Sáng kiến kinh nghiệm MỤC LỤC TT Mục Nội dung Trang 1 1 Mở đầu 1 2 1 1 Lí do chọn đề tài 1 3 1 2 Mục đích nghiên cứu 1 4 1 3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn đề tài 1 5 1 4 Phương pháp nghiên cứu 1 6 1 4 1 Nghiên cứu lý thuyết 1 7 1 4 2 Nghiên cứu thực tiễn 2 8 2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm 2 9 2 1 Cở sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 2 10 2 2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3 11 2 3 Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề 4 12 2 3 1 Nắm vững lý thuyết quan.
Trang 1MỤC LỤC
4 1.3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn đề tài 1
9 2.1 Cở sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 2
10 2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3
11 2.3 Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề 4
12 2.3.1 Nắm vững lý thuyết quan niệm về ngôi kể và cách sử dụng ngôi kể trong văn tự sự (Đối với giáo viên) 4
13 2.3.2 Rèn luyện cách sử dụng ngôi kể trong quá trình dạy văn tự sự 7
1 Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong sách giáo khoa Ngữ văn 10, sách Ngữ văn 11, sách Ngữ văn 12 tác phẩm tự sự chiếm 20,0% số lượng tiết học chính khoá và học thêm (Lớp 10: 19/105 tiết chiếm 18,1 %; Lớp 11: 19/123 tiết chiếm 15,5 %; Lớp 12: 17/47 bài chiếm 28,5 %) Vì vậy, dạy, học tác phẩm tự sự trong chương trình THPT chiếm
Trang 2một khối lượng lớn, đòi hỏi người giáo viên và học sinh phải nắm được đặc
trưng, kĩ năng phân tích tác phẩm tự sự
Theo định nghĩa của sách làm văn 11-NXB GD, 2001:“Tác phẩm tự sự là tác phẩm kể chuyện Trong tác phẩm tự sự qua lời kể, lời tả, cuộc sống hiện lên với những nhân vật, những sự kiện để thể hiện tư tưởng thái độ đối với con người và xã hội” (Trang 28) Hay:“Tác phẩm tự sự là câu chuyện kể về một người nào đó, một vật gì đó, hay một sự kiện nào đó Cho nên tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện Gắn liền với cốt truyện là hệ thống nhân vật được khắc hoạ về nhiều mặt Cốt truyện được triển khai, nhân vật được khắc họa thông qua các chi tiết nghệ thuật phong phú, đa dạng như: các sự kiện, xung đột, ngoại cảnh, nội thất, ngoại hình nhân vật, hoạt động nội tâm… Để tổ chức các chi tiết nghệ thuật, tác giả dùng lời kể để giới thiệu, giải thích, thuyết minh các sự việc xảy ra, biểu hiện cách cảm nhận, cách đánh giá của tác giả đối với sự việc”(Trang 16) Một nhà nghiên cứu đã từng khẳng định: Tình huống truyện là
nền móng của tác phẩm, nhân vật là trụ cột, lời kể là không khí, là linh hồn của tác phẩm… Bởi vậy khi phân tích tác phẩm tự sự, người dạy, người học cần xác định rõ kĩ năng khai thác lời kể, ngôi kể - những mã khoá giúp người dạy, người
học đi từ những “phần chìm” để tìm ra tư tưởng, chủ đề của tác phẩm văn học.
Làm thế nào, chúng ta - vừa là người đọc truyện, vừa là người giảng
truyện để truyền cho Học Sinh cái cảm giác“Uống xong lại khát” ấy Đó chính
là những lí do đưa tôi đến với đề tài: “Rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôi kể, lời
kể trong dạy văn tự sự”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Giúp người dạy văn, học văn tìm ra một hướng tiếp cận sâu hơn đối với tác phẩm tự sự trong chương trình THPT (dạy học theo đặc trung thể loại)
- Giúp học sinh tiếp cận tác phẩm theo khuynh hướng “mở”
- Học ít hơn nhưng tiếp cận tri thức được nhiều hơn
1.3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn đề tài:
- Kỹ năng sử dụng ngôi kể, lời kể trong dạy văn tự sự
- Các tác phẩm tự sự trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6, 8,
10, 11, 12
- Học sinh lớp 10, 11, 12 (khoá học 2019 - 2022) Trung tâm GDNN-GDTX huyện Quảng Xương
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Nghiên cứu lý thuyết:
Trang 3- Đọc, tìm hiểu và nghiên cứu các tài liệu viết về tác phẩm tự sự, ngôi kể,
lời kể trong tác phẩm tự sự như: “ Tự sự học - một số vấn đề lí luận và lịch sử”;
“Từ điển tiếng Việt”
- Đọc tìm hiểu một số bài học như: “Ngôi kể, lời kể - Ngữ văn 6”; “ luyện
tập viết đoạn văn tự sự kết hợp các yếu tố miêu tả và biểu cảm - Ngữ văn 8”
- Đọc nghiên cứu các tác phẩm tự sự trong chương trình Ngữ văn lớp 10,
11, 12
1.4.2 Nghiên cứu thực tiễn:
- Dự một số tiết dạy tác phẩm tự sự của đồng nghiệp
- Thực nghiệm hệ thống bài tập sử dụng ngôi kể, lời kể trong các giờ học của các phân môn Ngữ văn: Đọc hiểu; Tiếng Việt; Làm văn…
- Chọn 2 lớp có trình độ ngang nhau, một lớp chú ý rèn luyện năng lực sử dụng lời kể, ngôi kể cho học sinh trong các giờ học và một lớp không chú ý rèn luyện năng lực lời kể, ngôi kể So sánh, đối chiếu kết quả để rút ra kết luận
2 Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cở sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Môn Ngữ văn là một trong những môn học có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống các môn học của nhà trường phổ thông cũng là môn học có nhiều thay đổi nhất trong việc đổi mới chương trình, SGK, phương pháp đến đánh giá kết quả học tập Nhiều vấn đề được đặt ra khi phải tiếp cận một chương trình mới, trong đó vấn đề đổi mới phương pháp nâng cao chất lượng học tập của học sinh là vấn đề được đặt lên hàng đầu Chương trình SGK Ngữ văn lớp 10 được
tổ chức thực hiện từ năm 2006 - 2007 đến nay đã được gần 20 năm Nội dung đổi mới chương trình, việc đổi mới phương pháp giảng dạy, chất lượng học tập của học sinh đã được phản ánh sôi nổi trên báo chí, trong hội thảo khoa học và các phương tiện thông tin đại chúng, song bài toán chất lượng là điều làm cho các nhà quản lý giáo dục, quản lý chuyên môn phải tính toán Quan điểm đổi mới phương pháp dạy học chương trình Ngữ văn là phải kết hợp nhiều phương pháp trong dạy học, là phải “tích hợp nhiều phương pháp trong bài học, tiết học
và trong cả quá trình tổ chức hoạt động dạy học trên cơ sở xác định phương pháp chính gắn với đặc trưng của môn học Tổ chức hoạt động dạy học theo hướng tích cực, phát huy năng lực chủ động, sáng tạo ở cả người dạy lẫn người học, chú trọng khái quát nội dung kiến thức tạo thuận lợi để học sinh lĩnh hội và phát triển các thao tác tư duy khoa học Tăng cường và sử dụng hợp lý các phương tiện trong dạy học, “nâng cao chất lượng hoạt động thực hành hướng tới đảm bảo sự phát triển năng lực cho mỗi cá nhân” vừa phải tổng kết được những kiến thức, kĩ năng được học tập, rèn luyện trong ba năm học, vừa phải chuẩn bị cho các kì thi, tạo tâm thế, tiềm lực cho học sinh thi tốt nghiệp THPT hoặc đi vào cuộc sống Tập làm văn tự sự trong chương trình THPT là sự kế thừa và nâng cao kĩ năng làm văn thể loại này mà học sinh đã được học, được rèn luyện
Trang 4từ các lớp dưới; làm văn tự sự thuộc dạng sáng tác văn học Đặc trưng cơ bản của kiểu bài là kích thích trí tưởng tượng phong phú, xây dựng óc quan sát tinh
tế cho học sinh đối với những sự việc, hiện tượng trong đời sống gia đình và xã hội, qua đó bồi dưỡng cho các em những tình cảm tốt đẹp
Người giáo viên bao giờ cũng muốn học trò của mình làm được những bài văn hay Bài văn hay trước hết phải là viết đúng (đúng theo nghĩa tương đối, nghĩa là trong khuôn khổ nhà trường) Hay và đúng có mối quan hệ mật thiết với nhau Bài văn hay trước hết phải đúng yêu cầu của đề bài, đúng những kiến thức
cơ bản, hình thức trình bày đúng quy cách…, đồng thời phải thể hiện sự sáng tạo, trí tưởng tượng phong phú mà vẫn chân thật, sinh động Tuy nhiên, giúp học sinh làm được như thế không phải là dễ
Năm 2008, Bộ Giáo dục tiếp tục triển khai cho giáo viên trên toàn quốc một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn, trong đó phương pháp giảng dạy phân môn Tập làm văn được chú trọng nhiều nhất cũng đã mở ra nhiều hướng suy nghĩ mới, giúp cho giáo viên giảng dạy tốt hơn nếu biết tự nghiên cứu và vận dụng sáng tạo hơn
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Ngôi kể, lời kể là những đặc trưng quan trọng của văn tự sự Hình thành kỹ năng trong quá trình dạy học văn tự sự cho học sinh không thể không chú ý đến những vấn đề này Học sinh phải phân biệt được sự khác nhau trong các kiểu lời
nói (lời văn): lời kể nhân vật, lời kể việc, lời miêu tả, bình luận, lời đối thoại Lời
kể phụ thuộc vào ngôi kể - vị trí giao tiếp khi kể chuyện Kể theo ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba, sự kết hợp giữa hai ngôi, sự chuyển đổi ngôi kể để tạo nên một tình huống giao tiếp mới do thay đổi vị trí của các nhân vật giao tiếp… đó là những năng lực cần rèn luyện cho học sinh khi dạy học văn tự sự Nhưng để hướng đến việc rèn luyện được những năng lực ấy, cần xây dựng được một hệ thống kỹ năng, trong đó hệ thống bài tập về ngôi kể, lời kể giữ vai trò chủ đạo
Một thực tế có thể dễ dàng nhận thấy trong chương trình Ngữ văn có nhiều văn bản tự sự có dung lượng lớn nhưng thời lượng cho tiết dạy lại ít nên khá nhiều giáo viên lúng túng, thường phải chạy theo bài dạy nếu không
muốn“cháy giáo án” Thế nên nhiều tiết dạy đã không đạt được yêu cầu như
mong muốn Những trăn trở trên thật đáng trân trọng bởi đối với giáo viên Ngữ văn, chúng tôi thiết nghĩ, không có một mục đích nào khác là mong muốn cho học sinh tiếp nhận tác phẩm một cách trọn vẹn Và cũng chính bởi sự tâm huyết
ấy mà nhiều giáo viên đã cố gắng cung cấp cho học sinh thật nhiều thông tin về tác giả, tác phẩm và lẽ dĩ nhiên như thế thì đã trễ lại càng trễ Nói tóm lại, giảng dạy truyện thì phải phân tích lời kể của truyện, phân tích phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm Lời kể chuyện là sợi tơ dệt nên tình tiết và nhân vật dệt nên toàn bộ hình tượng Lời kể chính là ngôn ngữ nghệ thuật của truyện Phân tích lời kể của tác giả chính là thực chất, là nội dung chính của việc phân tích ngôn ngữ khi giảng truyện
Trang 5- Một bộ phận giáo viên chưa thật sự nắm bắt được các nguyên tắc cơ bản của phương pháp dạy tác phẩm tự sự, chưa thật sự nắm được đặc trưng của tác phẩm tự sự (ngôi kể, lời kể…) Có người nhầm tưởng rằng trong giờ dạy đưa ra nhiều kiến thức về tác giả, tác phẩm như thế là đã giúp học sinh nắm được tốt tác phẩm, là phát huy tính tích cực của học sinh
- Tâm huyết nghề nghiệp và trách nhiệm của một bộ phận giáo viên đối với tiết học chưa nhiều Ngại sử dụng phương pháp dạy học theo đặc trưng thể loại, dạy học nêu vấn đề, vì để dạy theo phương pháp này một cách đúng nghĩa đòi hỏi phải soạn bài và nghiên cứu tài liệu rất công phu, mất rất nhiều thời gian
và công sức, trong giờ dạy giáo viên phải tập trung tâm lực cao mới có thể thực hiện được
- Một bộ phận đáng kể học sinh lười học hoặc học lệch không có vốn kiến thức cần thiết để cùng tham gia xây dựng bài với thầy cô giáo
- Một bộ phận học sinh ngại đọc tài liệu, ngại trả lời câu hỏi… học tập thụ động không hăng hái trong học tập
Trong không khí của công cuộc đổi mới trong công tác giảng dạy hiện nay, một trong những điều mà mọi người đang quan tâm đó là làm thế nào để khơi dậy tiềm lực nội tại trong mỗi học sinh trong quá trình học tập Tạo điều kiện để học sinh có thể tự học, tự tiếp cận tri thức Đây là xu hướng giáo dục tích cực đang được đặc biệt chú trọng Vậy nên, trong quá trình giảng dạy, yêu cầu giúp học sinh nắm được chuẩn bị bài một cách nghiêm túc đã trở thành một công việc thật sự hữu ích cho quá trình học tập của mỗi học sinh Với môn Ngữ văn (đặc biệt đối với tác phẩm tự sự), giảng dạy truyện cần đi sâu phân tích lời
kể của truyện, phân tích phong cách ngôn ngữ của tác phẩm Bởi lời kể chuyện
là sợi tơ dệt nên tình tiết và nhân vật, dệt nên toàn bộ hình tượng Yêu cầu này càng trở nên cấp thiết hơn bởi lẽ để tiếp cận một tác phẩm văn học cần phải hội
tụ nhiều kĩ năng, phải có sự tiếp cận bề mặt văn bản trên cơ sở đó cảm nhận những giá trị thẩm mĩ ẩn chứa sau từng con chữ Việc học sinh nắm vững lý thuyết ngôi kể, lời kể là đã làm tốt công việc tiếp cận bề mặt văn bản Đây có thể
nói là yếu tố “nền” để khi lên lớp kết hợp với những tri thức của giáo viên cung
cấp, học sinh sẽ có một cái nhìn tương đối trọn vẹn về tác phẩm văn học được học (ở mức độ phổ thông)
Cũng từ những thực trạng trên, để nâng cao hiệu quả giờ dạy học Văn nói chung, giờ dạy tác phẩm tự sự nói riêng, tôi đã suy nghĩ, tìm hiểu và trao đổi với đồng nghiệp tìm ra một số biện pháp phù hợp để giải quyết thực trạng trên
2.3 Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Nắm vững lý thuyết quan niệm về ngôi kể và cách sử dụng ngôi
kể trong văn tự sự (Đối với giáo viên)
2.3.1.1 Quan niệm về ngôi kể
Khái niệm “Ngôi” được hiểu là: “Phạm trù ngữ pháp gắn liền với các loại từ như đại từ, động từ, biểu thị vị trí của các nhân vật trong giao tiếp; là
Trang 6người nói hay người nghe hay người hoặc vật được nói đến.“Tôi, mày, nó” là
ba đại từ trỏ ba ngôi trong tiếng Việt” Sách Ngữ văn lớp 6 tập 1 định nghĩa:“ Ngôi kể là vị trí giao tiếp mà người kể sử dụng khi kể chuyện Khi người kể xưng“tôi” thì đó là kể theo ngôi thứ nhất Khi người kể giấu mình, gọi sự vật bằng tên của chúng, kể như “Người ta kể, thì gọi là ngôi thứ ba” Trong lý luận
tự sự hiện đại nói chung, người ta không nói tới ngôi kể như: ngôi thứ nhất, ngôi
thứ hai, ngôi thứ ba (số ít, số nhiều), mà nói tới điểm nhìn, người kể biết hết,
người kể hạn chế, với một sự phân loại rất cụ thể Trong chương trình tập làm văn THPT việc đặt ra ngôi kể là cần thiết, phù hợp với sự nhận thức của học sinh Theo quan niệm của lý thuyết về hội thoại, một hoạt động hội thoại bao giờ cũng có ba ngôi tham dự: ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai, ngôi thứ ba Trong đó,
ngôi thứ nhất là người nói (người phát thông tin); Ngôi thứ hai là người nghe (người nhận thông tin); Ngôi thứ ba là hiện thực được nói tới, là vật quy chiếu “Bản thân chức năng của đại từ xưng hô ngôi thứ nhất (tôi); ngôi thứ hai (mày); ngôi thứ ba (nó) cũng chỉ ra đều đó Nhưng chỉ có ngôi thứ nhất và
ngôi thứ ba có chức năng xưng hô - chức năng tham dự giao tiếp Còn ngôi thứ hai không có chức năng này
2.3.1.2 Ngôi thứ nhất trong bài văn tự sự
Ngôi kể là vị trí giao tiếp mà người kể sử dụng khi kể chuyện Khi người
kể xưng “tôi” - đó là cách kể theo ngôi thứ nhất Khi kể chuyện theo ngôi thứ
nhất, người kể xưng tôi, em, chúng tôi, chúng em… Cách kể này mang màu sắc tâm tình, dễ bộc lộ tình cảm, ý nghĩ của người kể Do đó, giọng kể được sử dụng trong ngôi thứ nhất là giọng điệu trữ tình, tạo cho người đọc cảm giác thân thiết, gần gũi Kể theo ngôi thứ nhất là hình thức kể ra đời khá muộn, khi ý thức về con người cá nhân xuất hiện Ngôi thứ nhất là vị trí của người kể cho phép kể những gì mình biết, mình thấy, mình chịu trách nhiệm một cách công khai, cho nên mặc dù lời kể thân mật, gần gũi, mang màu sắc cá nhân nhưng lại bị hạn chế trong tầm nhìn và hiểu biết của một người Vì thế, người kể chuyện không thể đi sâu vào tâm tình, ý nghĩ của các nhân vật khác nếu họ không tự nói ra, không kể được những gì mà tôi không chứng kiến, không biết
Có hai loại ngôi kể thứ nhất:
+ Ngôi thứ nhất của các tác giả đứng ra kể chuyện về mình hoặc chuyện
mình biết (thường là nhật ký, hồi ký của các nhà văn, nhà thơ) Ví dụ: “Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm”.
+ Và ngôi thứ nhất của một nhân vật hư cấu cũng xưng tôi nhưng là nhân
vật do nhà văn xây dựng nên để gửi gắm ý đồ nghệ thuật của mình Trong “Dế Mèn phiêu lưu ký”, Dế Mèn là nhân vật do nhà văn hư cấu đứng ra kể chuyện về cuộc phiêu lưu của mình Trong “Lão Hạc”, ông giáo, người hàng xóm của lão
Hạc đứng ra kể đoạn cuối về cuộc đời và cái chết thương tâm của lão Trong
“ Mảnh trăng cuối rừng” - Văn học 12, tập 1, tác giả sử dụng lối trần thuật qua
lời kể của một nhân vật trong truyện - nhân vật Lãm Cách kể ngôi thứ nhất về
Trang 7người yêu của mình dưới dạng hồi tưởng rất phù hợp với chủ đề và màu sắc trữ tình của truyện Vì thế giọng kể ở đây không mang nét ngang tàng, tinh nghịch như ta thường thấy ở các anh lính lái xe trẻ, mà giọng kể ở đây xúc động, trầm tĩnh, đậm chất suy tư
2.3.1.3 Ngôi thứ ba trong bài văn tự sự
Kể theo ngôi thứ ba là ngôi kể rất cổ xa, được hiểu như là “người ta
kể”, như là sự việc tự nó kể Đó là cách kể trong thần thoại, truyền thuyết, cổ tích,
truyện cười… Người ta kể theo kí ức và kiến thức cộng đồng, thường gọi nhân vật theo tên gọi của chúng Về sau, ngôi thứ ba trở thành hình thức giấu mình đi
mặc dù “giấu mình đi” nhưng người kể có mặt ở khắp mọi nơi trong văn bản,
biết hết từ bề ngoài đến ý nghĩ thầm kín của nhân vật Cách kể này, người kể chuyện không xưng tôi nhưng kín đáo gọi nhân vật theo ngôi thứ ba
“nó”, “chúng nó”, gọi tên nhân vật, sự vật theo nhận xét của mình Truyện Làng
- Kim Lân kể theo ngôi thứ ba Nghĩa là, khi sử dụng cách kể này bao giờ cũng
có hình ảnh người kể chuyện đứng sau các sự vật Người kể chuyện có vai trò dẫn dắt người đọc vào câu chuyện: giới thiệu nhân vật và tình huống, tả người và tả cảnh vật, đưa ra những nhận xét, đánh giá về những điều được kể Kể theo ngôi thứ ba, câu chuyện có tính khách quan hơn, phạm vi phản ánh hiện thực rộng hơn
so với cách kể ngôi thứ nhất Ví dụ: Đoạn văn mở đầu tác phẩm “Vợ chồng A
Phủ - Văn học 12, tập 1”: “Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường
trông thấy có một cô con gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi” “Vợ chồng A Phủ” mở đầu như thế, một sự mở đầu xứng đáng với giọng kể đẹp như ru Thế
giới Tây Bắc đã được mở ra, xa xăm, kì diệu, trên cả ý nghĩa và nhạc điệu của lời văn Một thế giới không phải cổ tích mà như cổ tích, một thế giới hứa hẹn rất nhiều gợi cảm, qua một bức chân dung người phụ nữ buồn
Sự hiểu biết về ngôi thứ ba, về người kể chuyện trong văn tự sự có vai trò
rất lớn trong việc “giải mã” các tác phẩm tự sự Ngôi thứ ba có liên quan trực
tiếp đến người kể chuyện, có vai trò dẫn dắt người đọc khám phá câu chuyện: giới thiệu nhân vật và sự việc, tả người và tả cảnh vật, đưa ra các nhận xét, đánh giá về nhân vật và những điều được kể…
2.3.1.4 Sự chuyển đổi ngôi kể trong văn tự sự
Rèn luyện năng lực nhận biết và sử dụng ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba trong kể chuyện là điều quan trọng đối với Học Sinh ở THPT Tuy nhiên, một trong các biện pháp nghệ thuật để tạo nên sức hấp dẫn của câu chuyện là phải phối hợp cả hai ngôi kể hoặc thay đổi ngôi kể để tạo nên một phiên bản mới cho một câu chuyện đã biết Cũng có thể câu chuyện kể theo ngôi thứ ba nhưng khi
tả người, tả cảnh lại nhìn nhận theo cách nhìn của một nhân vật trong truyện (có
thể là nhân vật chính hoặc nhân vật phản diện) Ví dụ: Trong truyện Lão Hạc,
toàn bộ câu chuyện được kể theo ngôi thứ nhất - lời ông giáo Nhưng khi tả
Trang 8cảnh bắt con chó lại được kể theo lời lão Hạc với một tâm trạng đau đớn, dằn vặt Tác giả đã phối hợp cả hai ngôi kể, tạo sự thay đổi điểm nhìn của người kể chuyện Với sự đan xen của hai ngôi kể như thế, câu chuyện về lão Hạc - điển hình cho số phận người nông dân trước cách mạng tháng Tám đã gây nhiều xúc cảm và ấn tượng hơn cho người đọc Một câu chuyện cũ có thể kể lại theo một ngôi kể mới, đó là sự chuyển đổi ngôi kể Tuy nhiên, sự thay đổi ngôi kể cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
+ Khi chuyển đổi ngôi kể cần phải có sự thay đổi ngôn từ của nhân
vật (nhất là đại từ xưng hô) cho phù hợp với quan hệ mới của câu chuyện.
Người kể phải sắp xếp lại các chi tiết, xác định cảnh, tình huống cần lướt qua hay tả lại… cho phù hợp với ngôi kể mới của câu chuyện
+ Sự chuyển đổi ngôi kể không được làm thay đổi ý nghĩa và nội dung câu chuyện Nếu phá vỡ nguyên tắc này thì không còn là cách kể chuyện theo một ngôi kể mới mà là sự sáng tạo một câu chuyện hoàn toàn khác
Vì vậy, để thực hiện tốt nhất sự chuyển đổi ngôi kể, người kể phải có sự nhập vai Muốn thế, cần phải có sự xác định vai mới trong câu chuyện có mối quan hệ với các vai khác trong câu chuyện như thế nào Cần phải có sự điều chỉnh không gian, thời gian và lời kể khi thay đổi theo ngôi kể Bởi vì, khi thay đổi theo ngôi kể buộc phải thay đổi lời kể để phù hợp với nhân vật
2.3.2 Rèn luyện cách sử dụng ngôi kể trong quá trình dạy văn tự sự
2.3.2.1 GV và HS cần phải nắm vững những lý thuyết về ngôi kể, lời kể
Lý thuyết không phải là mục đích cuối cùng của làm văn nhưng đó lại là
cơ sở để rèn luyện kỹ năng làm văn, là cái đích cuối cùng của việc rèn luyện Thực hành - luyện tập là mục đích cuối cùng của việc dạy văn tự sự nhưng không vì thế mà lược bỏ đi những lý thuyết định hướng Việc xem nhẹ lý thuyết
về văn tự sự sẽ gây những hiệu quả khó lường trước ở những bước đi sau này Không nắm vững lý thuyết, không có lý thuyết định hướng, học sinh sẽ rơi vào tình trạng nói, viết tuỳ tiện Lý thuyết về ngôi kể chính là những vấn đề cơ bản
mà tôi đã đề cập một cách khái quát ở phần trên
2.3.2.2 Xây dựng được hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôi kể:
Bài tập sử dụng ngôi kể khá phong phú Tuy nhiên có thể sử dụng ngôi kể theo các hình thức sau :
Bài tập kể chuyện theo ngôi thứ nhất Ví dụ: Kể lại một ấn tượng sâu
sắc về giờ học đầu tiên ở trường THPT (bài viết số 1 lớp 10)
Bài tập kể chuyện theo ngôi thứ ba Ví dụ: Viết một đoạn văn ngắn kể
lại một chi tiết mà em thích nhất trong truyện “An Dương Vương - Mỵ Châu và Trọng Thuỷ”
Bài tập chuyển ngôi thứ ba thành ngôi thứ nhất Ví dụ: Kể lại truyện
“An Dương Vương - Mỵ Châu và Trọng Thuỷ” bằng lời kể của em
Trang 9Bài tập chuyển ngôi thứ nhất thành ngôi thứ ba Ví dụ: Chuyển đổi câu
chuyện Dế Mèn kể về giây phút của Dế Choắt trong đoạn văn sau đây thành ngôi
thứ ba “Choắt không dậy được nữa, nằm thoi thóp Thấy thế tôi hoảng hốt quỳ xuống, nâng đầu Choắt lên mà than rằng “Nào tôi đâu biết cơ sự nông nỗi này! Tôi hối lắm! Tôi hối hận lắm! Anh mà chết là chỉ tại cái tội ngông cuồng dại dột của tôi Tôi biết làm thế nào bây giờ ? Thế rồi Dế Choắt tắt thở Tôi thương lắm Vừa thương, vừa ăn năn tội mình Giá tôi không trêu chị Cốc thì đâu đến nỗi Choắt việc gì Cả tôi nữa, nếu không nhanh chân chạy vào hang thì tôi cũng chết toi rồi Tôi đem xác Dế Choắt đến chôn vào một vùng cỏ bùm tum Tôi đắp thành nấm mộ to Tôi đứng lặng hồi lâu, nghĩ về bài học đường đời đầu tiên”.
Bài tập kết hợp cả hai ngôi Ví dụ: Kể lại chuyện Tấm Cám bằng lời kể của Tấm (lời Cám, lời mụ dì ghẻ).
Bài tập phân tích - phát hiện và chữa lỗi về sử dụng ngôi kể
Ví dụ: Một đoạn trích trong “Những ngôi sao xa xôi (Ngữ văn 9- tập hai),
được học sinh chép lại như sau: “Tôi dùng xẻng nhỏ đào đất dưới quả bom, đất rắn Những hòn sỏi theo tay tôi bay ra hai bên Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom Một tiếng động sắc đến gai người, cắn vào da thịt cô gái Cô rùng mình
và bỗng thấy tại sao mình quá chậm Nhanh lên một tý Vỏ quả bom nóng Một dấu hiệu chẳng lành Hoặc là nóng từ bên trong quả bom Hoặc là trời nung nóng ” Đoạn trích trên kể về việc gì? Có sai sót gì trong việc sử dụng ngôi kể?
Chữa lại đoạn văn trên sao cho phù hợp ngôn ngữ trần thuật trong tác phẩm
2.3.2.3 Vận dụng cách sử dụng ngôi kể, lời kể một cách linh hoạt, phù hợp với xu hướng đổi mới phương pháp giảng dạy
2.3.2.3.1 Vận dụng cách sử dụng ngôi kể và hệ thống bài tập kĩ năng sử dụng ngôi kể, lời kể một cách linh hoạt, phù hợp với xu hướng đổi mới phương pháp dạy học
Việc xây dựng hệ thống bài tập chỉ mới là bước đầu Điều quan trọng là phải vận dụng hệ thống bài tập một cách linh hoạt và sáng tạo Cần xác định rõ mức độ của từng loại bài tập để có hướng vận dụng sao cho phù hợp với từng giai đoạn, từng lớp, đồng thời cũng phân hoá được đối tượng học sinh Ví dụ:
Có thể vận dụng hệ thống bài tập này trong giờ thực hành, đặc biệt là các tiết kiểm tra 1 tiết, 2 tiết, bài viết ở nhà, bài viết trên lớp Hệ thống bài tập này cũng
có thể được áp dụng trong các giờ tiếng Việt Dạy các tiết học về từ ngữ, phân tích câu, luyện viết đoạn văn… đều có thể tích hợp những tri thức về sử dụng ngôi kể, lời kể
Hệ thống bài tập về ngôi kể, lời kể cũng có thể vận dụng trong giờ đọc hiểu văn bản Một văn bản, một câu chuyện bao giờ cũng được kể lại bằng một điểm nhìn nào đó, tức là phải dựa vào một ngôi kể nhất định Chọn ngôi thứ nhất hay ngôi thứ ba đều xuất phát từ ý đồ nghệ thuật của nhà văn Vì vậy, khi hướng dẫn HS đọc hiểu các văn bản trong chương trình Ngữ văn Vì vậy có thể cho học sinh nhận diện và phân tích giá trị cách sử dụng ngôi kể
Trang 102.3.2.3.2 Vận dụng cách sử dụng ngôi kể và hệ thống bài tập kĩ năng sử dụng ngôi kể, lời kể khi dạy tác phẩm Chí Phèo (Tiết 52, 53, 54 lớp 11)
Khi dạy tác phẩm Chí Phèo - Ngữ văn 11, giáo viên có thể ra bài tập yêu
cầu học sinh xác định ngôi kể, đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện của Nam Cao qua
đoạn văn mở đầu tác phẩm:“Hắn vừa đi vừa chửi Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi Bắt đầu hắn chửi trời Có hề gì? Trời có của riêng nhà nào? Rồi hắn chửi đời Thế cũng chẳng sai: đời là của tất cả nhưng cũng chẳng là ai Tức mình, hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại Nhưng làng Vũ đại ai cũng tự nhủ:
“Chắc nó trừ mình ra” Không ai lên tiếng cả Tức thật! Tức thật! Ờ thế này thì tức thật! Tức chết được mất! Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn, nhưng cũng không ai ra điều Mẹ khiếp! Thế có phí rược không? Thế thì có khổ hắn không? ” Nam Cao là một trong những đại biểu xuất sắc
nhất của văn học Việt Nam hiện đại Nói đến Nam Cao là nói đến một bậc thầy truyện ngắn Nam Cao đã sáng tạo ra một cách viết mới mà tài năng kể chuyện, miêu tả tâm lí, hành vi chân dung… của nhân vật đã trở thành những kiểu mẫu của văn xuôi hiện đại Người ta thường nói tới thành công của tác phẩm Chí Phèo ở cách đặt vấn đề sâu sắc và sự thể hiện nhân vật độc đáo của nhà văn Nhưng trong Chí Phèo còn bộc lộ một tài năng khác của Nam Cao: tài năng dẫn chuyện, kể chuyện, sử dụng ngôn từ mà đoạn văn trên chỉ là một ví dụ
- Trong văn xuôi hình tượng người kể chuyện được hiểu như là một nhân
vật do nhà văn sáng tạo ra, có thể đứng ở ngôi thứ nhất (tôi) hoặc như trong các
nhân vật chính giữ vai trò trần thuật các sự kiện, cho nên lời kể có sắc thái riêng,
nó vừa thể hiện quan điểm của tác giả trong tổ chức lời văn của tác giả tạo ra một môi trường có tính định hướng cho nhân vật xuất hiện) vừa mang tính chất
của ngôn ngữ nhân vật (trong một chừng mực nào đó nó bộc lộ tính cách, bản chất, hành vi của nhân vật) Từ đây sẽ thấy trong ngôn ngữ người kể chuyện có
sự kết hợp, pha trộn những ngôn ngữ gián tiếp (của người trần thuật các sự kiện) với ngôn ngữ trực tiếp vốn là ngôn ngữ của tính cách.
- Đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện trong đoạn văn trên:
+ Trong đoạn văn trên, chủ yếu là ngôn ngữ của người kể chuyện - nhân
chứng, cho nên “nó” mang tính chất gián tiếp, có ý nghĩa thông báo về sự xuất hiện của một Chí Phèo (say rượu, vừa đi, vừa chửi) Ngôn ngữ kể chuyện khách quan này lại bao hàm sự nhận định “cứ rượu xong là hắn chửi” Điều đó góp
phần thể hiện con người, tính cách Chí Phèo Song ở đây, còn thấy rõ ý thức, ngữ điệu của nhân vật Bởi thế, nhà văn thông qua cách miêu tả nhân vật vừa thể hiện được ý thức của nó đối với bản thân, vừa góp phần bộc lộ dần thế giới bên trong của nhân vật trên cơ sở phân tích khách quan và cả sự đánh giá về hành động của nhân vật
+ Tính cách nhân vật ngày càng được khắc họa rõ hơn qua lời kể của tác
giả về cách chửi, tiếng chửi Chí chửi những cái lớn lao, thiêng liêng (trời, đời,
cả làng, cha mẹ…) nhưng lại là những cái trìu tượng, không cụ thể (trời, đời, cả