Bảo đảm ngày càng thực hiện tốt an sinh xã hội luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn, có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội và là chìa khóa để phát tr
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: Trình bày những điểm mới trong văn kiện Đại hội XIII
(2021) về chủ trương thực hiện an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2021
– 2025 Liên hệ thực tiễn ở địa phương.
Họ và tên sinh viên:
Mã sinh viên:
Lớp: Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam (121) Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Thắm
Bắc Kạn - 10/2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU……….… ……… 2
I. AN SINH XÃ HỘI
……… 3
II CHỦ TRƯƠNG THỰC HIỆN AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ XII (2016)………
4 III NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII (2021) VỀ CHỦ TRƯƠNG THỰC HIỆN AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2021 - 2025……… 6
1 Bối cảnh 1.1 Bối cảnh thế giới……… 6
1.2 Bối cảnh Việt Nam……… 6
2 Điểm mới trong văn kiện Đại hội XIII (2021) về chủ trương thực hiện an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2021 – 2025……… 7
VI LIÊN HỆ THỰC TIỄN TẠI TỈNH BẮC KẠN……….9
KẾT LUẬN………11
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 12
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
An sinh xã hội là một trong những vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia Bảo đảm ngày càng thực hiện tốt an sinh xã hội luôn là một chủ trương, nhiệm vụ lớn, có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội và là chìa khóa để phát triển toàn diện và bền vững, nhất
là trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp Nhận thấy tầm quan trọng của an sinh xã hội, bài luận này nhằm tìm hiểu những điểm mới trong văn kiện Đại hội XIII (2021) về chủ trương thực hiện an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2021 – 2025 và liên hệ thực tiễn tại tỉnh Bắc Kạn
Trang 4I AN SINH XÃ HỘI (ASXH)
Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), “An sinh xã hội là sự bảo vệ mà xã hội cung
cấp cho các cá nhân và hộ gia đình nhằm bảo đảm tiếp cận y tế và bảo đảm thu nhập, đặc biệt trong trường hợp già yếu, thất nghiệp, ốm đau, tàn tật, tai nạn lao động, thai sản hoặc thiếu người nuôi dưỡng” Để bảo đảm đáp ứng các nhu cầu, các đối tượng
ASXH khác nhau, hệ thống ASXH được tổ chức thành lưới an sinh Thông thường, lưới ASXH bao gồm:
Một là, hệ thống hỗ trợ giải quyết việc làm.
Hệ thống hỗ trợ giải quyết việc làm giúp người lao động có việc làm để có thu nhập,
từ đó, tự bảo đảm ASXH Lưới ASXH nào cũng hướng tới cung cấp cơ hội việc làm cho mọi người trong độ tuổi lao động, kết nối người thất nghiệp với doanh nghiệp cần lao động; đào tạo, dạy nghề, nâng cao năng lực cho người lao động để họ có thể tìm kiếm, chuyển đổi việc làm hoặc tự tạo việc làm Đặc biệt, lưới ASXH tập trung vào hỗ trợ tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo, phụ nữ và những nhóm người yếu thế Đối với người trong độ tuổi lao động, có đủ điều kiện lao động thì hỗ trợ việc làm
là trợ giúp an sinh quan trọng nhất để họ tự bảo đảm thu nhập bền vững
Ở các quốc gia, hệ thống hỗ trợ việc làm và giảm nghèo thường được tổ chức theo các cấp hành chính từ Trung ương tới địa phương với sự tham gia của nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau, trong đó, vai trò tham mưu, tổ chức thường gắn với các cơ quan có thẩm quyền về lĩnh vực lao động, việc làm Hệ thống hỗ trợ giải quyết việc làm thường hoạt động nhờ ngân sách nhà nước và đóng góp của các tổ chức, cá nhân
Hai là, hệ thống bảo hiểm xã hội.
Hệ thống bảo hiểm xã hội (BHXH) đóng vai trò lưới đỡ nếu người lao động không may không thể làm việc, mất việc làm do bệnh tật, thai sản, tai nạn lao động, hoặc nghỉ hưu do tuổi già Khi đó, họ cần có hệ thống BHXH chi trả để bảo đảm nguồn thu nhập Hệ thống BHXH đóng vai trò trung tâm trong lưới ASXH, giúp chống đỡ các rủi
ro mất hoặc suy giảm thu nhập Hệ thống BHXH thường được tổ chức thống nhất và phân chia thành các cấp từ Trung ương tới địa phương Nguồn quỹ chính của hệ thống
là từ tiền đóng BHXH bắt buộc và/hoặc tự nguyện Ngoài ra, có thể có các nguồn thu khác từ hỗ trợ của ngân sách nhà nước, nguồn đóng góp hảo tâm, nguồn lãi từ đầu tư quỹ Đối tượng thụ hưởng BHXH là những người tham gia BHXH, nghĩa là có đóng góp BHXH
Ba là, hệ thống trợ giúp xã hội.
Hệ thống BHXH đóng vai trò chủ chốt trong bảo đảm thu nhập trong trường hợp già yếu, bệnh tật, mất thu nhập với điều kiện phải tham gia BHXH Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, cá nhân và hộ gia đình không hoặc không có điều kiện tham gia BHXH (chẳng hạn những người khuyết tật, không có việc làm, những người nghèo) Bên cạnh
đó, sinh kế của các cá nhân, hộ gia đình có thể gặp phải một số rủi ro bất thường nằm ngoài phạm vi BHXH, như thiên tai, mất mùa, cũng khiến cá nhân và hộ gia đình mất thu nhập, rơi vào cảnh túng thiếu Khi đó, hệ thống trợ giúp xã hội đóng vai trò là lưới an sinh thứ ba để hỗ trợ các cá nhân và hộ gia đình Trợ giúp xã
Trang 5hội là các khoản trợ cấp trực tiếp bằng tiền hoặc hiện vật cho cá nhân và hộ gia đình nghèo hoặc bị tổn thương, thường do nhà nước thực hiện bằng ngân sách nhà nước Hệ thống trợ giúp xã hội thường được tổ chức đa dạng, trong đó có sự tham gia của nhà nước, các tổ chức xã hội, các thiết chế cộng đồng,
Bốn là, hệ thống bảo đảm dịch vụ xã hội cơ bản.
Việc làm, BHXH, trợ giúp xã hội đều hướng tới bảo đảm thu nhập cho các đối tượng dân cư Tuy nhiên, bên cạnh thu nhập, một trong các quyền ASXH của người dân là được cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản, như y tế, giáo dục, nước sạch, nhà ở, thông tin Bên cạnh đó, được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cũng nhằm tạo cơ hội cho các cá nhân nâng cao năng lực, phát triển vốn con người, từ đó có thể có việc làm, thu nhập, vừa bảo đảm ASXH bản thân và gia đình, vừa đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội Thông thường, khi thiếu thu nhập, một mặt, người dân có thể không
có điều kiện được hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản; mặt khác, ở một số nơi, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn, ngay cả khi có thu nhập, người dân có thể vẫn khó tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, hoặc chỉ tiếp cận được dịch vụ kém chất lượng Trong khi đó, đây cũng là nhu cầu thiết yếu của người dân Việc tiếp cận dịch
vụ xã hội cơ bản không chỉ là quyền của con người mà nó còn có ý nghĩa với ASXH
và sự phát triển quốc gia trong dài hạn, bởi con người có trình độ giáo dục, được bảo đảm y tế, sẽ phát triển thành những công dân có trình độ, có ích, có thể có việc làm với thu nhập bảo đảm và góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Các bộ phận trong lưới ASXH có ở các có mối liên hệ, tác động qua lại với nhau và cùng hướng tới thực hiện chức năng của lưới ASXH là phòng ngừa rủi ro, bảo vệ người dân và thúc đẩy sự phát triển
Tại Việt Nam lưới ASXH bao gồm 5 trụ cột chính là: Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y
tế, Cứu trợ xã hội, Trợ giúp và ưu đãi xã hội.
II CHỦ TRƯƠNG THỰC HIỆN AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ XII (2016)
Tại Đại hội toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta khẳng định bảo đảm an sinh xã hội là một trong các nhiệm vụ trọng tâm trong thời kỳ mới
Một là, chủ trương lãnh đạo giải quyết vấn đề lao động, việc làm, thu nhập cho người lao động và đổi mới chính sách giảm nghèo đa chiều bền vững.
Tạo cơ hội để mọi người có việc làm và cải thiện thu nhập Bảo đảm tiền lương, thu nhập công bằng, đủ điều kiện sống và tái sản xuất sức lao động Huy động tốt nhất nguồn nhân lực lao động để phục vụ công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Chú trọng giải quyết việc làm cho lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp do việc tích tụ, tập trung ruộng đất hoặc thu hồi đất phát triển công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng Khuyến khích đầu tư xã hội tạo ra nhiều việc làm, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về tiền lương, tiền công, khắc phục cơ bản những bất hợp lý Điều chỉnh chính sách dạy
Trang 6nghề, gắn đào tạo với sử dụng Điều chỉnh chính sách xuất khẩu lao động hợp lý Hoàn thiện và thực hiện chính sách bảo hộ lao động
Hai là, tiếp tục phát triển và thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm.
Phát triển và thực hiện tốt các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động…mở rộng đối tượng tham gia, nâng cao hiệu quả của hệ thống, đổi mới cơ chế tài chính, bảo đảm phát triển bền vững quỹ bảo hiểm xã hội
Ba là, mở rộng và nâng cao hiệu quả của công tác trợ giúp xã hội.
Tiếp tục hoàn thiện chính sách, khuyến khích tham gia của cộng đồng, nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội
Tạo điều kiện để trợ giúp có hiệu quả cho tầng lớp yếu thế, dễ bị tổn thương hoặc những người gặp rủi ro trong cuộc sống, để công tác trợ giúp xã hội đạt được hiệu quả cao nhất Phải phát triển đa dạng các hình thức từ thiện, đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia giúp đỡ những người yếu thế nhằm huy động cao nhất các nguồn lực vật chất, tinh thần để giúp đỡ, tạo điều kiện để những người yếu thế hòa nhập cộng đồng Bên cạnh đó, yêu cầu chuyển từ hỗ trợ nhân đạo sang bảo đảm quyền an sinh xã hội của công dân trong quan điểm lãnh đạo của Đảng về an sinh xã hội, khẳng định sự quan tâm đến quyền con người của Đảng, Nhà nước ta
Bốn là, bảo đảm cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản thiết yếu, mức tối thiểu về thu nhập và các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin.
Về lãnh đạo bảo đảm giáo dục tối thiểu: Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực; phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tiến bộ khoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động; hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập
Về lãnh đạo bảo đảm y tế tối thiểu: Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng ở tất cả các tuyến; quan tâm chăm sóc sức khoẻ ban đầu, hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở, nhất là miền núi, biên giới, hải đảo… tăng cường nhân lực y tế cho khu vực nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo, cùng với nâng cao chất lượng cuộc sống, phấn đấu tuổi thọ trung bình đến năm 2020 đạt 74 - 75 tuổi
Về lãnh đạo bảo đảm nhà ở xã hội: Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng chính sách, người nghèo, người dân sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn Phát triển nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp, khu chế xuất và sinh viên Hiện nay, bảo đảm nhà ở xã hội là một trong những chính sách được Đảng hết sức quan tâm
Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định chủ trương lãnh đạo bảo đảm công tác an sinh xã hội, gắn với phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện an sinh xã hội toàn dân, thực hiện quyền tự bảo đảm an sinh xã hội của người dân Những quan điểm của Đảng là sự định hướng để chính sách an sinh xã hội được thực hiện trên thực tế
Trang 7III NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII (2021) VỀ CHỦ TRƯƠNG THỰC HIỆN AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2021 - 2025
1 Bối cảnh
1.1 Bối cảnh thế giới
Ngoài thảm họa y tế, dịch bệnh COVID-19 đã đẩy thế giới vào một cuộc suy thoái kinh tế nghiêm trọng hơn cả cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bùng phát năm
2008 Tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2020 sụt giảm tới 4% - 5%; nhiều
quốc gia buộc phải “đóng cửa” cả bên trong lẫn bên ngoài biên giới khiến cho chuỗi
sản xuất, cung ứng toàn cầu cũng như sự giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia rối loạn, ách tắc Ngoài việc phải mất một khoản chi phí lớn để phòng, chống dịch bệnh COVID-19, các quốc gia buộc phải đưa ra hàng loạt gói cứu trợ trị giá bằng khoảng 12% GDP, nhằm bảo đảm thanh khoản, ổn định hệ thống tài chính - ngân hàng, duy trì sản xuất và việc làm, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, đầu tư vào hạ tầng y tế, nghiên cứu vắc-xin chống dịch bệnh COVID-19 , đã tạo nên khoản nợ công lớn gấp nhiều GDP của tất cả các nước cộng lại Tác động xã hội cũng không kém phần nghiêm trọng, với hàng chục triệu người lao động trong hầu hết các lĩnh vực ở mỗi nước bị mất việc làm, thu nhập bị giảm sút hoặc không còn thu nhập, rơi vào cảnh đói nghèo, tội phạm gia tăng, hố sâu ngăn cách giàu - nghèo ngày càng trầm trọng, cả một thế hệ thanh - thiếu niên không được đi học bình thường
Trên bình diện quốc tế, dịch bệnh COVID-19 đã làm gia tăng thêm mối bất hòa giữa một số nước, thúc đẩy sự chuyển dịch sức mạnh giữa các quốc gia, đồng thời buộc nhiều chính quyền trên thế giới phải điều chỉnh ưu tiên chính sách đối nội và đối ngoại, làm thay đổi phương thức vận hành của quan hệ quốc tế và chính trị thế giới Mặt khác, dịch bệnh COVID-19 đã trở thành chất xúc tác thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế số và những lĩnh vực liên quan tới công cuộc phòng, chữa bệnh, trở thành những thước đo mới về sức mạnh của các quốc gia Về mặt xã hội, dịch bệnh COVID-19 khuyến khích con người thay đổi lối sống theo hướng “xanh hơn”, “chậm hơn” và “giãn cách hơn”
1.2 Bối cảnh Việt Nam
Sự phát triển của Viê št Nam trong hơn 30 năm qua rất đáng ghi nhâ šnĐổi mới kinh tế và chính trị từ năm 1986 đã thúc đẩy phát triển kinh tế, nhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp Tỉ lệ nghèo giảm mạnh, đại bộ phận người nghèo còn lại ở Việt Nam là dân tộc thiểu số, chiếm 86%
Do hội nhập kinh tế sâu rộng, nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19, nhưng cũng thể hiện sức chống chịu đáng kể Tăng trưởng GDP ước đạt 2,9% năm 2020 Việt Nam là một trong số ít quốc gia trên thế giới tăng trưởng kinh tế dương, nhưng đại dịch đã để lại những tác động dài hạn đối với
Trang 8các hộ gia đình - thu nhập của khoảng 45% hộ gia đình được khảo sát giảm trong tháng 1 năm 2021 so với tháng 1 năm 2020 Nền kinh tế được dự báo sẽ tăng trưởng 6,6% năm 2021 nếu Việt Nam kiểm soát tốt sự lây lan của vi-rút đồng thời các ngành sản xuất hướng xuất khẩu hoạt động tốt và nhu cầu nội địa phục hồi mạnh mẽ
Việt Nam đang chứng kiến thay đổi nhanh về cơ cấu dân số và xã hội Dân số Việt Nam dự kiến sẽ tăng lên 120 triệu dân tới năm 2050 Theo kết quả Tổng điều tra dân
số Viê št Nam năm 2019, 55,5% dân số có độ tuổi dưới 35, với tuổi thọ rungt bình gần 76 tuổi, cao hơn những nước có thu nhâ šp tương đương trong khu vực Nhưng dân số đang bị già hóa nhanh, tầng lớp trung lưu đang dần hình thành
Chỉ số Vốn nhân lực của Việt Nam là 0.69 Điều đó có nghĩa là một em bé Việt Nam được sinh ra ở thời điểm hiện nay khi lớn lên sẽ đạt mức năng suất bằng 69% so với cũng đứa trẻ đó được học tập và chăm sóc sức khỏe đầy đủ Đây là mức cao hơn mức trung bình của khu vực Đông Á - Thái Bình Dương và các nước có thu nhập trung bình thấp hơn Mặc dù chỉ số Vốn nhân lực của Việt Nam tăng từ 0,66 lên 0,69
từ năm 2010 đến 2020 Việt Nam, còn tồn tại sự chênh lệch trong nội bội quốc gia, đặc biệt là đối với nhóm các dân tộc thiểu số
Y tế cũng đạt nhiều tiến bộ lớn khi mức sống ngày càng cải thiện Từ năm 1993 đến 2017, tỷ suất tử vong ở trẻ sơ sinh giảm từ 32,6 xuống còn 16,7 (trên 1.000 trẻ sinh) Tuổi thọ trung bình tăng từ 70,5 lên 76,3 tuổi trong thời gian từ năm 1990 đến
2016 Chỉ số bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân là 73 - cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới – với 87% dân số có bảo hiểm y tế Tuy nhiên tỉ lệ chênh lệch giới tính khi sinh vẫn ở mức cao và ngày mô št tăng (115 rongt năm 2018) cho thấy tình trạng phân biệt giới tính vẫn còn tồn tại Bên cạnh đó, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất, dự báo đến năm 2050 nhóm tuổi trên 65 sẽ tăng gấp 2,5 lần
Trong vòng 30 năm qua, việc cung cấp các dịch vụ cơ bản có nhiều thay đổi tích cực Khả năng người dân tiếp cận hạ tầng cơ sở được cải thiện đáng kể Tính đến năm
2016, 99% dân số sử dụng điện chiếu sáng, so với tỉ lệ 14% năm 1993 Tỉ lệ tiếp cận nước sạch nông thôn cũng được cải thiện, từ 17% năm 1993 lên 70% năm 2016, trong khi tỉ lệ ở thành thị là trên 95% Tuy nhiên, trong những năm gần đây, đầu tư cơ
sở vật chất tính theo phần trăm GDP của Việt Nam nằm trong nhóm thấp nhất trong khu vực ASEAN Điều này tạo ra những thách thức đối với sự phát triển liên tục của các dịch vụ cơ sở hạ tầng hiện đại cần thiết cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo (Việt Nam xếp thứ 89 trong số 137 quốc gia về chất lượng cơ sở hạ tầng)
2 Điểm mới trong văn kiện Đại hội XIII (2021) về chủ trương thực hiện an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2021 – 2025
So với những chủ trương chính sách của Đại hội XII về an sinh xã hội được nêu ở trên thì Đại hội XIII đã có những điểm mới là:
Trang 9Một trong các đột phá chiến lược được Đại hội lần thứ XIII của Đảng đề ra là “Đổi
mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, nhất là quản lý phát triển và quản lý xã hội”, trong đó có quản lý phát triển an sinh xã hội Trong quá trình này, Nhà nước sử
dụng các công cụ, cơ chế, chính sách, pháp luật, để tác động, điều chỉnh, thúc đẩy, điều tiết, xử lý các vấn đề an sinh xã hội phát sinh từ thực tiễn, bảo đảm quyền an sinh
xã hội của người dân nhằm mục tiêu phát triển bền vững đất nước, vì con người
Về y tế và chăm sóc sức khỏe của người dân.
Đổi mới cơ chế tài chính y tế, thực hiện lộ trình bảo hiểm y tế toàn dân Phát triển nguồn nhân lực, khoa học công nghệ y tế, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong
quản lý y tế, khám chữa bệnh, giám định thanh toán BHYT Thiết lập hệ thống sổ sức
khỏe điện tử đến từng người dân Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ, nâng cao y đức.
Phấn đấu đến năm 2025, trên 90% dân số được quản lý, theo dõi và chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, tỷ lệ hài lòng của người dân với dịch vụ y tế đạt trên 80%
Tập trung phát triển mạnh y tế cơ sở, y tế dự phòng, sàng lọc và phát hiện sớm, chữa trị kịp thời, hiệu quả các loại dịch bệnh mới Xây dựng và củng cố hệ thống y tế, nhất là
hệ thống y tế dự phòng cấp tỉnh và Trung ương, hình thành hệ thống trung tâm kiểm soát dịch bệnh đồng bộ ở tất cả các cấp và kết nối với mạng lưới kiểm soát bệnh tật thế giới Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học y học, phát triển các ngành khoa học phục vụ bảo vệ, chăm sóc sức khỏe con người Nâng cao năng lực nghiên cứu, chủ động sản xuất vaccine, thuốc sáng chế
Về chính sách tiền lương.
Chỉ rõ yêu cầu, tính chất của chính sách tiền lương đó là: chính sách tiền lương theo hướng gắn với sự thay đổi của giá cả sức lao động trên thị trường, tương xứng với tốc
độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ tăng năng suất lao động, bảo đảm nguyên tắc phân phối theo lao động, tạo động lực nâng cao năng suất và hiệu quả Bên cạnh đó từng bước tách việc điều chỉnh lương hưu với điều chỉnh tiền lương của người đang làm việc Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030 cụ thể hóa hơn một bước về chính sách tiền lương đối với khu vực công, khu vực doanh nghiệp, nhằm mục tiêu xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ
Về chính sách quản lý phát triển xã hội.
Các văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh về chính sách huy động và phân bổ các nguồn lực cho các vấn đề xã hội Đổi mới cơ chế, huy động phân bổ và đa dạng hóa các nguồn lực thực hiện chính sách xã hội phù hợp với nhu cầu, lợi ích của các tầng lớp dân cư, nhóm xã hội, bảo đảm bình đẳng về cơ hội phát triển, nhất là với lao động khu vực phi chính thức Yêu cầu mới này bao gồm cả hai mặt: huy động tối đa các nguồn lực trong
xã hội và phân bổ một cách công bằng, hợp lý, bảo đảm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả mọi nguồn lực của Nhà nước, tư nhân, các tổ chức của nhân dân để giải quyết các vấn đề xã hội
Về vấn đề lao động.
Trang 10Vấn đề đã được đặt ra một cách hệ thống và toàn diện hơn, bao gồm: xây dựng thị trường lao động, tạo công ăn việc làm, chính sách tiền lương, hỗ trợ thất nghiệp Về thị trường lao động, các văn kiện Đảng và Nhà nước không chỉ khẳng định sự cần thiết phải phát triển một thị trường lao động thật sự, mà còn chỉ ra rất rõ về phương hướng, tính chất và yêu cầu của thị trường lao động Đó là phát triển thị trường lao động, hướng đến việc làm bền vững, phát triển thị trường lao động đồng bộ, hiện đại, linh hoạt, thống nhất, hội nhập, có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước Đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết phải quan tâm đến lao động khu vực phi chính thức, nhất là lao động nông nghiệp chuyển đổi ngành nghề Đây là bộ phận yếu thế, dễ tổn thương trong xã hội, cần phải được tạo các điều kiện thuận lợi để có thể tham gia vào khu vực lao động chính thức, giảm thiểu và khắc phục những rủi ro trong cuộc sống
Cuối cùng về chính sách phát triển dân số liên quan đến anh sinh xã hội.
Do tình hình cơ cấu dân số đã bước vào giai đoạn già hóa, Đảng và Nhà nước chủ
trương chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và
phát triển Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới cung cấp dịch vụ
dân số Tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng; chủ động thích ứng với xu thế già hóa dân số Hỗ trợ thỏa đáng để thu hút, tạo điều kiện cho người dân sinh sống ổn định, lâu dài ở các khu vực khó khăn, trọng yếu về an ninh, quốc phòng Xây dựng, hoàn thiện và vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư
VI LIÊN HỆ THỰC TIỄN TẠI TỈNH BẮC KẠN
Về công tác phòng chống dịch bệnh.
Thực hiện Văn bản số 6666/BYT-MT ngày 16/8/2021 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn phòng chống dịch COVID-19 tại cơ quan, đơn vị, BHXH tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo phòng chống dịch Covid-19 của BHXH tỉnh Bắc Kạn với 13 thành viên; Thành lập 02 tổ an toàn Covid tại BHXH tỉnh và 07 tổ an toàn Covid tại 7 đơn vị BHXH cấp huyện BHXH tỉnh Bắc Kạn còn tổ chức các đợt vận động quyên góp ủng
hộ quỹ phòng, chống Covid-19; ủng hộ quỹ vắc xin phòng chống Covid-19; ủng hộ 01 tấn gạo cho nhân dân thành phố Hồ Chí Minh Đăng ký mã QR-Code của cơ quan theo hướng dẫn của Sở Thông tin - Truyền thông và thực hiện việc quét mã QR-Code để khai báo y tế, lập sổ ghi chép thông tin những người ra, vào hàng ngày (đối với người không thuộc quản lý của đơn vị đến liên hệ, giao dịch, thực hiện nhiệm vụ…) Cơ quan BHXH phân công các cán bộ đến từng hộ, gia đình để tuyên truyền về những tiện ích, tính năng cơ bản và lợi ích của việc sử dụng ứng dụng VssID Bố trí cán bộ thường xuyên hỗ trợ người dân đến giao dịch với cơ quan BHXH tại bộ phận “1 cửa” đăng ký, cài đặt sử dụng ứng dụng VSSID Bên cạnh đó, BHXH tỉnh, BHXH huyện cũng linh hoạt kết hợp các biện pháp, hình thức tuyên truyền cài đặt ứng dụng VssID tại các điểm chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng; Phối hợp với cơ quan Công
an để tổ chức hướng dẫn cài đặt, sử dụng ứng dụng VssID cho người dân trong đợt ra quân cấp căn cước công dân của Ngành Công an trong tháng 3,4/2021… Hướng dẫn,
hỗ trợ người dân đăng ký, sử dụng ứng dụng VssID tại các điểm bầu cử