm 2014 đến năm 2015 tăng 6 cuộc
(từ 38 cuộc lên 44 cuộc)
Sở dĩ tất cả các loại hình hội nghị ở Bộ đều có sự tăng qua các năm vì những
nguyên nhân sau đây:
- Sự chỉ đạo sát sao và quyết liệt của Chính phủ nhằm thực hiện thắng lợi nhanh chóng mục tiêu đưa đất nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020
- Trong giai đoạn này nước ta đang tiến hành đàm phán các hiệp định kinh tế và tiếp thu sự chuyển giao công nghệ của các nước phát triển trên thế giới, nên việc soạn thảo các văn bản mới, mang tính chất giao dịch quốc tế cũng như việc tiến hành đón tiếp các phái đoàn của các nước khác sang nước ta chuyển giao công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan quản lý nhà nước đàu ngành về khoa học và công nghệ lên việc đón tiếp đoan ngoại giao về khoa học công nghệ cũng như hội nghị bàn để
soạn thảo các văn bản giao dịch quốc tế là việc đương nhiên
- Cũng trong giai đoạn này Bộ có chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế quy định về khoa học và công nghệ chặt chẽ nhất để có thể đón đầu những cơ hội từ các hiệp định kinh tế mà Việt Nam đã, đang và sẽ là thành viên như ASEAN,
công và các hội nghị khi được Lãnh đạo Bộ giao phó
Theo Điều 43, 44 của Quy chế làm việc Quy chế làm việc của Bộ ( xem tại Phụ lục 03) thì hiện nay Bộ Khoa học và Công nghệ phải tiến hành những loại hội nghị
Trang 30sau:
- Các hội nghị do Lãnh đạo Bộ chủ trì bao gồm:
+ Hội nghị Lãnh đạo Bộ thường kỳ;
+ Hội nghị giao Ban Bộ hàng tuần, hàng tháng và tổng kết công tác năm của Bộ;
+ Hội nghị giao ban vùng, giao ban khối;
+ Lãnh đạo Bộ hội nghị, làm việc với Lãnh đạo cơ quan Trung ương và các tỉnh
thành phố trực thuộc Trung ương tại Trụ sở Bộ;
+ Lãnh đạo Bộ hội nghị, làm việc với Lãnh đạo địa phương và các đơn vị trong
ngành tại địa phương cơ sở;
+ Các Hội nghị khác để giải quyết công việc
- Các Hội nghị do thủ trưởng các thủ trưởng đơn vị thuộc Bộ chủ trì gồm: + Các đơn vị thuộc Bộ tổ chức các Hội nghị do lãnh đạo đơn vị chủ trì để giải quyết công việc chuyên môn và các công việc khác theo chức năng, nhiệm vụ của mỗi
dơn vị được quy định
+ Lãnh đạo các đơn vị có thể chủ trì các Hội nghị, làm việc với đại diện các cơ quan theo ủy quyền của Bộ trưởng, Thứ trưởng phụ trách theo quy định tại Quy chế
làm việc của Bộ Trong phạm vi thẩm quyền của Văn phòng Bộ đã đươc quy đinh tại Quy chế tổ chức và hoạt động của Văn phòng thì hiện nay Văn phòng phải tổ chức các loại hội
- Các loại hội nghị khác khi được Lãnh đạo Bộ phân công tổ chức hoặc phối
hợp tổ chức với các đơn vị khác thuộc Bộ
Trong quá trình khảo sát tại Phòng Lễ tân em có thống kê được số lượng gần chính xác các hội nghị do Văn phòng tổ chức giai đoạn 2012-2015 như sau:
Bảng 2.3 Số lượng các loại hình hội nghị do Văn phòng tổ chức
giai đoạn 2012 – 2015
(Đơn vị: cuộc)
Trang 31Nội dung Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
(Nguồn: Báo cáo công tác hàng năm của Văn phòng Bộ)
Nhìn vào bảng số liệu trên ta có thể nhận thấy số liệu các hội nghị do Văn
phòng tổ chức qua các năm không có biến động lớn Hội nghị cán bộ chủ chốt của Bộ
hàng năm chỉ được tổ chức 1 lần, nên số lượng hội nghị này qua các năm không có sự
biến động
Hội nghị toàn ngành, đây là hội nghị do Văn phòng tổ chức phối hợp với các
đơn vị khác trong cơ quan Bộ, nên số lượng hội nghị qua các năm cũng có sự biến
động nhẹ như trong hai năm đầu (năm 2012, năm 2013) đều duy trì là 2 hội nghị,
nhưng riêng đến năm 2014 số lượng hội nghị này lại giảm xuống còn 1 hội nghị/năm
và đến năm 2015 số lượng hội nghị này lại tăng lên con số 3 hội nghị/năm Sở dĩ hội
nghị này có sự biến động như vậy vì, hai năm đầu là hai năm bắt đầu triển khai thực
hiện kế hoạch chiến lược phát triển khoa học công nghệ giai đoạn 2010 – 2015, nội
dung công việc đang triển khai còn rất nhiều mà nội dung kế hoạch lại tương đối phức
Trang 32tạp nên số lượng hội nghị được tăng lên 2 hội nghị/năm Một hội nghị để triển khai nội dung ở các cơ quan trung ương, một hội nghị triển khai ở các cơ quan chuyên trách
ở địa phương Đến năm 2014 khi kế hoạch đang triển khai, năm này chủ yếu là đánh giá sơ bộ kết quả đã đạt được và chưa đạt được trong kế hoạch chiến lược và đề ra phương hướng, nhiệm vụ công tác trong năm mới, nội dung tương đối đơn giản nên hội nghị được tổ chức 1 lần/năm Đến năm 2015 là năm tổng kết kê hoạch chiến lược giai đoạn đầu và triển khai kế hoạch trong giai đoạn 2016 – 2020, nên nội dung hội
nghị tương đối dài và phức tạp nên tổ chức thành 3 hội nghị/năm
Hội nghị tập huấn công tác phục vụ công việc cũng được Lãnh đạo Bộ quan tâm và chú ý nên số lượng các hội nghị tập huấn cũng đi theo chiều tăng lên qua các năm năm 2012 là 5 hội nghị tập huấn,năm 2013 là 7, năm 2014 là 6, năm 2015 là 8
Các Hội nghị tổng kết công tác năm của Bộ, hội nghị tổng kết công tác năm của Văn phòng, Hội nghị tổng kết việc thực hiện một chủ trương chính sách, cũng được Lãnh đạo Bộ quan tâm lên số lượng hội nghị tổng kết có sự tăng từ năm 2012 là 3 hội nghị, năm
2013 là 2 hội nghị, năm 2014 và năm 2015 là 5 hội nghị
Bên cạnh việc tổ chức các hội nghị, đã được quy định rõ trong danh mục hội nghị hàng năm của Bộ Văn phòng Bộ còn phải phối hợp với các đơn vị có liên quan
để tổ chức các hội nghị của Lãnh đạo Bộ có liên quan đến nhiệm vụ của Văn phòng đã được quy định trong Quy chế tổ chức và hoạt động của Văn phòng Bộ Số lượng các hội nghi này cũng có sự biến động qua từng năm: năm 2012 là 30 hội nghị; năm 2013
là 33 hội nghị; năm 2014 là 31 hội nghị; năm 2015 là 34 hội nghị
Như vậy căn cứ vào bảng số liệu này, chúng ta có thể thấy được số lượng các hội nghị do Văn phòng tổ chức trong từng năm là rất lớn Nếu đem so sánh với bảng
số liệu thống kê các loại hội nghị, hội hội nghị của Bộ ta có thể tính ra được cơ cấu hội nghị của Văn phòng chiếm bao nhiêu phần trăm trong cơ cấu tổ chức hội nghị của toàn
Trang 33(Nguồn: Báo cáo công tác hàng năm của Văn phòng Bộ)
Nhìn vào bảng ta có thể thấy được vi trí quan trọng của Văn phòng trong việc tổ chức các hội nghị của Bộ Hiện nay Bộ Khoa học và Công nghệ có hơn 50 đơn vị trực thuộc, nhưng chỉ tính riêng số lượng hội nghị của Văn phòng Bộ đã chiến đến ¼ số lượng các hội nghị của Bộ Từ đây ta có thể thấy Văn phòng Bộ đã thực hiện tốt chức năng tham mưu tổng hợp và đảm bảo hậu cần phục vụ các hoạt động của Lãnh đạo Bộ
và toàn cơ quan Bộ
2.3 Thực trạng công tác tổ chức Hội nghị tại Văn phòng Bộ Khoa học và
Công nghệ
2.3.1 Công tác Lập kế hoạch tổ chức hội nghị
Có một lý thuyết chung ở Mỹ cho rằng: “Cứ mỗi giờ sự kiện đòi hỏi phải mất
từ 5 đến 10 giờ lập kế hoạch tổ chức” Từ lý thuyết trên có thể suy ra trung bình một Hội nghị kéo dài từ 2 đến 3 giờ đồng hồ thì thời gian lập kế hoạch tổ chức sự kiện sẽ phải mất từ 20 đến 30 giờ lập kế hoạch Như vậy nếu Hội nghị nào cũng mất thời gian cho việc lập kế hoạch thì sẽ tốn rất nhiều thời gian và công sức, vậy cho nên công tác
tổ chức hội nghị của Văn phòng Bộ đã có một nguyên tắc đã được quy định sẵn.Tùy theo tính chất, tầm vóc, quy mô và mục đích mà Lãnh đạo Bộ đặt ra khi tổ chức hội nghị mà việc lập kế hoạch tổ chức Hội nghị có thể được hoặc không được tiến hành
Các Hội nghị mang tính chất thường xuyên mà thành phần, địa điểm và thời gian tổ chức hội nghị đã được chuẩn hóa bằng các quy định của nhà nước hay đã được quy định trong quy chế làm việc của Bộ thì việc lập kế hoạch tổ chức hội nghị là không bắt buộc Đây có thể là những Hội nghị như Hội nghị giao ban tuần, tháng, năm
và các Hội nghị thường niên của Bộ và Văn phòng Bộ
Điều 51 Quy chế Bộ Khoa học và Công nghệ có quy định về Giao ban tuần,
tháng và tổng kết công tác năm của Bộ như sau:
“1 Hội nghị giao ban tuần của Bộ được tiến hành vào sáng thứ hai hàng tuần; giao ban tháng được tiến hành vào sáng thứ hai của tuần cuối cùng trong tháng; hội nghị tổng kết công tác năm của Bộ được tiến hành vào sáng thứ hai của tuần đầu
tháng một năm sau, trừ khi có quyết định khác của Bộ trưởng
2 Thành phần giao ban tuần, tháng và tổng kết công tác năm của Bộ do Bộ
trưởng quyết định
Trang 343 Thủ trưởng các đơn vị trong thành phần giao ban tuần, tháng, tổng kết công tác năm hoặc được mời tham dự giao ban có trách nhiệm tham dự đầy đủ các Hội nghị; trường hợp vắng mặt có thể ủy quyền cho cấp phó tham dự, đồng thời phải thông
báo với Chánh Văn phòng Bộ để báo cáo Bộ trưởng.”
Như vậy những hội nghị giao ban tuần, tháng, quý, thậm chí là các hội nghị tổng kết công tác năm của Bộ đã được quy định sẵn trong Quy chế làm việc của Bộ, nên việc lập kế hoạch tổ chức những hội nghị này không phải là một yêu cầu bắt buộc Các vấn đề có liên quan đến công tác tổ chức hội nghị như thời gian, thành phần của các Hội nghị này đã được quy định, Chánh Văn phòng có nhiệm vụ tổ chức triển khai các quy định này đến các đơn vị thuộc Văn phòng để thực hiện đúng các quy định này
Ví dụ trong các hội nghị giao ban tuần được diễn ra vào sáng thứ hai, thì ngày làm việc cuối cùng của tuần trước, các chuyên viên của Phòng Tổng hợp sẽ xin ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng về thành phần cũng như địa điểm tổ chức của Hội nghị giao ban của sáng thứ hai tuần sau, và tiến hành lập danh sách, thông báo cho những cán bộ đó biết
và thực hiện Thông thường địa điểm tổ chức hội nghị giao ban tuần được tổ chức tại Hội trường 110.Trước khi hội nghị giao ban diễn ra, thì cán bộ phòng lễ tân phải đến sớm để chuẩn bị nước giải khát, và kê lại bàn ghế, sắp xếp vị trí chỗ ngồi của từng đại biểu theo sơ đồ đã được quy định Với các công việc cũng như các bước chuẩn bị đơn giản các hội nghị có quy mô nhỏ và mang tính chất thường xuyên như hội nghị giao
ban đã được chuẩn bị xong và có thể tiến hành được luôn
Còn những Hội nghị có quy mô lớn, có tính nghi thức thì công tác lập kế hoạch lại là một việc làm bắt buộc Các Hội nghị đó bao gồm các Hội nghị do Bộ trưởng và các Thứ trưởng chủ trì, các Hội nghị xử lý công việc mang tính chất chiến lược, hội nghị tổng kết, các Hội nghị giao ban vùng, giao ban khối, Lãnh đạo Bộ Hội nghị làm việc với Lãnh đạo đơn vị, địa phương Hay có thể nói một cách đơn giản, là việc lập kế hoạch tổ chức hội nghị chỉ được diễn ra khi các hội nghị đó có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động của cơ quan Ví dự như hội nghị “Tập huấn về xây dựng và ứng dụng hệ thống quản lý chất lượng vào công tác văn thư, lưu trữ”, hay hội nghị “Tổng kết công
tác năm 2014 và triển khai phương hướng và nhiệm vụ năm 2015
Việc lập kế hoạch tổ chức Hội nghị có tính chính thức không hề đơn giản mà vô cùng phức tạp và nhiều bước Để hoàn thiện và cho ra sản phẩm cuối cùng là một bản
kế hoạch hoàn chỉnh thông thường cán bộ, chuyên viên Phòng Tổng hợp phải trải qua
Trang 35dụ như hội nghị gặp mặt các nhà sáng chế không chuyên nghiệp được tổ chức năm
2015 là một chủ trương mới và có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động khoa học và công nghệ nước nhà trong những năm tới, của Thủ tướng Chính phủ cho Bộ Khoa học và
công tác văn thư kiêm nhiệm, các cán bộ trong các đơn vị thuộc Bộ
Như vậy Lãnh đạo Bộ, thủ trưởng các đơn vị căn cứ vào tình hình thực tế và kế hoạch công tác năm của Bộ, của đơn vị sẽ đề ra chủ trương tổ chức hội nghị Những hội nghị của Lãnh đạo Bộ thường có quy mô lớn, nên sẽ thành lập Ban Tổ chức chủ trì mọi hoạt động của hội nghị và một số đơn vị sẽ tham gia phối hợp để tổ chức hội nghị Đối với các hội nghịđược giao cho Văn phòng chủ trì tổ chức thì Chánh văn phòng chủ động trong việc giao nhiệm vụ cho các cá nhân, đơn vị có liên quan để tổ chức hội
nghị
Bước 2: Xây dựng tờ trình kế hoạch tổ chức Hội nghị
Đơn vị được phân công chủ trì tổ chức hội nghị làm tờ trình lãnh đạo Bộ về nội dung, thành phần, thời gian, địa điểm và kinh phí để tổ chức hội nghị, phân công
Bước 2: Xây dựng tờ trình lập kế hoạch tổ chức hội nghị
Trang 36nhiệm vụ cho các đơn vị liên quan chuẩn bị nội dung và phục vụ hội nghị Trường hợp Văn phòng Bộ được phân công chủ trì, Phòng Tổng hợp xây dựng tờ trình Chánh Văn phòng căn cứ vào mục tiêu hội nghị mà phân công cán bộ, công chức làm tờ trình kế hoạch tổ chức hội nghị Cán bộ được phân công phụ trách làm tờ trình kế hoạch tổ chức hội nghị phải là những người có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm công tác trong việc lập và tổ chức hội nghị Bởi lẽ Kế hoạch tổ chức Hội nghị là một văn bản có tính định hướng trình bày những vấn đề có liên quan đến việc tổ chức Hội nghị
Do đó khi Lập kế hoạch tổ chức hội nghị phải đảm bảo một số yêu cầu nội dung cơ
chỉnh nội dung nào không?
- Thời gian để chuẩn bị tổ chức thực hiện kế hoạch: Cán bộ chuyên môn lập kế hoạch hội nghị phải dự tính được các khoảng thời gian thực hiện công việc một cách tương đối chính xác để chuẩn bị tổ chức thực hiện kế hoạch Ví dụ như thời gian hợp
lý nhất để tổ chức hội nghị là khi nào? thời gian để tổ chức chuẩn bị cho hội nghị là bao lâu? thời gian để chuẩn bị các nội dung cho hội nghị? Những ai sẽ tham gia vào
quá trình chuẩn bị tổ chức hội nghị?
- Các thông tin cơ bản trong kế hoạch Ngoài phần mục đích, ý nghĩa của việc tổ chức Hội nghị, kế hoạch tổ chức hội
nghị thông thường sẽ đề cập đến những nội dung sau:
+ Tên Hội nghị: Phải đảm bảo gắn liền với các mục tiêu, nội dung của việc tổ chức Hội nghị Để khi bất kỳ một cán bộ đọc lên cán bộ đó cũng có thể phần nào đoán được nội dung, cũng như có thể hiểu được mục đích của hội nghị này là gì Ví dụ như
“Hội nghị tổng kết công tác năm 2014 và triển khai phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2015” thì khi nghe đến tên của hội nghị thôi thì các cán bộ cũng có thể đoán ra được là mục đích của hội nghị này là tổng kết công tác năm cũ và triển khai phương hướng nhiệm vụ công tác năm mới “Hội nghị cán bộ chủ chốt Bộ Khoa học và Công
Trang 37nghệ năm 2015” thì khi nghe đến tên hội nghị, các cán bộ có thể phần nào đoán được thành phần tham dự hội nghị này là các cán bộnguồn của cơ quan, các thủ trưởng đơn
vị, phòng ban; nội dung của hội nghị này cũng là những vấn đề mang ý nghĩa chiến
lược đối với việc phát triển khoa học và công nghệ trong tương lai
+ Thời gian tổ chức Hội nghị: Thời gian tổ chức hội nghị đã hợp lý chưa? Có phù hợp với hoàn cảnh và tình hình thực tế của cơ quan, đơn vị hay không? Ví dụ thời gian tổ chức hội nghị tổng kết năm là vào sáng thứ hai của tuần đầu tháng một năm sau Như vậy thời gian này là phù hợp với tình hình của cơ quan, khi năm cũ vừa kết thúc, thì sẽ tiến hành tổng kết công tác năm cũ và tiến hành triển khai công tác năm
mới để định hướng cho hoạt động của cơ quan trong năm mới
+ Địa điểm tổ chức hội nghị: Tùy thuộc vào quy mô, tính chất của Hội nghị mà cán bộ lập kế hoạch hội nghị sẽ xin ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ hoặc Chánh Văn phòng về địa điểm tổ chức hội nghị Hội nghị được tổ chức ở trong hay ngoài cơ quan? Nếu tổ chức trong cơ quan thì Hội nghị được tổ chức tại Hội trường nào? Thiết kế của hội trường có phù hợp với quy mô, tính chất của hội nghị hay không? Ví dụ như hội nghị cán bộ chủ chốt Bộ Khoa học và Công nghệ năm 2015, có số lượng đại biểu, khách mời lên tới 300 người Mà hội trường ở Bộ chỉ có sức chứa đến 200 người, chính vì vậy cán bộ lập kế hoạch tổ chức hội nghị phải xin ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Tham mưu về các địa điểm tổ chức hội nghị ngoài cơ quan cho Lãnh đạo Bộ tham khảo và quyết định lựa chọn Sau khi lãnh đạo Bộ quyết định tổ chức hội nghị ngoài cơ quan, cán bộ lập kế hoạch ấn định địa điểm tổ chức hội nghị trong kế hoạch
Nhưng đối với Hội nghị tổng kết công tác năm 2014 và triển khai phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2015 thì số lượng đại biểu tham dự khoảng 150 người, thì Hội trường của Bộ hoàn toàn có đủ sức chứa, chính vì vậy mà cán bộ lập kế hoạch
sẽ ấn định địa điểm tổ chức hội nghị tại Hội trường lớn tầng 2 của Bộ để tiến hành hội
nghị
+ Thành phần hội nghị gồm những ai? Ai có thể tham gia hội nghị? Số lượng ? Cán bộ lập kế hoạch tổ chức hội nghị căn cứ vào ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ và các kế hoạch tổ chức hội nghị của những năm trước để xác định đầy đủ số lượng, thành phần tham gia hội nghị Ví dụ như hội nghị cán bộ chủ chốt của Bộ năm 2015 thì thành phần tham dự hội nghị gồm có Lãnh đạo Bộ, thủ trưởng các đơn vị, phòng ban thuộc Bộ Còn Hội nghị cán bộ công chức, viên chức Bộ Khoa học và Công nghệ
Trang 38thì thành phần hội nghị là tất cả thủ trưởng đơn vị thuộc Bộ, các trưởng, phó phòng ban thuộc Bộ Tùy thuộc vào quy mô, tính chất, nội dung của hội nghị mà số lượng,
thành phần đại biểu tham dự hội nghị là khác nhau
+ Nội dung chính của hội nghị: Những hoạt động nào sẽ diễn ra trong Hội nghị? Nội dung chính là gì? Nội dung phụ là gì? Sắp xếp thứ tự nội dung theo trình tự hợp lý Nội dung của hội nghị được thể hiện trong chương trình nghị sự hội nghị Trong bản
kế hoạch này thì chỉ nêu nội dung chính của hội nghị mà không liệt kê chi tiết các hoạt động trong hội nghị Ví dụ hội nghị tổng kết năm 2014 và triển khai phương hướng nhiệm vụ 2015 thì nội dung hội nghị là lắng nghe các báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2014 và triển khai phương hướng nhiệm vụ năm 2015 Còn nội dung chi tiết và trình tự đọc các báo cáo được quy định trong chương trình nghị sự hội nghị Như vậy phần nội dung hội nghị trong kế hoạch chỉ nêu ra các hoạt động chính của hội nghị mà không cụ thể, chi tiết về thời gian cũng như trình tự diễn ra từng
vấn đề
+ Kinh phí tổ chức hội nghị: được lấy từ nguồn ngân sách của Bộ hay lấy từ ngân sách của đơn vị Dự toán tổng số các nguồn chi cho tổ chức hội nghị thành một
số tiền phù hợp với hội nghị để xin ý kiến của Lãnh đạo Bộ
+ Phân công tổ chức thực hiện: Ai là người chịu trách nhiệm toàn bộ hội nghị ? Nhiệm vụ của từng cá nhân, đơn vị trước, trong và sau khi tổ chức hội nghị nghị là gì?
Việc phối hợp giữa các đơn vị trong việc chuẩn bị hội nghị như thế nào?
Khi cán bộ được giao nhiệm vụ lập kế hoạch tổ chức hội nghị xác định được nội dung các vấn đề trên thì sẽ tiến hành lập thành bản tờ trình kế hoạch hoàn chỉnh, đúng thể thức và mangtờ trình kế hoạch tổ chức hội nghị này trình Chánh Văn phòng xem xét lại nội dung kế hoạch và cho ý kiến chỉ đạo vào phần nội dung của kế hoạch sao cho phù hợp trước khi đi trình ký Cán bộ chuyên môn tiếp thu những ý kiến chỉ đạo của Chánh Văn phòng và tiến hành sửa lại nội dung kế hoạch đúng như chỉ đạo
của Chánh Văn phòng sau đó mang văn bản đi trình ký Lãnh đạo Bộ
Bước 3: Xem xét và phê duyệt tờ trình kế hoạch tổ chức hội nghị
Việc phê duyệt chủ trương kế hoạch tổ chức hội nghị đã được quy định tại Điều
45 Quy chế làm việc của Bộ như sau:
“1 Bộ trưởng quyết định các Hội nghị sau:
- Hội nghị toàn ngành (trường hợp phải xin ý kiến của Thủ tướng Chính phủ thì
Trang 39thực hiện theo quy chế làm việc của Chính phủ);
- Hội nghị chuyên đề, tập huấn (thuộc lĩnh vực Bộ chủ trì);
- Hội nghị vùng;
- Hội nghị Lãnh đạo Bộ thường kỳ;
- Hội nghị giao ban Bộ hàng tuần, hàng tháng và tổng kết công tác hàng năm
của Bộ;
- Lãnh đạo Bộ làm việc với Lãnh đạo các cơ quan Trung ương, các tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương;
- Các Hội nghị khác để giải quyết công việc
2 Thứ trưởng quyết định chủ trương các Hội nghị thuộc lĩnh vực Thứ trưởng
được phân công phụ trách bao gồm:
- Hội nghị giao ban khối
- Hội nghị, làm việc với các đơn vị, địa phương;
- Hội nghị chuyên đề tập huấn
- Các Hội nghị khác để giải quyết công việc do Thứ trưởng chủ trì” Cán bộ lập kế hoạch căn cứ vào Điều 45 Quy chế làm việc của Bộ để trình ký theo đúng thẩm quyền được phân công phụ trách Ví dụ Hội nghị chiến lược định hướng phát triển khoa học và công nghệ trong giai đoạn 2016 – 2020, tầm nhìn đến
2030 thì Bộ trưởng là người trực tiếp xem xét và phê duyệt kế hoạch này Nhưng đối với kế hoạch Hội nghị như hội nghị thăm và làm việc về một chuyên ngành cụ thể nào
đó thì Thứ trưởng phụ trách sẽ là người xem xét và phê duyệt ví dụ như hội nghị Hội nghị Liên hợp thư viện Việt Nam về nguồn tin Khoa học và Công nghệ
Bước 4: Gửi tờ trình đã được phê duyệt cho các đơn vị liên quan
Sau khi Lãnh đạo Bộ phê duyệt kế hoạch tổ chức hội nghị, cán bộ phụ trách soạn thảo sẽ mang bản kế hoạch tổ chức hội nghị xuống Phòng Hành chính để làm các thủ tục để ban hành văn bản và nhân bản kế hoạch theo số lượng các các đơn vị tham gia vào quá trình chuẩn bị tổ chức hội nghị để các đơn vị thực hiện cho đúng với tiến
độ mà kế hoạch đã đề ra Việc gửi kế hoạch tổ chức hội nghị cho các đơn vị liên quan phải diễn ra trước ngày tổ chức hội nghị ít nhất là 20 ngày làm việc so với tổ chức hội
nghị
Bước 5: Thành lập Ban Tổ chức/ Phân công công việc
Việc thành lập Ban tổ chức Hội nghị không phải là một yêu cầu bắt buộc đối
Trang 40với tất cả các hội nghị Tuỳ theo tính chất, nội dung và quy mô của hội nghị mà việc thành lập ban tổ chức hội nghị có thể được hoặc không được thành lập Đối với các hội nghị có quy mô nhỏ và mang tính chất thường xuyên thì Chánh Văn phòng Bộ, sẽ có công văn phân công công việc cho các đơn vị có liên quan đến hội nghị (đã xác định trong kế hoạch tổ chức hội nghị) để thực hiện theo đúng như tiến độ đã được quy định
rõ trong công văn và kế hoạch
Đối với các hội nghị lớn, Chánh Văn phòng sẽ cử cán bộ soạn thảo quyết định thành lập ban tổ chức; các ban, tiểu ban giúp việc tổ chức hội nghị cùng với đó là các bản phân công công việc Việc thành lập ban tổ chức hội nghị thường đi liền với việc phân công công việc phục vụ tổ chức hội nghị.Thông thường thành phần Ban tổ chức
của một hội nghị bao gồm:
- Bộ trưởng/Thứ trưởng - Trưởng Ban, phụ trách quản lý, chỉ đạo toàn bộ các
công việc tổ chức hội nghị;
- Chánh Văn phòng, - Phó ban, chỉ đạo thực hiện chuẩn bị nội dung hội nghị,
cũng như công tác hậu cần của hội nghị;
- Thủ trưởng các đơn vị có liên quan đến hội nghị, - Thành viên, tham gia phối
hợp với Văn phòng trong tổ chức hội nghị
Sau khi có quyết định thành lập Ban tổ chức hội nghị, Trưởng ban tổ chức và các thành viên trong ban tổ chức tiến hành họp, triển khai nội dung kế hoạch và tiến hành phân công công việc cho các đơn vị, cá nhân Các công việc được phân công theo đúng chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị nhằm đảm bảo rằng các công việc được
thực hiện một cách chính xác và hiệu quả nhất
Ví dụ như Hội nghị cán bộ chủ chốt của Bộ Khoa học và Công nghệ năm 2015, được tổ chức tại Ninh Bình, Văn phòng Bộ là đơn vị chủ trì tổ chức Hội nghị, Chánh Văn phòng có quyết định thành lập Ban tổ chức Hội nghị và các ban giúp việc gồm: Trưởng ban Tổ chức Bộ trưởng Nguyễn Quân - Phụ trách toàn bộ công việc có
liên quan đến tổ chức hội nghị;
Phó ban Tổ chức Chánh Văn phòng – Bùi Thế Duy - Triển khai nội dung công
việc đến các đơn vị
Trưởng phòng Tổng hợp – Thành viên – Tổng hợp các báo cáo, đề xuất các giải
pháp, ý tưởng, nội dung mới;
Trưởng phòng Lễ tân – Thành viên – Chuẩn bị địa điểm tổ chức hội nghị, chuẩn