Chương trình giáo dục phổ thông mới hình thành và phát triển cho họcsinh những năng lực chung thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục:năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao
Trang 1TRUNG TÂM GDNN - GDTX HUYỆN QUẢNG XƯƠNG
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ CHỦ VÀ TỰ HỌC MÔN ĐỊA LÍ CHO HỌC SINH LỚP 12 TRONG DẠY HỌC TRỰC TUYẾN
Người thực hiện : Nguyễn Thị Phượng Chức vụ: Phó giám đốc
Trang 2Đơn vị công tác: Trung tâm GDNN-GDTX Quảng Xương SKKN thuộc lĩnh vực (môn) : Địa Lí
THANH HÓA, NĂM 2022
Trang 4Nội dung Trang
3.3 Giải pháp 3: Giao và nhận bài tập, sản phẩm học tập của học
3.4 Giải pháp 4: Sử dụng linh hoạt các hình thức đánh giá hoạt
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT T
9 Phương pháp, kĩ thuật dạy học PP, KTDH
10 Chương trình giáo dục phổ thông CTGDPT
11 Trung tâm giáo dục nghề nghiệp- giáo dục thường xuyên TTGDNN-GDTX
Trang 6PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lí do chọn đề tài
Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trình độ văn hóa của
nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ Nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một ngước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” Quả đúng như vậy Từ xưa đến nay, ở Việt Nam giáo
dục luôn được coi là quốc sách hàng đầu, là động lực cho sự phát triển kinh tế,
xã hội Mục tiêu chung của nền giáo dục nước ta là: “Nâng cao dân trí, đào tạo
nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài” để phục vụ đất nước trong thời đại mới.
Xuất phát từ yêu cầu đó, tháng 12 năm 2018 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã banhành chương trình giáo dục phổ thông mới đặt ra sự cần thiết phải đổi mới vềchương trình các môn ở các cấp học để phát huy phẩm chất, năng lực học sinh
Chương trình giáo dục phổ thông mới hình thành và phát triển cho họcsinh những năng lực chung thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục:năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn
đề và sáng tạo và những năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếuthông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ,năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học,năng lực thẩm mĩ, năng lực thể chất
Môn Địa lí THPT giúp học sinh phát triển năng lực chung và các năng lựcĐịa lí đã được học sinh hình thành ở cấp THCS; góp phần giáo dục tinh thần dântộc, lòng yêu nước, các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa vănhóa nhân loại, các phẩm chất, năng lực của người công dân Việt Nam, công dântoàn cầu phù hợp với xu thế phát triển của thời đại; giúp học sinh nhận thức vànhận thức rõ vai trò, đặc điểm của khoa học Địa lí cũng như sự kết nối giữa Địa
lí học với ngành nghề khác, tạo cơ sở để học sinh định hướng nghề nghiệp trongtương lai Có thể nói rằng: Địa lí vốn là môn học có kiến thức gắn liền với thựctiễn, thay đổi hàng ngày theo sự phát triển của xã hội, cho nên địa lí thực sự gầngũi và có vai trò quan trọng trong việc hình thành thế giới quan cho học sinh
Tuy nhiên hiện nay, học sinh phổ thông còn chưa thực sự dành nhiều thờigian cho việc tự học, chưa phát triển hết năng lực tự chủ và tự học vốn có củabản thân Các em chưa hiểu được rằng: Đây là năng lực chung đầu tiên và quantrọng nhất (là năng lực thể hiện trong quan hệ với bản thân) nếu không có nănglực này thì có lẽ các năng lực tiếp theo rất khó để có thể phát triển Bởi lẽ, nếuhọc sinh không phát huy được năng lực nội tại trong bản thân mình thì làm saophát huy được năng lực giao tiếp và hợp tác với người khác và năng lực giảiquyết vấn đề và sáng tạo trong công việc.Đó là năng lực mà chỉ có chính bảnthân học sinh tự rèn luyện mới có được, không một ai có thể cung cấp hay làmthay Thực tế đã chứng minh, mỗi thành công của học sinh trên con đường họctập không là kết quả của lối học tập thụ động.Mặt khác, giáo viên đôi khi ít quantâm đến phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh Đó chỉ là sự nhắc
Trang 7nhở, dặn dò chung chung mà chưa đi vào sự hướng dẫn cụ thể, chưa yêu cầu các
em phải tìm hiểu cái gì, nó như thế nào, học sinh phải tạo ra sản phẩm gì, đánhgiá sản phẩm đó ra sao
Thế nhưng trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh COVID-19 thời gianqua Khi mà học tập trực tiếp không thể thực hiện ở trường thì hình thức dạy họctrực tuyến trở thành giải pháp hữu hiệu nhất để duy trì việc dạy học của các nhàtrường Tạo điều kiện để học sinh được học ở mọi nơi, mọi lúc và bảo đảm côngtác phòng, chống dịch, thích ứng với tình hình của dịch COVID-19; đồng thờithực hiện tốt phương châm “tạm dừng đến trường, không dừng học” đáp ứngmục tiêu chương trình, kế hoạch công tác của năm học
Để tiếp cận với chương trình GDPT mới 2018 sẽ triển khai cho lớp 10 bắtđầu từ năm học 2022 – 2023 Yêu cầu mỗi một giáo viên phải tiếp thu, sử dụngthành thạo công nghệ thông tin đặc biệt là trong dạy học trực tuyến Tuy nhiênmột số giáo viên hiện nay còn lúng túng trong dạy học trực tuyến, nên chắc chắnhiệu quả dạy học sẽ không cao
Nhận thức được tầm quan trọng của năng lực tự chủ và tự học với mỗihọc sinh trong hiện tại và cả tương lai nhằm việc nâng cao chất lượng dạy họcđịa lí nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung cũng như góp phần thực hiệnmục tiêu giáo dục của chương trình giáo dục phổ thông Tôi mạnh dạn đề xuất
sáng kiến: Một số giải pháp phát triển năng lực tự chủ và tự học môn Địa lí cho
học sinh lớp 12 trong dạy học trực tuyến.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Sáng kiến: Một số giải pháp phát triển năng lực tự chủ và tự học môn Địa
lí cho học sinh lớp 12 trong dạy học trực tuyến nhằm đưa ra các giải pháp trong
dạy học môn Địa lí góp phần phát triển năng lực tự chủ và tự học của học sinhtheo hướng mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra nâng cao chất lượng dạy họcmôn Địa lí tại trung tâm GDNN-GDTX Quảng Xương nói riêng và đáp ứng nhucầu đổi mới nền giáo dục của đất nước nói chung
3 Phương pháp nghiên cứu
Là một sáng kiến thuộc phạm trù khoa học giáo dục liên quan đến khoahọc Địa lí, tôi chọn các phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Chúng tôi sử dụng phương pháp nàyvào việc nghiên cứu toàn bộ các tài liệu liên quan đến sáng kiến Nghiên cứunhững thành tựu lí thuyết đã có làm cơ sở lí luận
Phương pháp quan sát sư phạm: Phương pháp này được vận dụng để quansát trực tiếp việc đánh giá sản phẩm học tập của học sinh trong tiết dạy hoặctrong các đợt kiểm tra
Phương pháp điều tra, khảo sát: Phương pháp này được sử dụng để điềutra thực trạng việc đánh giá sản phẩm học tập môn Địa lí của Khối 12 trung tâm
GD NN-GDTX Quảng Xương(Thăm dò ý kiến của giáo viên, học sinh, giáo án,sản phẩm học tập của học sinh )
Phương pháp thống kê, tổng hợp: Phương pháp này dùng để phân tích số
Trang 8liệu, so sánh kết quả trước khi áp dụng và sau khi áp dụng sáng kiến.
4 Đối tượng và phạm vi của sáng kiến.
- Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học trựctuyến bộ môn Địa lí cho học sinh trung học phổ thông, GDNN-GDTX
- Phạm vi nghiên cứu: Áp dụng cho bộ môn Địa lí ở các trường trung họcphổ thông, trung tâm GDNN-GDTX
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 02 năm 2021 đến tháng 02 năm 2022
5 Tính mới của đề tài: Đề tài đã áp dụng năng lực của CTGDPT mới
vào chương trình giáo dục phổ thông hiện hành Thay vì chú trọng ý thức tự học
bài cũ của học sinh trong các đề tài trước đây thì đề tài: Một số giải pháp phát
triển năng lực tự chủ và tự học môn Địa lí cho học sinh lớp 12 trong dạy học trực tuyến đã chú trọng tới phát triển cả năng lực tự học, tự hoàn thiện của HS ở
cả trong nội dung bài cũ cũng như bài mới với nhiều nội dung hướng dẫn tự học
đa dạng và phong phú như: phiếu bài tập, sơ đồ, bài thuyết trình tập san ảnh,video mô hình, trò chơi học tập trên điện thoại hay máy tính như Quizizz khihọc sinh có thể học trực tiếp hoặc trực tuyến Ngoài ra đề tài còn đề cập thêmthành tố tự chủ như: tự lực, tự điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành vi của học sinhhay khả năng thích ứng với cuộc sống và định hướng nghề nghiệp của các emsau này Đề tài còn đưa ra các giải pháp động viên, khen thưởng học sinh nhưphiếu khen, tặng quà… để phát triển năng lực tự chủ và tự học cũng như cácnăng lực chung và năng lực đặc thù khác, góp phần tạo hứng thú học tập, nângcao chất lượng học tập bộ môn địa lí nói riêng và chất lượng giáo dục nói chung.Đây là điều mà các đề tài nghiên cứu trước chưa làm được
Trang 9PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Cơ sở lí luận
1.1 Dạy học trực tuyến
Dạy học trực tuyến là hình thức giảng dạy và học tập ở các lớp học trênInternet Người dạy và người học sẽ sử dụng phần mềm nền tảng học trực tuyến,ứng dụng truyền âm thanh, hình ảnh và các thiết bị thông minh (laptop,smartphone, máy tính bảng, điện thoại thông minh ) Các bài giảng, tài liệu(dưới dạng văn bản, hình ảnh, video…) được đưa lên các nền tảng và ngườidùng có thể dễ dàng truy cập và học mọi lúc mọi nơi Bên cạnh đó còn có cáckhóa học cùng thời gian thực có sự tham gia và tương tác giữa giáo viên và họcviên
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra ngày càng mạnh
mẽ, làm cho cuộc sống của con người ngày càng trở nên bận rộn, khó sắp xếpthời gian, không gian cho những lớp học và khung giờ cố định Vì vậy, dạy họctrực tuyến ngày càng trở nên phổ biến trên thế giới, điển hình là các nước pháttriển với nền giáo dục hiện đại như Anh, Mỹ So với các lớp học truyền thống,khi tham gia các lớp học trực tuyến, người học có thể hoàn toàn chủ động vềmặt thời gian, không gian học tập
Ở Việt Nam, giáo dục là một trong những lĩnh vực được quan tâm vàđầu tư hàng đầu nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong cuộc sống hiện đại.Nhiều năm qua (từ khi dịch bệnh COVID-19 chưa diễn ra) ngành GDĐT đã chủđộng triển khai các nhiệm vụ, giải pháp tăng cường ứng dụng CNTT- VT hỗ trợquản lý, dạy, học, kiểm tra đánh giá, nghiên cứu khoa học đạt kết quả được ghinhận Trong bối cảnh dịch COVID-19 vẫn tiếp tục diễn biến hết sức phức tạp,khó lường, theo tinh thần chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ, ngành Giáodục và Đào tạo cần đẩy mạnh triển khai các nhiệm vụ, giải pháp tổ chức dạy học
an toàn, bảo đảm chương trình và mục tiêu chất lượng giáo dục, tập trung đổimới mạnh mẽ phương pháp tổ chức dạy học, đa dạng hóa các hình thức tổ chứcdạy học để khắc phục, ứng phó với tác động của dịch COVID-19 và các tìnhhuống bất thường, thì dạy học trực tuyến (online) đã, đang và sẽ trở thành xuhướng được tăng cường, củng cố và dần trở thành một xu thế tất yếu, nhiệm vụchính trong các nhiệm vụ triển khai năm học để thích ứng với tình hình mới
1.2 Môn Địa lí trong chương trình giáo dục phổ thông
Trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018, chương trình môn học Địa
lí 2018 xác định: Trên nền tảng những kiến thức cơ bản và phương pháp giáodục đề cao hoạt động chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh, chương trìnhmôn Địa lí giúp học sinh hình thành, phát triển năng lực địa lí - một biểu hiệncủa năng lực khoa học; đồng thời góp phần cùng các môn học và hoạt động giáodục khác phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung đãđược hình thành trong giai đoạn giáo dục cơ bản, đặc biệt là tình yêu quê hương,đất nước; thái độ ứng xử đúng đắn với môi trường tự nhiên, xã hội; khả năng
Trang 10định hướng nghề nghiệp; để hình thành nhân cách công dân, sẵn sàng đóng gópvào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Ở trung học phổ thông, Địa lí là môn học thuộc nhóm môn khoa học xãhội được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của học sinh.Môn Địa lí vừa thuộc lĩnh vực khoa học xã hội (Địa lí kinh tế - xã hội) vừathuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên (Địa lí tự nhiên), giúp học sinh có được nhữnghiểu biết cơ bản về khoa học địa lí, các ngành nghề có liên quan đến địa lí, khảnăng ứng dụng kiến thức địa lí trong đời sống; đồng thời củng cố và mở rộngnền tảng tri thức, kĩ năng phổ thông cốt lõi đã được hình thành ở giai đoạn giáodục cơ bản, tạo cơ sở vững chắc giúp học sinh tiếp tục theo học các ngành nghềliên quan Chương trình môn Địa lí xác định rõ các phẩm chất và năng lực có thểhình thành, phát triển qua môn học Đó là năm phẩm chất chủ yếu của ngườiViệt Nam, ba năng lực chung và các năng lực đặc thù khác
1.3 Năng lực là gì?
Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn
có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp cáckiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ýchí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mongmuốn trong những điều kiện cụ thể
Năng lực chung: là những năng lực cơ bản, thiết yếu làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người, là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng cầnphải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả Năng lực chung được hình thành
và phát triển dựa trên bản năng di truyền, quá trình giáo dục và trải nghiệm Năng lực chung được hình thành và phát triển qua tất cả các môn học và HĐGD:năng lực tự chủ và tự học, Năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn
đề và sáng tạo
Môn Địa lí có nhiều ưu thế hình thành và phát triển các năng lực chung đãquy định trong Chương trình tổng thể Năng lực tự chủ và tự học: được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động học tập như thu thập thông tin vàtrình bày báo cáo địa lí; khảo sát, điều tra thực tế địa phương, vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tế, Năng lực giao tiếp và hợp tác: được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động nhóm và phương pháp dạy học thảo luận, dạy học dự án, xêmina, Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: được hìnhthành và phát triển thông qua các hoạt động phát hiện vấn đề, nêu giả thuyết hoặc giả định, tìm lôgic trong giải quyết vấn đề, đề xuất được giải pháp giải quyết vấn đề, đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề, tưởng tượng khoa học, giải quyết vấn đề mới, tự học về lí thuyết và công cụ địa lí
Tuy nhiên trong phạm vi đề tài này tôi chỉ nghiên cứu chính về năng lựcchung: Năng lực tự chủ và tự học trong dạy học địa lí cấp THPT trong dạy họctrực tuyến
1.4 Yêu cầu cần đạt về năng lực tự chủ và tự học cấp THPT
Trang 11- Tự lực: Luôn chủ động, tích cực thực hiện những công việc của bản thân
trong học tập và trong cuộc sống; biết giúp đỡ người sống ỷ lại vươn lên để cólối
sống tự lực
- Tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu chính đáng: Biết khẳng định và
bảo vệ quyền, nhu cầu cá nhân phù hợp với đạo đức và pháp luật
- Tự điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành vi của mình: Đánh giá được
những ưu điểm và hạn chế về tình cảm, cảm xúc của bản thân; tự tin, lạc quan.Biết tự điều chỉnh tình cảm, thái độ, hành vi của bản thân; luôn bình tĩnh và cócách cư xử đúng Sẵn sàng đón nhận và quyết tâm vượt qua thử thách trong họctập và đời sống Biết tránh các tệ nạn xã hội
- Thích ứng với cuộc sống: Điều chỉnh được hiểu biết, kĩ năng, kinh
nghiệm của cá nhân cần cho hoạt động mới, môi trường sống mới Thay đổiđược cách tư duy, cách biểu hiện thái độ, cảm xúc của bản thân để đáp ứng vớiyêu cầu mới, hoàn cảnh mới
- Định hướng nghề nghiệp: Nhận thức được cá tính và giá trị sống của bản
thân Nắm được những thông tin chính về thị trường lao động, về yêu cầu vàtriển vọng của các ngành nghề Xác định được hướng phát triển phù hợp sautrung học phổ thông; lập được kế hoạch, lựa chọn học các môn học phù hợp vớiđịnh hướng nghề nghiệp của bản thân
- Tự học, tự hoàn thiện: Xác định được nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả
đã đạt được; biết đặt mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể, khắc phục những hạn chế.Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học riêng củabản thân; tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn được nguồn tài liệu phù hợp với mụcđích, nhiệm vụ học tập khác nhau; ghi chép thông tin bằng các hình thức phùhợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết Tự nhận ra vàđiều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; suyngẫm cách học của mình, rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tìnhhuống khác; biết tự điều chỉnh cách học Biết thường xuyên tu dưỡng theo mụctiêu phấn đấu cá nhân và các giá trị công dân
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Thực trạng của vấn đề
Nói đến dạy học là một công việc vừa mang tính khoa học vừa mang tínhnghệ thuật Do đó đòi hỏi người giáo viên cần có năng lực sư phạm vững vàng,phương pháp giảng dạy phù hợp theo hướng tích cực giúp học sinh chủ độngtrong việc chiếm lĩnh kiến thức Việc tạo cho học sinh niềm hứng thú trong họctập hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực sư phạm của giáo viên
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 với định hướng là tích cực hóahoạt động học tập của học sinh, khơi dậy và phát triển năng lực tự chủ và tự họcnhằm hình thành cho học sinh tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo, nâng cao nănglực phát hiện và giải quyết vấn đề, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vàothực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học
Trang 12sinh Thế nên, năng lực tự chủ và tự học có vị trí và vai trò rất quan trọng Nó làmục tiêu cơ bản của quá trình dạy học Bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học làphương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh mẽ cho quá trình học tập Hơn thếnữa, tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời Tuy nhiên, dodiễn biến covid 19 phức tạp Học sinh phải học trực tuyến Chính vì vậy dạy họcmôn Địa lí ở trường THPT còn tồn tại những vấn đề không nhỏ ảnh hưởng đếnviệc hình thành năng lực tự học của học sinh và dẫn đến chất lượng bộ môn Địa
lí chưa cao
Tôi đã tiến hành khảo sát đối với 1 giáo viên dạy Địa lí trong trường vềthực hiện phát triển năng lực tự chủ và tự học môn Địa lí của học sinh khối 12trung tâm GDNN-GDTX Quảng Xương Kết quả thu được như sau:
hiện
Tỉ lệ học sinh được thực hiện/đánh giá
Đồng thời chúng tôi tiến hành khảo sát với 122 học sinh khối 12 về việcphát triển năng lực tự chủ và tự học môn Địa lí Kết quả thu được như sau:
2 Các em được đánh giá nội dung tự học bằng:
Trang 13cũ của học sinh mà ít quan tâm tới việc chuẩn bị bài mới của các em…GV đánhgiá năng lực tự chủ và tự học của học sinh chủ yếu là nhận xét và lấy điểmmiệng cũng như điểm trong các bài kiểm tra và kì thi để cho đủ số lần điểm theoquy định Đa số các thầy cô chưa quan tâm phát triển thành tố tự lực, tự điềuchỉnh tình cảm, thái độ, hành vi của học sinh hay khả năng thích ứng với cuộcsống và định hướng nghề nghiệp Lại thêm, một thực trạng đáng buồn hiện naycủa học sinh khối lớp 12 Ngoài các em tham gia thi khối xã hội chăm chỉ, tựhọc, tự nghiên cứu thì đại bộ phận học sinh chưa thật mặn mà, thậm chí là xemnhẹ, thờ ơ đối với môn Địa lí, việc học chỉ mang tính đối phó, coi trọng điểm sốhơn là tích lũy kiến thức, năng lực thông qua quá trình học tập bộ môn Các emhọc sinh bị cuốn vào mạng xã hội: zalo, facebook; thường xuyên chơi điện tử,sống ảo không chú tâm vào việc học hành Năng lực tự chủ và tự học chưatốt: chưa chăm chỉ học bài cũ, chưa tích cực chuẩn bị bài mới, chưa tự chủ trongtình cảm, thái độ và hành vi học tập của mình Cách học của học sinh vẫn đơngiản là cố gắng hoàn thành hết số bài tập giáo viên giao về nhà và học thuộctrong vở ghi chứ không có ý định tự học, tự hoàn thiện Mặc dù các em khá năngđộng trong việc ứng dụng công nghệ thông tin để khai thác các bài giảng củathầy cô giáo nhưng trên thực tế, hoàn cảnh, điều kiện cơ sở vật chất của gia đìnhhọc sinh sẽ chi phối nhiều đến hoạt động học trực tuyến Bởi lẽ, không phải giađình nào cũng trang bị được mạng, máy tính, điện thoại thông minh để cho con
em mình học tập, nhất là ở các gia đình khó khăn Hơn nữa, do đặc thù của họctrực tuyến nên việc quản lý nề nếp, ý thức học tập của học sinh không được trựctiếp nên sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập của học sinh
Tóm lại với những thực trạng trên, học sinh chưa phát huy được phẩmchất, năng lực của mình qua quá trình học tập và chất lượng bộ môn cũng nhưchất lượng học sinh giỏi chưa như kì vọng và chưa đáp ứng được yêu cầu củađổi mới giáo dục hiện nay
2.2 Nguyên nhân của thực trạng.
Để tìm nguyên nhân của thực trạng Tôi cũng tiến hành khảo sát đối vớihọc sinh về mức độ hứng thú với môn học Địa lí và nguyên nhân không hứngthú với môn học
Tổng số học sinh tham gia khảo sát:122 em.Kết quả thu được như sau:
1 Mức độ hứng thú với môn học
Trang 14Do suy nghĩ môn Địa lí chỉ là môn phụ 24 19,7%Sau khi nhận kết quả khảo sát từ các lớp và tổng hợp các ý kiến của giáoviên trong tổ chuyên môn cũng như các đồng nghiệp trong tập huấn Tôi đưa racác nguyên nhân sau:
Thứ nhất: do giáo viên chưa thực sự chú trọng tới việc hướng dẫn họcsinh phát triển năng lực tự chủ và tự học Chưa đưa ra các hình thức và yêu cầu
cụ thể để học sinh thực hiện, chưa linh hoạt trong đánh giá năng lực tự chủ và tựhọc của học sinh, chưa có các hình thức khích lệ kịp thời Một số giáo viên chưalinh hoạt khi sử dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học nên chưa thu hút đượchọc sinh hứng thú với môn học
Thứ hai: chương trình giáo dục phổ thông hiện hành còn nặng về kiếnthức, nội dung bài học còn dài nên không có nhiều thời gian cho các hoạt độngkiểm tra đánh giá việc tự học
Thứ ba: tâm lí môn Địa lí là “môn phụ” vẫn còn tồn tại ở một số học sinh
và cả phụ huynh.Các em vẫn coi trọng các môn Toán, Lý, Hóa, Văn, Tiếng Anhchứ chưa nhận thức được vị trí, vai trò của môn Địa lí nên thiếu quan tâm đếnviệc học môn này
Thứ tư: do đối tượng dạy học, một số học sinh nhận thức chưa có động cơhọc tập, một số em nhận thức chậm, chưa tự giác, chưa tích cực tham gia cáchoạt động học tập nên chưa hoàn thành các nhiệm vụ học tập mà giáo viên giao
Thứ năm: do tình hình dịch covid các em học trực tuyến và không cóngười quản lí nên các em học còn mang tính chất đối phó, qua loa và chưa chămchỉ học bài dễ bị thu hút bởi trò chơi điện tử và mạng xã hội
3 Giải pháp khắc phục thực trạng
3.1 Giải pháp 1: Hình thành động cơ học tập Địa lí cho học sinh
3.1.1 Mục tiêu giải pháp: Giúp học sinh nhận thức được vị trí và vai trò
của môn Địa lí trong trường THPT từ đó tạo được nhu cầu và động cơ học tậpthiết thực với các em
3.1.2 Nội dung giải pháp
Môn địa lý trong chương trình phổ thông là cung cấp cho HS các cơ hộihiểu thêm về thế giới, những thách thức mà thế giới phải đối mặt HS tìm hiểu
về các quá trình thay đổi của địa lý, làm sáng tỏ những tác động và sự thay đổitrong mối quan hệ giữa con người và môi trường… Môn học này còn giúp HStrở thành những công dân toàn cầu, có hiểu biết và quan tâm về môi trường Địa
lý không chỉ là những địa điểm có tên trên bản đồ mà còn về con người, văn
Trang 15hóa, lịch sử của từng vùng miền; các tác động về thiên tai đến cuộc sống conngười và cách đối xử của nhân loại đối với tự nhiên đã làm thay đổi bề mặt địa
lý, hoàn cảnh xã hội và điều kiện kinh tế như thế nào Có thể nói, nắm vững địa
lý sẽ giúp thế hệ tương lai hiểu hơn về quá khứ, hiện tại và tương lai của toàncầu, cũng như vai trò của từng địa phương đối với phần còn lại của thế giới
Chương trình môn học Địa lí 2018 xác định:Trên nền tảng những kiếnthức cơ bản và phương pháp giáo dục đề cao hoạt động chủ động, tích cực, sángtạo của học sinh, chương trình môn Địa lí giúp học sinh hình thành, phát triểnnăng lực địa lí - một biểu hiện của năng lực khoa học; đồng thời góp phần cùngcác môn học và hoạt động giáo dục khác phát triển ở học sinh các phẩm chất chủyếu và năng lực chung đã được hình thành trong giai đoạn giáo dục cơ bản, đặcbiệt là tình yêu quê hương, đất nước; thái độ ứng xử đúng đắn với môi trường tựnhiên, xã hội; khả năng định hướng nghề nghiệp; để hình thành nhân cách côngdân, sẵn sàng đóng góp vàosự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
3.1.3 Quá trình áp dụng giải pháp vào thực tiễn và kết quả đạt được
Động cơ học tập là những động lực bên trong trực tiếp thúc đẩy tính tíchcực hoạt động của con người Các Mác đã khẳng định: “Con người ta sẽ khônglàm bất cứ điều gì, nếu nó không liên quan đến nhu cầu, động cơ của họ” Vìvậy, xây dựng động cơ học tập đúng đắn cho học sinh luôn có một ý nghĩa quantrọng, nhằm nâng cao tính tích cực học tập của học sinh, góp phần thực hiệnthắng lợi mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra trong tình hình mới
Địa lí là môn học mà đối tượng nghiên cứu là thể tổng hợp tự nhiên và thểtổng hợp kinh tế - xã hội xung quanh đời sống con người Các hiện tượng tựnhiên và xã hội thay đổi theo thời gian và không gian, tuy nhiên các hiện tượngnày gần gũi và tác động trực tiếp đến đời sống của mỗi người Chính vì vậy chohọc sinh tự nêu ra những nhu cầu hiểu biết của bản thân về thế giới xung quanh
là nhân tố đầu tiên để khuyến khích các em tự học Để làm được điều đó, cầntrang bị cho học sinh năng lực quan sát, năng lực khái quát, năng lực sáng tạo vàđộc lập trong quá trình nghiên cứu những hiện tượng này
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy khoảng cách trong tư duy giữacác thế hệ (giáo viên - học sinh) đã làm cho giáo viên chưa nhận ra những nhucầu của học sinh khi học tập bộ môn Địa lí Các kiến thức địa lí mà giáo viêncung cấp thường mang tính hàn lâm - khoa học, ít có sự gần gũi với học sinh.Hoặc nói cách khác, chưa trúng với nguyện vọng học tập của học sinh Thêmvào đó, ở lứa tuổi 17,18 các em đã có những tích lũy kiến thức thực tế nhất định,nhu cầu khẳng định bản thân, thể hiện bản thân rất lớn nên bên cạnh tìm ra cácphương pháp học tập phù hợp Việc sử dụng các kĩ thuật dạy học sao cho họcsinh thể hiện tốt năng lực của mình Giáo viên có thể nắm bắt nhu cầu, mongmuốn học tập của học sinh là điều vô cùng cần thiết
Các bài giảng có tính thực tế như Địa lí địa khu vực, địa lí địa phương…cần được sử dụng một cách tiếp cận mới, có sự tương tác giữa giáo viên và họcsinh cao hơn Ở đó, học sinh được bày tỏ những kiến thức, quan điểm hay suynghĩ của bản thân để hướng tới dạy học thật sự như tiêu chí đề ra của Bộ
Trang 16GD&ĐT là lấy người học làm trung tâm, giáo viên chỉ là người đóng vai tròđịnh hướng để học sinh tiếp thu kiến thức mới Mục tiêu giờ học Địa lí là tạo ragiờ học sôi động, lôi cuốn đối với học sinh, sử dụng những điều gần gũi với họcsinh thay vì các kiến thức lí thuyết đôi khi hơi nhàm chán và không còn phù hợpvới thực tế.
Có nhiều cách thức tự học, nhưng khái quát lại có hai cách thức tự học cơbản là: tự học có hướng dẫn và tự học hoàn toàn Để có kết quả học tốt thì tự họctrước hết phải có sự hướng dẫn của thầy, qua đó tích luỹ kinh nghiệm tự học, sau
đó tự học với sách, tự học không có thầy hướng dẫn Tự học có hướng dẫn:Người đóng vai trò hướng dẫn ở đây chính là người thầy Tự học hoàn toàn làmức mà mọi người phải đạt được nếu muốn tự học suốt đời Như vậy trong hoạtđộng giảng dạy giáo viên tổ chức hướng dẫn học sinh lĩnh hội kiến thức…Tuynhiên, yếu tố quyết định cho chất lượng học chính là yếu tố nội lực của ngườihọc – sự tự học Do đó giáo viên phải chú ý đến việc rèn luyện để các em làmchủ được khả năng tự học của bản thân
Trong môi trường học đường, nhà trường, gia đình, xã hội cần có nhữngtác động tích cực để học sinh hình thành và phát triển động cơ học tập đúnghướng, phù hợp với bản thân và yêu cầu xã hội Hình thành và phát triển đượcnhững động cơ học tập đúng đắn, lành mạnh sẽ là động lực mạnh mẽ giúp họcsinh đạt được mục đích, thành công trong học tập
Để khơi gợi hứng thú học tập, tôi đã hướng dẫn xây dựng cho học sinhcác lớp mình dạy động cơ học tập đúng đắn là việc cần làm đầu tiên Bởi vì,thành công không bao giờ là kết quả của một quá trình ngẫu hứng tùy tiện thiếutính toán, kể cả trong học tập lẫn nghiên cứu Nhu cầu xã hội và thị trường laođộng hiện tại đặt ra cho mỗi người những tố chất cần thiết chứ không phải lànhững điểm số đẹp, những chứng chỉ như vật trang sức vào đời mà không cóthực lực vì động cơ học tập lệch lạc Có động cơ học tập tốt khiến cho người taluôn tự giác say mê, học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng với một niềm vuisáng tạo bất tận Động cơ học tập của học sinh không phải là một quá trình hìnhthành tự phát, cũng chẳng được đem lại từ bên ngoài mà nó hình thành và pháttriển một cách tự giác thầm lặng từ bên trong Do vậy, tôi đã đưa ra những biệnpháp nhằm khơi dậy hứng thú học tập và năng lực tiềm tàng của các em, tạo mọiđiều kiện tốt nhất để các em tự kích thích động cơ học tập của mình
Đối với phần đông học sinh, việc tạm gác những thú vui, những trò giải tríhấp dẫn nhất thời để toàn tâm toàn sức cho việc học là hai điều có ranh giới vôcùng mỏng manh Nó đòi hỏi sự quyết tâm cao và ý chí mạnh mẽ cùng nghi lực
đủ để chiến thắng chính bản thân mình, trong đó người thầy đóng vai trò chủđạo
Trong khuôn khổ thời lượng là những tiết địa lí ở trên lớp tôi đã hìnhthành động cơ học tập cho học sinhbằng những việc làm cụ thể như sau:
Tiết học đầu tiên của năm học, tôi dành hai mươi phút để cho các em chia
sẻ về vị trí, vai trò của môn Địa lí, các em sẽ được chia sẻ: Tại sao cần học địalí? Học địa lí cần thiết thế nào đối với bản thân trong sự phát triển của xã hội