MỞ ĐẦUThẩm định nội dung lồng ghép bình đẳng giới và thủ tục hành chính trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có vai trò rất quan trọng.. Vậy những quy định pháp luật hiện hành về vấn
Trang 1BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TIỂU LUẬN HẾT HỌC PHẦN
MÔN:
THẨM ĐỊNH, THẨM TRA
VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Hà Nội, 2022
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
CÂU 1: 1
1 Thực trạng quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ về bảo hộ quyền đối với tác phẩm phái sinh 1
2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật: 3
CÂU 2: 4
KẾT LUẬN 5
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 6
Trang 3MỞ ĐẦU
Thẩm định nội dung lồng ghép bình đẳng giới và thủ tục hành chính trong
dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có vai trò rất quan trọng Đây là một biện pháp để thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, phù hợp với đặc thù của mỗi giới; tạo cơ hội phát triển như nhau cho nam và nữ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình; bảo đảm bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ Vậy những quy định pháp luật hiện hành về vấn đề này được thể hiện như thế nào và có ưu, nhược điểm gì cũng như bàn luận về sự cần thiết ban hành của dự thảo Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi), em xin giải quyết cụ thể các yêu cầu của đề bài như sau:
NỘI DUNG
CÂU 1: Bình luận quy định của pháp luật hiện hành về thẩm định nội
dung lồng ghép bình đẳng giới và thủ tục hành chính trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
I NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN:
1 Thẩm định dự thảo văn phạm quy phạm pháp luật (VBQPPL).
Dự thảo luật là “Bản thảo về một đạo luật do cơ quan, tổ chức, cá nhân
có quyền trình dự án luật mà mình soạn thảo, chuẩn bị theo các giai đoạn của quy trình ban hành văn bản quy pham pháp luật chặt chẽ được pháp luật quy định để trình Quốc hội xem xét, quyết định việc thông qua, ban hành.”
Theo Quyết định số 05/2007/QĐ – TTg thì thẩm định dự thảo VBQPPL là
hoạt động “xem xét, đánh giá về nội dung, hình thức của dự án, dự thảo nhằm
đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ của dự án, dự thảo trong hệ thống pháp luật”.
2 Thủ tục hành chính:
Thủ tục hành chính là “cách thức tổ chức thực hiện hoạt động quản lý
hành chính nhà nước theo đó cơ quan, cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ, cá
Trang 4nhân, tổ chức thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết các công việc của quản lý hành chính nhà nước” 1
3 Lồng ghép bình đẳng giới trong dự thảo VBQPPL.
Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới bằng cách xác định vấn đề giới, dự báo tác động giới của văn bản, trách nhiệm, nguồn lực để giải quyết vấn đề giới trong các quan hệ xã hội được văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh
II BÌNH LUẬN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THẨM ĐỊNH NỘI DUNG LỒNG GHÉP BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG DỰ THẢO VBQPPL.
1 Những quy định của pháp luật hiện hành về thẩm định nội dung lồng ghép bình đẳng giới trong dự thảo VBQPPL.
Đối với các văn bản Luật, vấn đề thẩm định nội dung lồng ghép bình đẳng giới trong dự thảo VBQPPL được quy định tại điểm đ khoản 2, điểm d khoản 3 Điều 92; Điều 93; điểm d khoản 2 Điều 98; điểm d khoản 2 Điều 102; khoản 5 Điều 103 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật ban hành VBQPPL năm 2015 Bên cạnh đó còn có Điều 21, 22 Luật bình đẳng giới 2006
Đối với các văn bản dưới luật, vấn đề thẩm định nội dung lồng ghép bình đẳng giới được quy định cụ thể trong Chương III Nghị định 48/2009/NĐ-CP Quy định về các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới và Mục 4 Thông tư số 17/2014/TT-BTP Quy định về lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL
2 Bình luận các quy định của pháp luật về thẩm định nội dung lồng ghép bình đẳng giới trong dự thảo VBQPPL.
a Ưu điểm:
Thứ nhất, trong trường hợp các cơ quan có thẩm quyền không được phân công soạn thảo thì tổ chức, cá nhân đó có trách nhiệm cung cấp tài liệu có liên quan tới vấn đề bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử về giới cho cơ quan chủ trì soạn thảo khi có yêu cầu Điều này giúp thống kê được các số liêu, tìm hiểu
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb CAND, Hà Nội, 2019.
Trang 5được nguyên nhân gây ra tình trạng bất bình đẳng, tạo cơ sở để ban hành các văn bản quy phạm phù hợp với thực tiễn
Thứ hai, với yêu cầu có mặt đại diện cơ quan quản lý Nhà nước về bình đẳng giới, hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam Ngoài ra, còn cần tham vấn, lấy ý kiến của các chuyên gia về giới Điều này đảm bảo cho các quy phạm có nội dung khách quan, phù hợp, phát huy tốt bình đẳng giới
b Hạn chế:
Thứ nhất, nhìn chung việc lồng ghép này còn mang tính hình thức, chất lượng không cao Luật Bình đẳng giới ban hành đến nay đã 16 năm, vẫn còn tình trạng chưa ý thức hoặc ý thức chưa đầy đủ, không nắm chắc về bình đẳng giới Nhiều người tuy ý thức được tầm quan trọng của việc bảo đảm BĐG nhưng hiểu
về BĐG chưa đầy đủ, chưa nắm chắc các khái niệm cơ bản về giới, BĐG, phân biệt đối xử giới, biện pháp thúc đẩy BĐG, các quy định về lồng ghép giới Do đó khi đánh giá, nhận xét về văn bản dưới góc độ giới vẫn còn theo cảm tính, chưa bắt đầu từ việc xác định vấn đề giới trong văn bản Chính vì vậy, còn tình trạng hiểu về việc bảo đảm BĐG trong văn bản một cách đơn giản và chưa thật đúng
về lồng ghép giới
Thứ hai, do chưa có các yêu cầu cụ thể, các tiêu chí đánh giá vẫn mang tính chung chung đã tạo ra những quy định định tính, khó xác định cụ thể con số chính xác khi cần thiết Mặt khác, ngay từ các quy định về thẩm định nội dung bình đẳng giới đã nhìn nhận phụ nữ là người được thụ hưởng, người được bảo
hộ, bảo vệ nên các VBQPPL được xây dựng ra không mang tính đa chiều; các phương án chính sách, dự thảo quy định pháp luật qua hoạt động thẩm định chưa thực sự giảm khoảng cách giới
Thứ ba, thực tế cho thấy lực lượng cán bộ cho công tác lồng ghép bình đẳng giới trong xây dựng VBQPPL rất mỏng, hầu hết đều chưa có đủ kiến thức,
kỹ năng, kinh nghiệm về bình đẳng giới Hiện nay, tại hầu hết các sở, ban, ngành địa phương chưa có phòng bình đẳng giới, hoạt động này chỉ lồng ghép với văn phòng sở hoặc các phòng chuyên môn khác Bên cạnh đó, việc bố trí cán bộ
Trang 6tham mưu làm công tác quản lý và xây dựng chính sách về bình đẳng giới gặp nhiều khó khăn, chủ yếu dựa vào Ban vì sự tiến bộ phụ nữ với 100% thành viên kiêm nhiệm Sự hạn chế về kiến thức giới, kỹ năng lồng ghép giới của cán bộ làm công tác tham mưu, hoạch định chính sách đã dẫn đến việc triển khai xây dựng pháp luật cũng như việc thực thi luật pháp còn nhiều khó khăn, lúng túng
và chưa đạt hiệu quả như mong muốn
III BÌNH LUẬN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ THẨM ĐỊNH NỘI DUNG THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG DỰ THẢO VBQPPL.
1 Những quy định của pháp luật hiện hành về thẩm định nội dung thủ tục hành chính trong dự thảo VBQPPL.
Đối với các văn bản Luật, vấn đề thẩm định nội dung thủ tục hành chính trong dự thảo VBQPPL được quy định cụ thể trong các điều: điểm đ khoản 2, điểm d khoản 3 Điều 92; Điều 93; điểm d khoản 2 Điều 98; điểm d khoản 2 Điều 102; khoản 5 Điều 103 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật ban hành VBQPPL năm 2015
Đối với các văn bản dưới luật, Nghị định 34/2016/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành VBQPPL được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định 154/2020/NĐ-CP có quy định về tiêu chí đánh giá tác động, hồ sơ cần kiểm soát trong thẩm định nội dung thủ tục hành chính Ngoài
ra, Thông tư số 07/2014/TT-BTP Hướng dẫn việc đánh giá tác động của thủ tục hành chính và rà soát, đánh giá thủ tục hành chính bị hết hiệu lực một phần do bị bãi bỏ một phần tại khoản 2 Điều 2 Thông tư 01/2018/TT-BTP đã quy định cụ thể về phương pháp, công cụ hỗ trợ đánh giá tác động thủ tục hành chính trong
dự thảo văn bản quy phạm
2 Bình luận các quy định của pháp luật hiện hành về thẩm định nội dung thủ tục hành chính trong dự thảo VBQPPL.
a Ưu điểm:
Thứ nhất, tồn tại cơ sở pháp lý cụ thể, gắn thẩm định nội dung thủ tục hành chính trong từng văn bản quy phạm pháp luật với mỗi chủ thể, trách nhiệm
Trang 7của các cơ quan thực hiện thẩm định từ đó sẽ được nâng cao, đồng thời tính chính xác của hoạt động này cũng tăng lên
Thứ hai, các quy định pháp luật về hoạt động thẩm định sẽ mang tính định hướng để các thủ tục hành chính trong mỗi dự thảo văn bản quy phạm trở nên tối ưu, thật sự cần thiết, hợp lý và tiết kiệm
Thứ ba, các quy định pháp luật đã đề ra bộ công cụ khoa học để nghiên cứu căn cứ, phương pháp từ đó tạo cơ sở để hoàn thiện thủ tục hành chính sao cho phù hợp với nội dung từng sự thảo quy phạm
b Hạn chế:
Thứ nhất, Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm
2020, đã cơ bản có những tách biệt, làm khác, đổi mới, trong đó sửa đổi một số quy định trong quy trình thẩm định VBQPPL nói chung Trong khi đó những phương pháp, bộ công cụ được quy định tại Thông tư 07/2014/TT-BTP Hướng dẫn việc đánh giá tác động của thủ tục hành chínhvà rà soát, đánh giá thủ tục hành chính loại trừ những nội dung đã được bãi bỏ tại khoản 2 Điều 2 Thông tư 01/2018/TT-BTP đã không còn hoàn toàn phù hợp, không đáp ứng đầy đủ đòi hỏi của hoạt động thẩm định về nội dung thủ tục hành chính nói riêng
Cách thức đánh giá, các biểu mẫu dùng trong đánh giá thủ tục hành chính thực tế thể hiện một số nội dung, bộ phận cấu thành còn chưa rõ, chưa phù hợp với công tác xây dựng, ban hành VBQPPL hiện nay Chưa có hướng dẫn cụ thể
về phương pháp đánh giá tính hợp lý của tên các thủ tục hành chính, nhiều nội dung thông tin tại biểu mẫu đánh giá còn trùng lặp Ngay việc đánh giá sự cần thiết, tính hợp lý, tính hợp pháp của tên, trình tự thực hiện thủ tục hành chính thông qua các câu hỏi tại phần II của biểu mẫu đánh giá tác động
01A/ĐG-KSTT của Phụ lục I Ban hành kèm theo Thông tư số 07/2014/TT-BTP như: “Có
được quy định rõ ràng và cụ thể về các bước thực hiện không?; Có được quy định hợp lý giữa các bước thực hiện để tạo thuận lợi, tiết kiệm chi phí cho cơ quan nhà nước, cá nhân, tổ chức khi thực hiện?” đã có sự trùng lặp nhất định
trong các câu hỏi, khiến cho nội dung trả lời không tách biệt
Trang 8Trong khi việc quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
có thẩm quyền tham gia vào quá trình xây dựng, ban hành VBQPPL nói chung ngày một rõ ràng thì việc thực hiện các phương pháp, đánh giá nội dung thẩm định thông qua bộ công cụ lại chưa có sự gắn kết cụ thể này Bộ công cụ đánh giá tác động thủ tục hành chính hiện nay chưa có mối liên hệ giữa kết quả đánh giá và tính hiệu quả, cần thiết Đồng thời, các phương pháp đánh giá, bảng biểu cũng chỉ dành cho chủ thể có thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong khi đối tượng chịu ảnh hưởng từ những thủ tục hành chính lại chưa được tham gia góp
ý, đánh giá
Thứ hai, trong quy trình đánh giá tác động thủ tục hành chính chưa xác định cụ thể nội dung chi tiết về trách nhiệm, cơ chế thực hiện Đồng thời hiệu quả của công tác đánh giá còn thấp, số lượng thủ tục hành chính đã qua đánh giá những vẫn phải cắt giảm quy trình còn nhiều
CÂU 2: Với tư cách là cơ quan thẩm định, thẩm tra, hãy phát biểu về
sự cần thiết ban hành của dự thảo Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi).
1 Cơ sở pháp lý:
Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Giao dịch điện tử và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2006 Luật được xây dựng trên cơ sở Luật mẫu về Thương mại điện tử của Ủy ban Liên hiệp quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL) bao gồm: 8 Chương và 54 Điều mang tính chất luật khung, nguyên tắc đối với các vấn đề kỹ thuật của giao dịch trên môi trường điện tử Triển khai thi hành Luật Giao dịch điện tử ngay khi có hiệu lực pháp lý, Chính phủ, các cơ quan, tổ chức đã khẩn trương tiến hành công tác tổ chức, thực hiện nhằm đưa Luật vào cuộc sống
Sau gần 15 năm thực hiện, Luật GDĐT cùng với các Luật Công nghệ thông tin 67/2006/QH11, Luật Viễn thông số 41/2009/QH12, Tần số và Vô tuyến điện số 42/2009/QH12, An toàn thông tin mạng số 86/2015/QH13, An ninh mạng số 24/2018/QH14 và các luật chuyên ngành khác đã đóng vai trò quan
Trang 9trọng, tạo cơ sở pháp lý để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, thúc đẩy giao dịch điện tử, góp phần nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, đưa ứng dụng khoa học công nghệ vào cải cách hành chính Tuy nhiên, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, yêu cầu thực hiện chuyển đổi số trong cơ quan, tổ chức, Luật Giao dịch điện tử đã bộc lộ một số bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn phát triển hiện nay như:
Thứ nhất, các quy định về phạm vi điều chỉnh của Luật; quy định chưa rõ ràng giá trị pháp lý của các loại hình thông điệp dữ liệu và hồ sơ, chứng từ điện tử; thiếu quy định trong Luật Giao dịch điện tử về chứng từ, hồ sơ tương ứng với các quy định về “bản gốc”, “bản chính”, “bản sao” trong pháp luật truyền thống; các vấn đề quy định về quy trình, thủ tục và pháp lý cụ thể của các bước trong giao kết hợp đồng điện tử, chưa quy định rõ ràng về thông điệp dữ liệu an toàn
và chữ ký điện tử an toàn, dẫn đến sự thiếu tin tưởng của các bên khi tham gia giao dịch điện tử Bên cạnh đó, Luật còn thiếu quy định về định danh, xác thực điện tử, dẫn tới hạn chế trong xác định trách nhiệm pháp lý của các bên liên quan trong giao dịch điện tử
Thứ hai, bộc lộ nhiều bất cập trong quy định về giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước, các quy định còn mang tính nguyên tắc, thiếu các quy định cụ thể như giá trị pháp lý, trường hợp sử dụng và việc công nhận, liên thông giữa chữ ký điện tử chuyên dùng trong cơ quan nhà nước và chữ ký điện tử công cộng, gây khó khăn trong cung cấp các dịch vụ công trực tuyến và giao dịch điện
tử của cơ quan nhà nước với doanh nghiệp và người dân Ngoài ra, quy định về tranh chấp và xử lý vi phạm trong giao dịch điện tử còn thiếu, nhất là liên quan đến các luật chuyên ngành với đặc thù trong giải quyết tranh chấp Luật Giao dịch điện tử hiện nay cũng chưa quy định và công nhận giá trị pháp lý của các hình thức xác thực khác Như vậy, chữ ký điện tử có thể có nhiều hình thức như chữ ký số, nhận dạng chữ viết tay, nhận dạng sinh trắc học, nhận dạng giọng nói
Thứ ba, do là Luật khung, mang tính nguyên tắc, nên trong 15 năm qua chỉ có một số lĩnh vực chịu áp lực lớn của hội nhập quốc tế, có nhu cầu cấp thiết
Trang 10tự thân, tiên phong nghiên cứu xây dựng các văn bản dưới luật quy định chi tiết
để thực thi và ứng dụng mạnh mẽ giao dịch điện tử, điển hình như lĩnh vực Thông tin và Truyền thông (chữ ký số), Ngân hàng (thanh toán điện tử), Tài chính (giao dịch chứng khoán, hoá đơn điện tử, thuế điện tử, hải quan điện tử) và Thương mại điện tử Với nhiều lĩnh vực khác, việc áp dụng giao dịch điện tử vẫn khó khăn do thiếu các quy định cụ thể của Luật Giao dịch điện tử 2005 Hơn nữa, Luật Giao dịch điện tử 2005 còn loại trừ không áp dụng cho khá nhiều lĩnh vực quan trọng trong đời sống, kinh tế và xã hội
Thứ tư, trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, đặc biệt do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, nhu cầu giao dịch điện tử đã bùng phát mạnh mẽ trong tất cả các lĩnh vực hành chính, dân sự, kinh tế và xã hội, môi trường và phương thức giao dịch cũng có nhiều thay đổi với sự xuất hiện ngày càng nhiều các nền tảng
số làm trung gian cho các giao dịch điện tử trực tuyến, đòi hỏi phải có khung pháp lý phù hợp đáp ứng nhu cầu thực tế, đảm bảo thể chế pháp luật phải theo kịp sự phát triển
2 Cơ sở chính trị:
Sau 15 năm triển khai, đất nước có nhiều tiến bộ về kinh tế và xã hội Đất nước ta hội nhập sâu rộng hơn với sự tham gia các hiệp định thương mại tự
do như: hiệp định trong khuôn khổ WTO, AFTA, CPTPP, EVFTA, Trong giai đoạn mới, cuộc cách mạng công nghiêp 4.0 đang diễn ra với công cuộc chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, chính phủ số đặt ra nhiều thách thức về chính sách
và mô hình quản lý giao dịch điện tử
Việc sửa đổi Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi) nhằm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời đường lối, chủ trương của Đảng tại Nghị quyết số 52/NQ-TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và chính sách của Nhà nước về chuyển đổi số quốc gia, góp phần thúc đẩy phát triển ổn định kinh tế - xã hội của đất nước; tạo hành lang pháp lý hoàn thiện để thực hiện chuyển đổi các hoạt động từ môi trường thực