1 NGÂN HÀNG THẾ GIỚI DỰ ÁN HỖ TRỢ ĐỔI MỚI GDPT TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TIỂU HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC MÔN MĨ THUẬT (Mô đun 3 5) HÀ NỘI, 2020 2 CÁC CHỮ VIẾT TẮT Giáo viên GV Học sinh HS Phẩm chất PC Kiến thức KT Kĩ năng KN Năng lực NL Phương pháp PP Sách giáo khoa SGK Chương trình CT Chương trình giáo dục phổ thông CT GDPT 3 THÔNG TIN TÁC GIẢ TS Nguyễn Ngọc Ân – Công đoàn Giáo dục Việt Nam ThS NCS Đinh Quang Mạnh – Trường Đại học Tân Trào, Tuyên Quang 4[.]
Trang 11
TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TIỂU HỌC THEO HƯỚNG
PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC
MÔN MĨ THUẬT (Mô-đun 3.5)
HÀ NỘI, 2020
Trang 22
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Giáo viên: GV Học sinh: HS Phẩm chất: PC Kiến thức: KT
Kĩ năng: KN Năng lực: NL Phương pháp: PP Sách giáo khoa: SGK Chương trình: CT Chương trình giáo dục phổ thông: CT GDPT
Trang 33
THÔNG TIN TÁC GIẢ
TS Nguyễn Ngọc Ân – Công đoàn Giáo dục Việt Nam
ThS-NCS Đinh Quang Mạnh – Trường Đại học Tân Trào, Tuyên Quang
Trang 44
A MỤC TIÊU
Sau khi học mô-đun này, học viên có thể:
- Hiểu biết một cách rõ ràng một số phương pháp, hình thức đánh giá học sinh tiểu học theo hướng phát triển phẩm chất và năng lực;
- Nắm vững cách thức, quy trình thiết kế, xây dựng được các công cụ đánh giá phẩm chất và năng lực học sinh;
- Lựa chọn và áp dụng được các phương pháp, hình thức đánh giá; thiết kế, xây dựng được các công cụ đánh giá phẩm chất, năng lực học sinh khi dạy học môn mĩ thuật
ở tiểu học một cách hiệu quả;
- Thực hiện một cách thành thạo việc đánh giá trước, trong và sau khi thực hiện mỗi bài học, mỗi chủ đề mĩ thuật;
B NỘI DUNG CHÍNH
Phần 1: Giới thiệu lý thuyết và phân tích yêu cầu, quy trình, phương pháp kiểm tra, đánh giá học sinh tiểu học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực
- Chương 1: Sử dụng phương pháp, hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học
tập trong dạy học, giáo dục học sinh tiểu học môn Mĩ thuật
- Chương 2: Xây dựng công cụ kiểm tra đánh giá kết quả học tập và sự tiến bộ của học sinh tiểu học về phẩm chất, năng lực đối với môn học, hoạt động giáo dục môn Mĩ thuật
Phần 2 Các ví dụ minh họa các phương pháp, hình thức kiểm tra, đánh giá học sinh tiểu học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực môn Mĩ thuật
C HÌNH THỨC TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG
- Giáo viên tự nghiên cứu;
- Trao đổi trong nhóm, tổ chuyên môn;
- Kết hợp với sự hướng dẫn của chuyên gia
D TÀI LIỆU VÀ THIẾT BỊ DẠY HỌC
- Mô đun 2 – dự án RGEP: Sử dụng phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất và năng lực học sinh tiểu học
- Tài liệu Hỏi-Đáp về đánh giá học sinh tiểu học (Theo Văn bản số 03/VBHN- GDĐT hợp nhất Thông tư 22/2016 và Thông tư 30/2014 ban hành Quy định đánh giá học sinh tiểu học), Hoàng Mai Lê, Xuân Thị Nguyệt Hà, Nguyễn Đức Mạnh;
Trang 55
- Văn bản số 03/VBHN-BGDĐT hợp nhất Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22/9/2016 của Bộ GDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 30/2014/TT- BGDĐT ngày 28/8/2014;
- Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT Ban hành quy định đánh giá học sinh tiểu học;
- Nguyễn Công Khanh (chủ biên), Đào Thị Oanh [2019]- Giáo trình Kiểm tra đánh giá trong giáo dục- NXB ĐHSP Hà Nội;
- Tài liệu Đo lường và đánh giá trong giáo dục, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2019;
- Tài liệu tập huấn “Đánh giá năng lực học sinh” – Dự án PTGD THCS II – Bộ Giáo dục và Đào tạo, khóa tập huấn tại Đại học Melbourne 2009
Trang 66
MỤC LỤC
CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2
THÔNG TIN TÁC GIẢ 3
A MỤC TIÊU 4
B NỘI DUNG CHÍNH 4
C HÌNH THỨC TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG 4
D TÀI LIỆU VÀ THIẾT BỊ DẠY HỌC 4
MỤC LỤC 6
PHẦN 1 GIỚI THIỆU LÝ THUYẾT VÀ PHÂN TÍCH YÊU CẦU, QUY TRÌNH, PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TIỂU HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC 8
CHƯƠNG 1: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP TRONG MÔN MĨ THUẬT CẤP TIỂU HỌC 8
1.1 Đặc điểm môn Mĩ thuật trong chương trình giáo dục phổ thông 8
1.1.1 Môn Mĩ thuật trong chương trình giáo dục phổ thông 9
1.1.2 Đặc điểm học tập môn Mĩ thuật của học sinh tiểu học 9
1.2 Yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực đối với học sinh ở môn Mĩ thuật 11
1.2.1 Các phẩm chất chủ yếu và dấu hiệu về mức độ đạt được đối với học sinh cấp tiểu học trong Chương trình giáo dục phổ thông 12
1.2.2 Các năng lực và dấu hiệu đạt được đối với học sinh cấp tiểu học trong Chương trình giáo dục phổ thông 14
1.2.3 Cách xây dựng và sử dụng Khung năng lực môn học 19
1.3 Sử dụng phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh đối với môn mĩ thuật 23
1.3.1 Phẩm chất, năng lực và đánh giá phẩm chất, năng lực 23
1.3.2 Một số phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh đối với môn Mĩ thuật 25
1.4 Sử dụng hình thức kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh đối với môn Mĩ thuật 49
Trang 77
1.4.1 Đánh giá đầu vào 49
1.4.2 Đánh giá hình thành 50
1.4.3 Đánh giá tổng kết 51
1.4.4 Đánh giá đồng đẳng 51
CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG CÔNG CỤ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP VÀ SỰ TIẾN BỘ CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC VỀ PHẨM CHẤT , NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH TRONG MÔN MĨ THUẬT CẤP TIỂU HỌC 54 2.1 Một số công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học phát triển phẩm chất, năng lực học sinh áp dụng với môn Mĩ thuật 54
2.2 Vận dụng một số công cụ đánh giá cụ thể vào môn Mĩ thuật trên cơ sở các phương pháp và hình thức đánh giá 56
2.2.1 Một số công cụ sử dụng trong phương pháp đánh giá quan sát 56
2.2.2 Công cụ sử dụng trong phương pháp đánh giá theo tiêu chí 66
2.2.3 Công cụ đánh giá trắc nghiệm khách quan 70
2.2.4 Năng lực và biểu hiện một số trạng thái biểu hiện phổ biến của học sinh 73 2.3 Xây dựng kế hoạch đánh giá trong một chủ đề học tập môn mĩ thuật 77
2.3.1 Phân tích yêu cầu cần đạt của chủ đề 77
2.3.2 Lập bảng kế hoạch kiểm tra, đánh giá trong dạy học chủ đề 80
2.3.3 Thiết kế và sử dụng công cụ đánh giá theo kế hoạch đã lập 81
2.3.4 Phân tích ví dụ minh hoạ về kiểm tra, đánh giá một chủ đề 82
PHẦN 2 VÍ DỤ MINH HỌA CÁC PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TIỂU HỌC THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC 85
I Tài liệu minh họa 1 85
II Tài liệu minh họa 2 89
Trang 88
PHẦN 1 GIỚI THIỆU LÝ THUYẾT VÀ PHÂN TÍCH YÊU CẦU, QUY TRÌNH, PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TIỂU HỌC THEO
HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC
CHƯƠNG 1: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP, HÌNH THỨC KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP TRONG MÔN MĨ THUẬT CẤP TIỂU HỌC
Học xong chương này, học viên sẽ:
Hiểu rõ về đặc điểm môn mĩ thuật trong Chương trình Giáo dục phổ thông, đặc điểm học tập môn Mĩ thuật của học sinh tiểu học, trên cơ sở đó tổ chức đánh giá kết quả học tập của học sinh cho phù hợp
Nắm được các dấu hiệu của các phẩm chất chủ yếu cần hình thành cho học sinh tiểu học thông qua dạy học môn mĩ thuật; nắm được dấu hiệu của các năng lực cốt lõi, các năng lực đặc thù môn mĩ thuật để lựa chọn các phương pháp, hình thức tổ chức đánh giá cho phù hợp
Hiểu bản chất, phân tích và áp dụng được một số phương pháp kiểm tra, đánh giá phẩm chất và năng lực học sinh thông qua môn Mĩ thuật
Hiểu bản chất, phân tích và áp dụng một số hình thức kiểm tra, đánh giá phẩm chất và năng lực học sinh tiểu học thông qua môn Mĩ thuật
1.1 Đặc điểm môn Mĩ thuật trong chương trình giáo dục phổ thông
Hoạt động: Học viên nghiên cứu tài liệu về Chương trình Giáo dục phổ thông
môn Mĩ thuật ban hành năm 2018; một số đặc điểm học tập môn Mĩ thuật của học sinh cấp tiểu học
Mục tiêu
- Học viên nắm được một số đặc điểm cơ bản của môn Mĩ thuật trong chương trình giáo dục phổ thông ban hành năm 2018, từ đó nhận thức được tính tất yếu của việc đổi mới phương pháp, hình thức đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực học sinh;
- Học viên nắm được một số đặc điểm cơ bản của học sinh tiểu học đối với việc học tập môn Mĩ thuật
- Học viên đưa ra được quan điểm riêng về đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Mĩ thuật trên cơ sở sự thay đổi về nội dung và phương pháp dạy học, cũng như các yêu cầu cần đạt đặt ra trong chương trình
Thông tin cơ bản
Trang 99
1.1.1 Môn Mĩ thuật trong chương trình giáo dục phổ thông 1
Mĩ thuật là môn học thuộc lĩnh vực giáo dục nghệ thuật Trong chương trình giáo dục phổ thông, môn Mĩ thuật hình thành, phát triển ở học sinh năng lực mĩ thuật, biểu hiện của năng lực thẩm mĩ trong lĩnh vực mĩ thuật; đồng thời góp phần cùng các môn học và hoạt động giáo dục khác hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu
và năng lực chung, đặc biệt là giáo dục ý thức kế thừa, phát huy văn hoá nghệ thuật dân tộc phù hợp với sự phát triển của thời đại
Chương trình môn Mĩ thuật được xây dựng theo cấu trúc tuyến tính và đồng tâm với hai mạch nội dung mĩ thuật tạo hình và mĩ thuật ứng dụng; tạo cơ hội cho học sinh được trải nghiệm và vận dụng mĩ thuật vào đời sống; giúp học sinh nhận thức được mối liên hệ giữa mĩ thuật với văn hoá, xã hội, kết nối mĩ thuật với các môn học và hoạt động giáo dục khác; làm tiền đề cho học sinh định hướng nghề nghiệp trong tương lai, cũng như chủ động tham gia các hoạt động văn hoá nghệ thuật và đời sống xã hội
Nội dung giáo dục mĩ thuật được phân chia theo hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục
cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp Dạy học Mĩ thuật ở cấp tiểu học
nằm trong giai đoạn giáo dục cơ bản: là nội dung giáo dục bắt buộc Chương trình tạo
cơ hội cho học sinh làm quen và trải nghiệm kiến thức mĩ thuật thông qua nhiều hình thức hoạt động; hình thành, phát triển ở học sinh khả năng quan sát và cảm thụ nghệ thuật, nhận thức và biểu đạt thế giới; khả năng cảm nhận và tìm hiểu, thể nghiệm các giá trị văn hoá, thẩm mĩ trong đời sống và nghệ thuật
1.1.2 Đặc điểm học tập môn Mĩ thuật của học sinh tiểu học
Học sinh ở lứa tuổi này đã có nhận thức, cảm xúc về thế giới xung quanh và có nhu cầu biểu đạt nó Tuy nhiên, các phương tiện để biểu đạt như viết, nói… còn bị hạn chế rất nhiều Trong khi đó, tạo hình lại là phương tiện biểu đạt phù hợp nhất Thông qua các hình vẽ, nét vẽ, các cách tạo hình, tạo dáng sự vật hiện tượng, thông qua màu sắc, cách sắp xếp bố cục… các em có thể nói lên suy nghĩ, cảm xúc của mình trước những sự vật, hiện tượng, con người và thế giới xung quanh mình
- Màu sắc và hình ảnh từ thế giới xung quanh luôn sinh động vô cùng hấp dẫn học sinh Sự hấp dẫn đó kéo theo sự thu hút và kích thích nhu cầu khám phá, tìm hiểu
Từ khám phá tìm hiểu, các em có nhu cầu biểu đạt lại và bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc của mình cho người khác biết hoặc cho chính bản thân mình được thỏa mãn
1 Chương trình giáo dục phổ thông môn mĩ thuật - 2018
Trang 1010
- Công việc tạo hình với hàng loạt những thao tác cùng những vật dụng gần gũi nhưng đa dạng, những cách làm dễ dàng nhưng lạ lẫm, những biến hóa không hề khó khăn nhưng đầy bí ẩn… đã luôn hấp dẫn và mê hoặc trẻ
- Được khám phá, phản ánh thế giới sinh động xung quanh, được thể hiện và được ghi nhận bản thân là một nhu cầu rất lớn của trẻ Và công việc tạo hình cùng với những sản phẩm của nó luôn thỏa mãn nhu cầu này của trẻ
Vì vậy, học sinh ở bậc tiểu học thường có sự ham thích đặc biệt với môn mỹ thuật Tuy nhiên, các giờ học Mĩ thuật sẽ thu hút và có hiệu quả nếu giáo viên có các giải pháp tổ chức các hoạt động phù hợp với các em, dẫn dắt, kích hoạt năng lượng, năng lực của từng học sinh Ngược lại, các giờ học Mĩ thuật khuôn mẫu, sơ cứng, máy móc, lý thuyết dài dòng sẽ làm cho trẻ không có hứng thú học tập, từ đó xuất hiện tâm
lý chán nản, bế tắc và môn mĩ thuật có thể sẽ không đạt được các mục tiêu đặt ra trong Chương trình giáo dục phổ thông Từ đó, cách thức kiểm tra đánh giá môn mĩ thuật cũng phải là một kênh quan trọng để thay đổi cách dạy học của giáo viên cũng như cách học tập của học sinh, giúp học sinh nhìn lại quá trình, nhận thức được cách làm đúng, hiệu quả và cách làm chưa đúng, chưa hiệu quả để tự điều chỉnh Cách kiểm tra, đánh giá cũng tạo cơ hội cho học sinh tự đánh giá, học sinh đánh giá lẫn nhau Thay đổi cách kiểm tra đánh giá tập trung vào việc học sinh có được kiến thức gì, vào việc đánh giá xem học sinh đã hình thành và phát triển được phẩm chất, năng lực gì qua mỗi bài học, mỗi chủ đề mĩ thuật, qua mỗi thời gian học tập môn mĩ thuật
Thông qua các hoạt động dạy học môn mĩ thuật, học sinh được hình thành đồng thời các năng lực chung và năng lực đặc thù:
- Tự chủ và tự học, tự tìm tòi, khám phá và tạo sản phẩm mang dấu ấn cá nhân là yêu cầu cơ bản của môn mĩ thuật Kết quả mỗi bài học mĩ thuật là quá trình hình thành
năng lực “Tự chủ, tự học” một cách tự giác nhất của mỗi học sinh
- Thông qua việc tổ chức các hoạt động dạy học mĩ thuật, học sinh có cơ hội trao đổi, thể hiện ý tưởng và thống nhất phân công nhiệm vụ, cách thức thực hiện cũng như
cùng nhau quyết định các vấn đề liên quan đến bài tập… năng lực “Giao tiếp và hợp tác” được thể hiện một cách cụ thể
- Mỗi nội dung bài học là một thách thức mang tính cá nhân với học sinh: Từ việc tìm ý tưởng đến việc quyết định giải pháp, thời gian đầu tư thực hiện, đến việc vượt qua những rào cản về mặt kỹ thuật, đối mặt với những độ khó, thậm chí “thất bại” của công việc tạo hình, đến việc kết nối các ngôn ngữ tạo hình để tạo nên tiếng nói chung tác động đến thị giác và cảm xúc người thưởng thức… học sinh đều phải tự mình hoặc cùng bạn
Trang 1111
bè giải quyết Từ những vấn đề đơn giản đến phức tạp, môn mĩ thuật giúp học sinh vượt
qua chính mình và “vỡ òa” với những thành quả đạt được Năng lực “Giải quyết vấn đề” trở nên rõ ràng hơn thông qua việc các hoạt động trong thực hành môn học
- Với môn mĩ thuật, không có đáp án chung cho các sản phẩm của mỗi nội dung, chủ đề bài học; không có đích đến cụ thể cho quá trình giải quyết vấn đề, mà chỉ có sự phát hiện, gia công và tái hiện liên tục, sự thăng hoa của cảm xúc và sự điêu luyện của thủ pháp mà thôi Giá trị của mỗi sản phẩm mĩ thuật có thể là sự đổi mới, có thể là sự khác lạ, có thể là sự bất ngờ… Giá trị đó có thể coi là quá trình sáng tạo và bản thân nó
là kết quả sáng tạo đúng nghĩa nhất Trong và kết thúc quá trình học tập, mỗi học sinh được tạo cơ hội để sáng tạo, được thúc đẩy và được ghi nhận sự sáng tạo Tiếp nối quá
trình ở nhiều giai đoạn thì năng lực “Sáng tạo” đã được hình thành ở các em và cũng là
phẩm chất đặc biệt ở những người được học tập mĩ thuật
Việc hình thành và phát triển các năng lực cốt lõi đều có tính khả thi đối với các hoạt động thực hành mĩ thuật ở học sinh tiểu học
Bài tập
Học viên hãy trả lời các câu hỏi sau đây:
a) Chương trình Giáo dục phổ thông môn mĩ thuật ban hành năm 2018 có điểm
gì khác so với Chương trình giáo dục phổ thông môn mĩ thuật ban hành trước năm 2018?
b) Nêu một số đặc điểm học tập môn mĩ thuật của học sinh cấp tiểu học
c) Từ những đặc điểm khác biệt của chương trình, từ đặc điểm học tập của học sinh tiểu học, việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn mĩ thuật phải thay đổi như thế nào? Tại sao?
1.2 Yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực đối với học sinh ở môn Mĩ thuật
Hoạt động Học viên nghiên cứu các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực
đối với học sinh khi học tập môn Mĩ thuật ở cấp tiểu học
Mục tiêu
Sau khi thực hiện hoạt động này, học viên sẽ:
- Nắm được các yêu cầu cần đạt về các phẩm chất chủ yếu cần hình thành cho học sinh tiểu học qua việc học tập môn Mĩ thuật
- Nắm được các yêu cầu cần đạt về các năng lực cốt lõi cần hình thành cho học sinh tiểu học qua việc học tập môn Mĩ thuật
Trang 12 Thông tin cơ bản
1.2.1 Các phẩm chất chủ yếu và dấu hiệu về mức độ đạt được đối với học sinh cấp tiểu học trong Chương trình giáo dục phổ thông 1
* 05 phẩm chất chủ yếu: Yêu nước; Nhân ái; Chăm chỉ; Trung thực; Trách nhiệm
* Dấu hiệu của mỗi phẩm chất biểu hiện qua hành vi của học sinh:
a) Dấu hiệu nhận biết học sinh có phẩm chất “Yêu nước”
+ Học sinh thể hiện được tình yêu thiên nhiên và có những việc làm thiết thực bảo vệ thiên nhiên
+ Học sinh thể hiện được tình yêu quê hương, yêu tổ quốc, tôn trọng các biểu trưng của đất nước thông qua các hành vi cụ thể
+ Học sinh thể hiện sự kính trọng, biết ơn người lao động, người có công với quê hương, đất nước bằng các hành vi cụ thể; tham gia vào các hoạt động đền ơn đáp nghĩa đối với những người có công với đất nước
b) Dấu hiệu nhận biết học sinh có phẩm chất “Nhân ái”
- Dấu hiệu 1: Học sinh thể hiện sự “yêu quý” mọi người thông qua các hành vi
Trang 13+ Học sinh không phân biệt, đối xử, chia rẽ các bạn
+ Học sinh sẵn sàng tha lỗi vì những hành vi mắc lỗi của bạn
c) Dấu hiệu nhận biết học sinh có phẩm chất “Chăm chỉ”
- Dấu hiệu 1 Hoc sinh thể hiện sự “Ham học”
+ Học sinh đi học đầy đủ, đúng giờ
+ Học sinh thường xuyên hoàn thành nhiệm vụ học tập
+ Học sinh ham học hỏi, thích đọc sách để mở rộng hiểu biết
+ Học sinh có ý thức học được kiến thức, kỹ năng học được ở nhà trường để vận dụng vào cuộc sống hàng ngày
- Dấu hiệu 2 Học sinh “Chăm làm”
+ Học sinh thường xuyên tham gia các công việc của gia đình vừa sức với bản thân
+ Học sinh thường xuyên tham gia các công việc của trường, của lớp vừa sức với bản thân
d) Dấu hiệu nhận biết học sinh có phẩm chất “Trung thực”
+ Học sinh thể hiện sự thật thà, ngay thẳng trong học tập, lao động và sinh hoạt hàng ngày; mạnh dạn nói lên ý kiến của mình
+ Học sinh luôn giữ lời hứa, mạnh dạn nhận lỗi, sửa lỗi và bảo vệ cái đúng, cái tốt
+ Học sinh không bao giờ tự tiện lấy đồ vật, tiền bạc của người thân, bạn bè, thầy
cô và những người khác
+ Học sinh luôn thể hiện sự không đồng tình với các hành vi thiếu trung thực trong học tập và trong cuộc sống
e) Dấu hiệu nhận biết học sinh có phẩm chất “Trách nhiệm”
- Dấu hiệu 1 Học sinh tự có trách nhiệm với bản thân:
+ Học sinh có ý thức giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể, chăm sóc sức khỏe
Trang 1414
+ Học sinh có ý thức sinh hoạt nề nếp
- Dấu hiệu 2 Học sinh có trách nhiệm với gia đình:
+ Học sinh có ý thức bảo quản, giữ gìn đồ dùng cá nhân và gia đình
+ Học sinh không bao giờ bỏ thừa đồ ăn thức uống, có ý thức tiết kiệm tiền bạc, điện nước trong gia đình
- Dấu hiệu 3 Học sinh có trách nhiệm với nhà trường và xã hội:
+ Học sinh tự giác thực hiện nghiêm túc nội quy của nhà trường và các quy định, quy ước của tập thể; giữ vệ sinh chung, bảo vệ của công
+ Học sinh không gây mất trật tự, đánh nhau, cãi nhau
+ Học sinh thường xuyên nhắc nhở bạn bè chấp hành nội quy trường lớp; nhắc nhở mọi người chấp hành quy định, quy ước nơi công cộng
+ Học sinh thể hiện việc có trách nhiệm với công việc được giao ở trường, ở lớp + Học sinh tích cực tham gia các hoạt động tập thể, hoạt động xã hội phù hợp với lứa tuổi
- Dấu hiệu 4 Học sinh có trách nhiệm với môi trường sống:
+ Học sinh có hành vi chăm sóc và bảo vệ cây xanh và các con vật có ích + Học sinh có hành vi giữ vệ sinh môi trường, không xả rác bừa bãi
+ Học sinh không đồng tình có có thái độ với các hành vi xâm hại thiên nhiên
1.2.2 Các năng lực và dấu hiệu đạt được đối với học sinh cấp tiểu học trong Chương trình giáo dục phổ thông 1
* Nhóm năng lực chung bao gồm: Năng lực tự chủ và tự học; Năng lực giao
tiếp và hợp tác; Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
Dấu hiệu của mỗi năng lực chung biểu hiện qua kết quả hành động của học sinh:
a) Dấu hiệu nhận biết học sinh có năng lực “tự chủ và tự học”
Trang 1515
Học sinh có ý thức về quyền và mong muốn của bản thân; bước đầu biết cách trình bày và thực hiện một số quyền lợi và nhu cầu chính đáng
- Dấu hiệu 3 Tự điều chỉnh tình cảm, thái độ và hành vi của mình:
+ Học sinh nhận biết và bày tỏ được tình cảm, cảm xúc của bản thân; biết chia sẻ tình cảm, cảm xúc của bản thân với người khác
+ Học sinh hòa nhã với mọi người, không nói hoặc làm những điều xúc phạm tới người khác
+ Học sinh thực hiện đúng kế hoạch học tập, lao động; không mải chơi, làm ảnh hưởng đến việc học và các việc khác
- Dấu hiệu 4 Thích ứng với cuộc sống:
+ Học sinh tìm được những cách giải quyết khác nhau cho cùng một vấn đề + Học sinh thực hiện được các nhiệm vụ khác nhau với các yêu cầu khác nhau
- Dấu hiệu 5 Định hướng nghề nghiệp:
+ Học sinh bộc lộ được sở thích, khả năng của bản thân
+ Học sinh biết tên, hoạt động chính và vai trò của một số nghề nghiệp; liên hệ được những hiểu biết đó với nghề nghiệp của người thân trong gia đình
- Dấu hiệu 6 Tự học, tự hoàn thiện:
+ Học sinh có ý thức, biết cách tổng kết và trình bày được những điều đã học + Học sinh nhận ra và sửa chữa được những sai sót trong bài kiểm tra qua lời nhận xét của thầy cô
+ Học sinh có ý thức học hỏi thầy cô, bạn bè và người khác để củng cố và mở rộng hiểu biết
+ Học sinh có ý thức học tập và làm theo những gương người tốt
b) Dấu hiệu nhận biết học sinh có năng lực “giao tiếp và hợp tác”
- Dấu hiệu 1 Xác định được mục đích, nội dung, phương tiện và thái độ giao
Trang 16+ Học sinh biết cách kết bạn và giữ gìn tình bạn
+ Học sinh nhận ra được những bất đồng, xích mích giữa bản thân với bạn hoặc giữa các bạn với nhau; biết nhường bạn hoặc thuyết phục bạn
- Dấu hiệu 2 Xác định mục đích, phương thức hợp tác:
Học sinh có thói quen trao đổi, giúp đỡ nhau trong học tập; biết cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ học tập theo sự hướng dẫn của thầy cô
- Dấu hiệu 3 Xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân:
Học sinh hiểu được nhiệm vụ của nhóm và trách nhiệm hoạt động của bản thân trong nhóm sau khi được hướng dẫn, phân công
- Dấu hiệu 4 Xác định được nhu cầu và khả năng của người hợp tác:
Học sinh nhận biết được một số đặc điểm nổi bật của các thành viên trong nhóm
để đề xuất phương án phân công công việc phù hợp
- Dấu hiệu 5 Tổ chức và thuyết phục người khác:
Học sinh biết cố gắng hoàn thành phần việc của mình được phân công và chia sẻ giúp đỡ thành viên khác cùng hoàn thành việc được phân công
- Dấu hiệu 6 Đánh giá hoạt động hợp tác:
Báo cáo được kết quả thực hiện nhiệm vụ của cả nhóm; tự nhận xét được ưu điểm, thiếu sót của bản thân theo hướng dẫn của thầy cô
- Dấu hiệu 7 Hội nhập quốc tế:
+ Học sinh có hiểu biết ban đầu về một số nước trong khu vực và trên thế giới + Học sinh biết tham gia một số hoạt động hội nhập quốc tế theo hướng dẫn của nhà trường
c) Dấu hiệu nhận biết học sinh có năng lực “giải quyết vấn đề và sáng tạo”
- Dấu hiệu 1 Nhận ra ý tưởng mới:
Trang 1717
Học sinh biết xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới đối với bản thân từ các nguồn tài liệu cho sẵn theo hướng dẫn
- Dấu hiệu 2 Phát hiện và làm rõ vấn đề:
+ Học sinh biết thu nhận thông tin từ tình huống, nhận ra những vấn đề đơn giản
và đặt được câu hỏi
+ Học sinh biết thu nhận thông tin từ tình huống, nhận ra những vấn đề đơn giản
và đặt được câu hỏi
- Dấu hiệu 3 Hình thành và triển khai ý tưởng mới:
Dựa trên hiểu biết đã có, học sinh biết hình thành ý tưởng mới đối với bản thân
và dự đoán được kết quả khi thực hiện
- Dấu hiệu 4 Đề xuất, lựa chọn giải pháp:
Học sinh nêu được cách thức giải quyết vấn đề đơn giản theo hướng dẫn
- Thiết kế và tổ chức hoạt động:
+ Học sinh xác định được nội dung chính và cách thức hoạt động để đạt mục tiêu đặt ra theo hướng dẫn
+ Học sinh nhận xét được ý nghĩa của các hoạt động
- Dấu hiệu 5 Tư duy độc lập:
Học sinh nêu được thắc mắc về sự vật, hiện tượng xung quanh; không e ngại nêu
ý kiến cá nhân trước các thông tin khác nhau về sự vật, hiện tượng; sẵn sàng thay đổi khi nhận ra sai sót
* Nhóm năng lực đặc thù môn mĩ thuật:
a) Dấu hiệu nhận biết học sinh có năng lực “Quan sát và nhận thức thẩm mĩ”
- Dấu hiệu 1 Quan sát thẩm mỹ
+ Học sinh nhận biết được một số yếu tố thẩm mĩ thẩm mĩ cơ bản trong đời sống
và ở sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật
Trang 1818
+ Học sinh nhận biết được một số yếu tố tạo hình ở đối tượng thẩm mĩ
+ Học sinh nhận biết được dấu hiệu của một số nguyên lí tạo hình ở sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật
- Dấu hiệu 2 Nhận thức thẩm mỹ:
+ Học sinh bước đầu cảm nhận được vẻ đẹp của đối tượng thẩm mĩ
+ Học sinh nhận biết được chủ đề của sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật
+ Học sinh bước đầu nhận biết được giá trị của sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật trong đời sống
+ Học sinh biết liên tưởng vẻ đẹp của đối tượng thẩm mĩ với thực hành sáng tạo
b) Dấu hiệu nhận biết học sinh có năng lực “Năng lực sáng tạo và ứng dụng
thẩm mĩ”
- Dấu hiệu 1 Sáng tạo thẩm mỹ:
+ Học sinh nêu được ý tưởng thể hiện được đối tượng thẩm mĩ ở mức độ đơn giản
+ Học sinh vận dụng được một số hình thức thực hành, sáng tạo thể hiện ý tưởng thẩm mĩ
+ Học sinh vận dụng được một số yếu tố, nguyên lý tạo hình trong thực hành sáng tạo ở mức độ đơn giản
+ Học sinh sử dụng được một số công cụ, thiết bị trong thực hành sáng tạo
- Dấu hiệu 1 Phân tích thẩm mĩ:
+ Học sinh chia sẻ được cảm nhận về đối tượng thẩm mĩ ở mức độ đơn giản
Trang 1919
+ Học sinh biết tìm hiểu tác giả, sản phẩm, tác phẩm mĩ thuật
+ Học sinh mô tả được một số yếu tố, dấu hiệu của nguyên lý tạo hình ở sản phẩm, tác phẩm mi thuật trong thực hành, thảo luận và liên hệ thực tiễn
- Dấu hiệu 2 Đánh giá thẩm mĩ:
+ Học sinh bước đầu đánh giá được đối tượng thẩm mĩ thông qua một số yếu tố
và nguyên lý tạo hình
+ Học sinh bước đầu học hỏi được kinh nghiệm thực hành sáng tạo thông qua đánh giá đối tượng thẩm mĩ
Bài tập
Bằng thực tế dạy học của mình, học viên có thể bổ sung thêm:
- Các dấu hiệu về hành vi biểu lộ phẩm chất “yêu nước” của học sinh tiểu học;
- Các dấu hiệu về hành vi biểu lộ phẩm chất “trung thực” của học sinh tiểu học;
- Các dấu hiệu về hành vi biểu lộ phẩm chất “nhân ái” của học sinh tiểu học;
- Các dấu hiệu về hành vi biểu lộ phẩm chất “chăm chỉ” của học sinh tiểu học;
- Các dấu hiệu về hành vi biểu lộ phẩm chất “trách nhiệm” của học sinh tiểu học;
- Các dấu hiệu về kết quả hành động biểu lộ năng lực “tự chủ và tự học” của học sinh tiểu học;
- Các dấu hiệu về kết quả hành động biểu lộ năng lực “giao tiếp và hợp tác” của học sinh tiểu học;
- Các dấu hiệu về kết quả hành động biểu lộ năng lực “giải quyết vấn đề và sáng tạo” của học sinh tiểu học;
- Các dấu hiệu về kết quả hành động biểu lộ năng lực “quan sát và nhận thức thẩm mĩ” của học sinh tiểu học;
- Các dấu hiệu về kết quả hành động biểu lộ năng lực “sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ” của học sinh tiểu học;
- Các dấu hiệu về kết quả hành động biểu lộ năng lực “tự chủ và tự học” của học sinh tiểu học;
- Các dấu hiệu về kết quả hành động biểu lộ năng lực “phân tích và đánh giá thẩm mĩ” của học sinh tiểu học;
1.2.3 Cách xây dựng và sử dụng khung năng lực môn học
Dưới đây là ví dụ về khung năng lực “Quan sát và nhận thức thẩm mĩ” mà một nhóm giáo viên có thể xây dựng:
Trang 20to nhỏ của các đồ vật xung quanh;
- Nêu được lý do sự cao thấp, to nhỏ của các đồ vật xung quanh
1.2 Biết được một số đồ dùng, màu vẽ và vật liệu sẵn có để thực hành sáng tạo
- Nêu được đúng tên các dụng cụ học vẽ;
- Nói được đúng tên các nguyên liệu dùng để tạo hình;
- Giải thích được lý do của việc sử dụng dụng cụ học vẽ vào các công việc tạo hình khác nhau;
- Giải thích được lý do của việc sử dụng các nguyên liệu vào các công việc tạo hình khác nhau
1.3 Lựa chọn được đối tượng làm hình mẫu để thực hành sáng tạo
- Chọn được đồ vật có hình dáng và màu sắc đơn giản để làm mẫu;
- Bố trí được các đối tượng có liên quan với nhau để làm mẫu vẽ;
- Sắp xếp được bố cục hợp lý để quá trình thực hành sáng tạo đạt hiệu quả
1.4 Nhận biết được cấu trúc tỷ
lệ và công dụng của một số sản phẩm thủ công, liên hệ ở địa phương
1.5 Xác định được mục đích,
Trang 211.6 Nhận biết được yếu tố thẩm mĩ ở sản phẩm, tác phẩm
mĩ thuật, liên hệ thực tiễn
2.2 Nêu được tên một số công
cụ, vật liệu để thực hành, sáng tạo
2.3 Nhận biết được yếu tố tạo hình: chấm, nét, hình khối, màu sắc ở các sản phẩm thủ công
2.4 Nhận biết và đọc được tên các màu cơ bản
2.5 Nhận biết được yếu tố tạo hình: chấm, nét, hình khối, màu sắc, đậm nhạt
2.6 Biết phân biệt màu cơ bản
và màu thứ cấp 2.7 Nhận biết được yếu tố tạo hình: chấm, nét, hình khối, màu sắc, đậm nhạt, chất cảm, không gian
đề và lựa chọn công cụ, vật
Trang 22đề với hình ảnh trong thực tiễn 3.5 Hiểu được một số thao tác, công đoạn cơ bản để làm nên sản phẩm
3.6 Nhận biêt được tính chất tương phản của hình, khối ở sản phẩm thủ công
3.7 Nhận biết được màu nóng, màu lạnh; không gian xa gần
3.8 Xác định được nội dung chủ đề và hình thức thực hành sáng tạo
3.8 Nhận biết được một số yếu
tố và dấu hiệu của nguyên lý tạo hình ở sản phẩm, tác phẩm
mĩ thuật 3.10 Phân biệt được tranh vẽ, tranh in, tượng và phù điêu
3.11 Nhận biết được yếu tố và dấu hiệu của nguyên lý tạo hình ở sản phẩm thủ công Phân biệt được vật liệu tự nhiên, vật liệu nhân tạo, vật liệu sưu tầm, tái sử dụng ở sản phẩm thủ công
Một số đặc điểm của khung năng lực này bao gồm:
Trang 2323
- Các tiêu chí chất lượng mô tả chi tiết những hành vi cụ thể mà chỉ số hành vi
đã nêu ra;
- Các chỉ số hành vi được sắp xếp theo độ khó cao dần từ dưới lên trên
- Các thành tố năng lực cấu thành một năng lực cụ thể,
- Căn cứ vào kinh nghiệm thực tế giảng dạy và kinh nghiệm chuyên môn, nhóm giáo viên có thể trao đổi, bàn bạc và thống nhất nhóm các tiêu chí hành vi vào các mức khác nhau tùy thuộc vào độ khó mà hành vi đó đạt được
- Để đảm bảo các mức khác nhau ứng với độ khó tương ứng, các giáo viên sẽ phải chuyển hóa các tiêu chí chất lượng thành các câu hỏi, bài tập tình huống cụ thể, thử nghiệm trên học sinh tiểu học với số lượng lớn Từ kết quả thử nghiệm, có thể thay đổi thứ tự các chỉ số hành vi cho đảm bảo đánh giá, xếp loại năng lực học sinh
- Các mức khác nhau trên cơ sở sắp xếp độ khó của các chỉ số hành vi, ta được một khung năng lực
1.3 Sử dụng phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh đối với môn mĩ thuật
Hoạt động
Học viên nghiên cứu tài liệu để hình thành cho mình sự hiểu biết và khả năng áp dụng hiệu quả một số phương pháp kiểm tra đánh giá phẩm chất năng lực học sinh tiểu học qua môn mĩ thuật
Mục tiêu
Sau khi thực hiện hoạt động này, học viên sẽ:
- Hiểu về tầm quan trọng của việc kiểm tra đánh giá mức độ đạt được về phẩm chất và năng lực của học sinh
- Hiểu biết một cách rõ ràng một số phương pháp kiểm tra, đánh giá phẩm chất năng lực học sinh đang được áp dụng hiện nay trong giáo dục tiểu học
- Sẵn sàng và vận dụng được vào việc tổ chức kiểm tra, đánh giá phẩm chất, năng lực học sinh khi giảng dạy môn mĩ thuật ở trường tiểu học
Thông tin cơ bản
1.3.1 Phẩm chất, năng lực và đánh giá phẩm chất, năng lực
Chương trình Giáo dục phổ thông tập trung vào việc hình thành và phát triển các phẩm chất và năng lực học sinh Năng lực đặt ra với học sinh là nhu cầu của thị trường lao động và yêu cầu phát triển bền vững của xã hội Năng lực là sự kết hợp của 3 yếu
Trang 2424
tố: Hành động phù hợp trong điều kiện nhất định, đánh giá về một công việc và nhìn lại quá trình
Một người có năng lực phụ thuộc vào khả năng tích lũy, khả năng thích ứng của
họ trong các hoàn cảnh cụ thể Năng lực cá nhân là sự tổng hòa của kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm sống Năng lực và phẩm chất có thể quan sát được thông qua hành vi và kết quả khi giải quyết vấn đề
Dạy học theo hướng phát triển năng lực là xu hướng tất yếu hiện nay trên thế giới Xu hướng chung của dạy học hiện đại là chuyển từ “tập trung vào kiến thức” sang
“tập trung vào năng lực” Năng lực bao gồm trong nó các kỹ năng
Để có được năng lực, người học phải vận dụng, tích hợp những điều đã biết, đã học Đó là: Kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, thái độ, niềm tin Trong quá trình hình thành một năng lực nào đó, thay cho việc nắm một lượng kiến thức lớn, người học cần phải có kỹ năng sử dụng các kiến thức đã có vào tình huống cụ thể Việc sử dụng kiến thức đã có vào tình huống cụ thể đòi hỏi một tập hợp các kỹ năng khác nhau
Để đánh giá phẩm chất và năng lực người học, cần đặc biệt nhấn mạnh đến đánh giá quá trình học Việc đánh giá quá trình học kết hợp với đánh giá kết quả học sẽ đem đến những thông tin phản hồi để cả người dạy và người học điều chỉnh hoạt động dạy và học của mình
Đánh giá quá trình học tập môn Mĩ thuật của học sinh có thể thực hiện thông qua quan sát với các tình huống học tập, qua phân tích hồ sơ học tập của học sinh, qua các phát vấn, trao đổi với học sinh, qua cách thức tổ chức làm bài, qua kết quả các bải tập tạo hình cụ thể, qua đánh giá lẫn nhau và tự đánh giá của mỗi học sinh
Đánh giá phẩm chất và năng lực thông qua các sản phẩm và quá trình học tập của học sinh:
- Thông qua kết quả học tập – thành tích học tập;
- Thông qua khả năng thuyết trình;
- Thông qua sản phẩm thực hành, bài viết, phiếu học tập;
- Thông qua hồ sơ học tập;
- Thông qua quan sát, ghi chép của giáo viên
Giáo viên rất cần có năng lực đánh giá, đây là một năng lực nghề nghiệp cần thiết Đó là các kỹ năng liên hoàn sau đây:
Trang 25vụ học tập hoặc để điều chỉnh hay cải tiến kế hoạch/ chương trình dạy học
- Thiết kế các hoạt động, công cụ để kiểm tra, đánh giá phẩm chất và năng lực học sinh và đưa ra những quyết định cá nhân xác định phẩm chất, năng lực của người học
- Đối chiếu và xem xét tính tương thích giữa mục tiêu dạy học với các hoạt động hay công cụ kiểm tra, đánh giá
1.3.2 Một số phương pháp kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh đối với môn Mĩ thuật
1.3.2.1 Đánh giá qua quan sát
Phương pháp đánh giá thông qua quan sát học sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ
Trong quá trình thực hiện những nhiệm vụ được giao, học sinh sẽ có những biểu hiện về hành vi, thái độ, cử chỉ thông qua các thao tác, cách thức thực hiện nhiệm vụ trong các bài tập mĩ thuật, thông qua mối tương tác với các thành viên trong nhóm, thông qua kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao Từ việc quan sát, giáo viên có thể đối chiếu yêu cầu đặt ra của bài học, mỗi chủ đề về phẩm chất, năng lực với hành vi của học sinh
để đưa ra nhận định xem phẩm chất nào, năng lực nào học sinh chưa có hoặc còn mờ nhạt; phẩm chất nào, năng lực nào mà học sinh đã có – có ở mức độ nào, có phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và mục tiêu của bài học, chủ đề học tập đã đặt ra hay không?
Đánh giá qua quan sát được tiến hành khi giáo viên sử dụng thị giác phối hợp với các giác quan khác, xem xét quá trình học tập của học sinh một cách có ý thức, có mục đích, có kế hoạch để thu thập thông tin và đưa ra những kết luận trên cơ sở phân tích những thông tin ấy Đây là một trong những phương pháp phổ biến của quá trình đánh giá
Quy trình thực hiện đánh giá quan sát:
Bước 1: Chuẩn bị
- Xác định mục đích quan sát
Trang 26+ Muốn biết năng lực học tập của học sinh
Ví dụ: quan sát để biết cách sử dụng các đồ dùng học vẽ của học sinh để uốn nắn, điều chỉnh kịp thời
+ Muốn biết kết quả học tập của giờ học, của môn học so với mục tiêu đặt ra
Ví dụ: Quan sát để biết được học sinh có mạnh dạn trao đổi, thảo luận trong quá trình tiến hành xây dựng các sản phẩm tạo hình chung của nhóm hay không?
+ Quá trình học tập của học sinh
Ví dụ: Quan sát để đưa ra nhận xét xem học sinh có khó khăn trong quá trình chuyển
từ hoạt động khởi động sang hoạt động khám phá khi thực hiện một bài tập tạo hình sản phẩm 3D; nắm được nguyên nhân học sinh gặp khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm
vụ báo cáo kết quả học tập cuối mỗi chủ đề, bài học mĩ thuật cụ thể
+ Sự tương tác giữa học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên, học sinh với môi trường
Ví dụ: Quan sát để kiểm chứng học sinh có những biểu hiện của hành vi “giữ gìn
vệ sinh, rèn luyện thân thể, chăm sóc sức khỏe” trong phẩm chất: “Trách nhiệm” hay không
- Xác định nội dung quan sát:
Trang 2727
+ Kiến thức
+ Kĩ năng nhận thức
+ Kĩ năng thực hành
+ Các thao tác, hành vi, động cơ, thái độ
+ Hứng thú học tập môn mĩ thuật của HS,
- Xác định cách thức quan sát:
+ Quan sát công khai hoặc không công khai
+ Quan sát trực tiếp: quan sát và ghi chép hành vi của học sinh ngay tại bối cảnh
và thời gian trong quá trình học sinh thực hiện nhiệm vụ
+ Quan sát gián tiếp: không quan sát trực tiếp hành vi mà đi thu thập các dấu vết của hành vi còn sót lại
Ví dụ: quan sát gián tiếp qua kết quả bài tập tạo hình; bảng phân công nhiệm vụ nhóm; báo cáo kết quả chung của nhóm
+ Quan sát có cấu trúc/hệ thống: quan sát có hệ thống hành vi của cá nhân (có kế hoạch rõ ràng và cụ thể về lựa chọn, quan sát, ghi chép và mã hoá hành vi), đóng vai trò quan trọng và đem lại nhiều thông tin trong quá trình quan sát Quan sát có cấu trúc/hệ thống có thể tiến hành quan sát trực tiếp, công khai hoặc không công khai
Ví dụ: Quan sát xem học sinh có thực hiện tuần tự các bước tiến hành một bài tập tạo hình theo yêu cầu không?
+ Quan sát phi cấu trúc/phi hệ thống
- Xác định địa điểm quan sát: Trong lớp học, ngoài lớp học, trong môi trường tự
nhiên hoặc trong “phòng thực hành môn mĩ thuật”
- Xác định thời gian quan sát: Quan sát thời điểm hay quan sát trường diễn
- Lưu giữ kết quả quan sát: chuẩn bị bộ công cụ quan sát (sổ ghi chép hoặc phiếu
quan sát, thang đánh giá, phương tiện kĩ thuật, )
Bước 2 Tiến hành quan sát, ghi biên bản
Tiến hành quan sát theo mục đích, đối tượng, cách thức, nội dung, thời gian, địa điểm quan sát như trong bước chuẩn bị
Trong quá trình quan sát, thực hiện việc ghi chép chi tiết quan sát được mọt cách khoa học, đầy đủ, có trọng tâm để xử lý kết quả trong các khâu tiếp theo
Trang 28Ví dụ: quan sát thấy học sinh có kỹ năng sử dụng sáp màu, cùng với kết quả đánh giá bài tập vẽ tranh của học sinh để đưa ra nhận định: “Học sinh vận dụng được một số yếu tố, nguyên lý tạo hình trong thực hành sáng tạo ở mức độ đơn giản” trong yêu cầu
về năng lực đặc thù: “Sáng tạo thẩm mĩ”
Phân tích kết quả quan sát để tăng thêm độ tin cậy quá trình đánh giá kết quả học tập của học sinh đối với môn mĩ thuật trong nhiệm vụ hình thành và phát triển các phẩm chất, năng lực chung và năng lực đặc thù bộ môn
Một số công cụ đánh giá bằng quan sát
Để việc quan sát được thực hiện một cách có hệ thống, người ta thường dùng các công cụ khác nhau để ghi nhận kết quả quan sát được như:
Với tư cách là một bộ phận của quá trình đánh giá, có thể xem tự đánh giá thuộc loại đánh giá hình thành Tuy nhiên, đôi khi nó cũng có thể mang tính chất chẩn đoán hoặc tổng kết
Với tư cách là một hoạt động học tập, tự đánh giá là một hoạt động tự phản ánh
về quá trình học tập môn mĩ thuật của bản thân học sinh về những vấn đề như: học sinh
Trang 2929
đã hình thành được những phẩm chất và năng lực nào? Cần phát triển những năng lực
nào? Học sinh đã hình thành và phát triển các năng lực đó bằng cách nào và sẽ phải làm
gì thông qua các bài học mĩ thuật để phẩm chất và năng lực đó tốt hơn trong tương lai…
a) Sự cần thiết của phương pháp học sinh tự đánh giá
- Tự đánh giá giúp cho quá trình học tập môn mĩ thuật trở nên rõ ràng, đơn giản
hơn đối với học sinh, giúp học sinh luyện lập công việc đánh giá Phương pháp tự đánh
giá rất có lợi cho quá trình học tập của học sinh
Ví dụ: Thay cho việc giáo viên đưa ra nhận xét về cách sử dụng màu sắc trong
bài tập vẽ tranh, học sinh có thể tự mình đưa ra những nhận xét theo các tiêu chí giáo
viên đã đưa ra:
+ Màu xanh sẽ tô cho lá cây
+ Màu đỏ sẽ tô cho hoa hồng
+ Màu vàng sẽ tô cho hoa cúc
+ Màu hồng sẽ tô cho hoa sen
+ Màu đỏ sẽ tô vào khuôn hình ông mặt trời
…
- Tự đánh giá giúp cho giáo viên và học sinh đánh giá được mức độ hình thành
và phát triển phẩm chất và năng lực cá nhân mỗi học sinh Rèn luyện tự đánh giá thậm
chí ở dạng đơn giản nhất, cũng có tác dụng khuyến khích người học nhìn thấy rõ hơn
mục tiêu học tập
Ví dụ: Qua bài tập tạo hình chủ đề
“Những người bạn thân yêu”, học sinh tự
đánh giá mình đã quan sát và nhận ra
những đặc điểm ấn tượng của bạn để tạo
hình bạn một cách đẹp nhất Sau thời gian
thực hiện nhiệm vụ, học sinh sẽ yêu quý
bạn bè hơn, biết trân quý những giá trị mà
bạn bè mang lại Đó là quá trình phát triển
phẩm chất “nhân ái” cho học sinh thông
qua các bài học tạo hình Quan trọng là
học sinh tự nhận ra sự thay đổi của bản
thân, điều đó sẽ thúc đẩy quá trình phát
Vẽ đúng chưa nhỉ? Tô màu đúng chưa
nhỉ?
Con gà bé hơn con trâu
Con gà có mào đỏ
Trang 3030
triển phẩm chất một cách chủ động và tự
giác thông qua tự đánh giá
- Đẩy mạnh tính hướng đích, tạo điều kiện để người học đạt được mục tiêu học tập Mục tiêu học tập là đích hướng tới Giáo viên nên gợi ý và cùng với học sinh đặt ra các mục tiêu cụ thể trong suốt quá trình học tập (ví dụ: năng lực sử dụng được màu đậm, màu nhạt ở sản phẩm) Qua mỗi bài học, mỗi sản phẩm tạo hình, giáo viên tổ chức cho học sinh tự đánh giá xem năng lực sử dụng màu đậm, màu nhạt của mình đã đạt được ở mức độ nào? Hướng giải quyết tiếp theo là gì?
- Thông qua tự đánh giá, học sinh sẽ hình thành và phát triển được năng lực đánh giá của mình khi đứng trước một hiện tượng, một sự việc/ khi đánh giá một vấn đề có liên quan đến bản thân hoặc ngoài xã hội Đây là một năng lực quan trọng để phân tích
và giải quyết vấn đề trong cuộc sống sau này đối với mỗi con người
- Học sinh tự đánh giá một cách hiệu quả sẽ góp phần chia sẻ gánh nặng đánh giá đối với giáo viên, làm cho giáo viên có thêm một kênh đánh giá bên cạnh các kênh đánh giá khác đối với mục tiêu đặt ra cho mỗi bài học, lớp học; góp phần làm tăng độ tin cậy đối với kết quả đánh giá
Ví dụ: Giáo viên hướng dẫn và tạo các điều kiện cho học sinh tự đánh giá khả năng trình bày, thuyết minh bài tập mĩ thuật của nhóm ở các mức độ: chưa hoàn thành, hoàn thành và hoàn thành tốt Giáo viên có thể sử dụng phương pháp đánh giá “quan sát” cùng với những ghi chép về sự trưởng thành của mỗi học sinh khi thực hiện yêu cầu thuyết minh bài tập mĩ thuật (năng lực “phân tích và đánh giá thẩm mĩ” và năng lực
“giao tiếp và hợp tác”) Học sinh có nhiệm vụ tự đánh giá mức độ thay đổi, trưởng thành của chính mình qua mỗi bài trình bày Khi kết hợp sự quan sát và ghi chép của giáo viên với tự đánh giá của học sinh, giáo viên có một kết quả đánh giá từ nhiều kênh và có độ tin cậy cao hơn
Tự đánh giá là một thành tố cơ bản trong dạy học Tự đánh giá là việc làm cần thiết để học sinh có trách nhiệm hơn đối với việc học tập của chính mình1
b) Một số lưu ý trong quá trình hỗ trợ học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá:
1 Theo AAIA (Association for Achievement and Improvement through Assessment–Hiệp hội vì thành tích và cải thiện thành tích học tập thông qua đánh giá)
Trang 31Ví dụ: Tự nhận xét xem em đã biết cách tô màu vào bức tranh chưa, tô màu hợp
lý chưa, vẽ được các loại nét chưa? Qua các bài tập nào thì em đã pha được màu, tô được màu và vẽ được nét?
- Khuyến khích và tạo điều kiện cho học sinh ước tính được khả năng đạt được yêu cầu mục tiêu của mỗi phẩm chất và năng lực đã đặt ra
Ví du: Em hãy cố gắng để gấp được 1 chiếc máy bay bằng tờ giấy nhé
Em có thể vẽ thêm chi tiết gì đó để chiếc máy bay đó đẹp hơn
Cố gắng tạo ra bầu không khí thuận lợi bên trong lớp học sao cho việc mắc lỗi được nhìn nhận như là cách thức cải thiện việc học chứ không phải là ghi nhận sự thất bại của cá nhân
- Lồng ghép các mục tiêu học tập vào các cuộc thảo luận với học sinh
- Hỗ trợ học sinh nhận thức được các bước tiếp theo của họ và chia sẻ các chuẩn môn học mà học sinh cần đạt
- Có những hỗ trợ và động viên kịp thời để giúp học sinh có thể đạt được các yêu cầu về phẩm chất và năng lực theo yêu cầu đặt ra
1.3.2.3 Hồ sơ học tập
Hồ sơ học tập là một công cụ rất hữu ích trong việc đánh giá kết quả học tập môn
mĩ thuật của học sinh
Hồ sơ học tập là gì?
Hồ sơ học tập là một tập lưu giữ các bài làm, sản phẩm, các chứng cứ đạt về phẩm chất và năng lực của mình trong một quá trình học tập
Mục đích của việc xây dựng “Hồ sơ học tập”:
Hồ sơ học tập được xây dựng nhằm mục đích chính là góp phần đánh giá việc hoàn thành mục tiêu học tập của học sinh Bên cạnh đó có tính đến việc xem xét sự phát triển về phẩm chất và năng lực của học sinh trong suốt quá trình học tập
Trang 3232
Nội dung của ”Hồ sơ học tập”:
Cùng với hướng dẫn của giáo viên, tùy vào những mục tiêu học tập nhất định, học sinh có quyền lựa chọn trong số những sản phẩm, bài làm, mà các em tự đánh giá
là tốt nhất để đưa vào “Hồ sơ học tập”, coi đó là những chứng cứ cụ thể về những điều
mà các em đã tiếp thu được để kiểm chứng và làm minh chứng cho quá trình hình thành
và phát triển các năng lực, phẩm chất của bản thân
Việc chọn lựa và thu thập chứng cứ sử dụng trong ”Hồ sơ học tập” cũng có thể được thực hiện bởi học sinh, giáo viên và những người khác liên quan
Một hồ sơ học tập của học sinh tiểu học nên có hai phần: bìa và nội dung lưu trữ Với phần bìa hồ sơ, học sinh có thể tự trang trí bằng nhiều cách khác nhau mang đặc thù môn mĩ thuật: vẽ chân dung của chính mình và trang trí cho đẹp/ viết một câu slogan và trang trí cho đẹp/ vẽ một con vật/ một bông hoa mà mình yêu thích nhất và trang trí cho đẹp
Với phần nội dung lưu trữ có thể thiết kế như sau:
Ưu nhược điểm của ”Hồ sơ học tập”
- Cho phép tự học sinh thấy rõ mặt mạnh và mặt yếu của mình trong quá trình học tập Hồ sơ học tập giúp học sinh thấy được khả năng và những tiến bộ rõ rệt của mình để từ đó có được sự điều chỉnh phương pháp học thích hợp
- Giáo viên theo dõi, đánh giá được quá trình tiến bộ của học sinh cũng như việc
đạt được các mục tiêu dạy học thông qua hồ sơ học tập Từ đó, giáo viên ghi chép các họat động, những cố gắng của học sinh, nhận xét trẻ đã đạt được mục tiêu gì trong chương trình để làm chứng cứ cụ thể Từ đó đề ra những biện pháp tác động tích cực đối với trẻ, đưa ra những kết luận, nhận xét đánh giá về cá nhân học sinh Ví dụ:
Trang 3333
+ Sau khi dạy xong một chủ đề, giáo viên đánh giá kết quả học tập của học sinh theo mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực tương ứng với chủ đề đó Nếu học sinh hoàn thành được 85% các tiêu chí cần đạt liên quan thì HS đó được đánh một dấu () vào sổ “theo dõi kết quả học tập học sinh” của giáo viên
+ Cuối mỗi học kì hay cuối năm học, nếu học sinh đạt được 85% (hoặc >2/3) dấu () so với tổng số các chủ đề được đánh dấu trong sổ theo dõi của giáo viên thì có thể coi rằng học sinh đó đạt ở mức độ cao (hoàn thành tốt)
- Giáo viên có thể sử dụng ”Hồ sơ học tập” này để trao đổi với phụ huynh học
sinh Hồ sơ như một cuốn phim về các hoạt động học tập của học sinh ở trường học Với cách đánh giá này, phụ huynh sẽ phấn khởi vì có được chứng cứ về sự phát triển và tiến
bộ của con mình, từ đó tích cực kết hợp với giáo viên tham gia bổ sung vào hồ sơ nhằm thúc đẩy học tập của con em họ
- Thông qua hồ sơ học tập của cá nhân học sinh, giáo viên có thể lập nội dung, kế hoạch hoạt động phù hợp nhu cầu, khả năng, hứng thú của trẻ Qua đó, giáo viên định hướng sự phát triển tiếp cho trẻ
Tuy nhiên, cần cung cấp các phương tiện cần thiết để việc thu thập các dữ liệu trong hồ sơ học tập được thuận lợi Điều này không phải lúc nào GV cũng có thể thực hiện được
Các bước thực hiện phương pháp đánh giá theo ”Hồ sơ học tập”
1 Lập kế hoạch thu thập chứng cứ
Giáo viên mĩ thuật có thể trao đổi và thảo luận với các giáo viên khác cùng chuyên môn hoặc dạy môn học có liên quan đến các yêu cầu chung về phẩm chất và năng lực cần đạt cho học sinh trong 1 thời gian cụ thể về các sản phẩm yêu cầu học sinh thực hiện
để lưu giữ trong hồ sơ:
2 Giới thiệu về hồ sơ học tập cho học sinh
Cần nói cho học sinh hiểu về mục đích của việc thu thập chứng cứ trong hồ sơ học tập, phương pháp sử dụng hồ sơ học tập Nên cung cấp cho học sinh một số mẫu về
Trang 3434
hồ sơ học tập để các em biết cách lựa chọn chứng cứ chứng tỏ mình đã đạt được một mục tiêu nào đó Với những học sinh mới được thực hiện đánh giá theo hồ sơ, cần dẫn dắt để các em có thể cảm thấy thoải mái, tự tin và chính xác trong việc phân tích và nhận xét công ciệc của mình
3 Hướng dẫn thu thập chứng cứ để đưa vào hồ sơ học tập
Trong quá trình diễn ra các hoạt động học tập, học sinh thu thập, lựa chọn các sản phẩm họat động: sản phẩm tạo hình cụ thể 2D, 3D hoặc ảnh chụp lại các sản phẩm
đó, các bài viết, để làm chứng cứ đạt mục tiêu học tập và đưa vào trình bày trong hồ
sơ lưu giữ
4 Hướng dẫn học sinh đánh giá qua hồ sơ
-Để học sinh có được khả năng tự đánh giá này, giáo viên nên làm mẫu và nhận xét Học sinh có thể bắt đầu bằng cách viết những suy xét của mình ra giấy hoặc nói với những bạn khác Sau đó có thể giúp học sinh tiến tới những hình thức đánh giá phức tạp hơn bằng cách giáo viên đưa ra những câu hỏi như:
+ “Có thể cho tôi biết em đã làm gì?”;
+ “Em thích phần nào trong bài thực hành của mình?”;
+ “Em sẽ làm gì tiếp theo?; …
Từ đó học sinh hiểu được đâu là điểm mạnh của mình và thông qua câu trả lời của học sinh, giáo viên cũng có thể đáp ứng được nhu cầu học tập của các em
Khi học sinh đánh giá các hoạt động và mức độ đạt được của mình qua hồ sơ, các em sẽ có những điều chỉnh hoạt động học của mình Tự đánh giá có thể được sử dụng với một bài tập, nhóm bài tập và cho cả hồ sơ học tập Khi học sinh đã quen và
có khả năng tự đánh giá, có thể tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả học tập thông qua ”hồ sơ học tập” của các em tại các cuộc họp với phụ huynh học sinh
Trong quá trình học tập cần yêu cầu học sinh tham gia đánh giá hồ sơ học tập của các bạn khác Tiêu điểm của đánh giá là phân tích và nhận xét mang tính tích cực về sản phẩm, kết quả học tập của bạn
1.3.2.4 Nhìn lại quá trình
Phương pháp nhìn lại quá trình giúp học sinh biết tự đánh giá đúng về bản thân trước và trong quá trình học tập môn mĩ thuật Phương pháp này không chỉ áp dụng đối với học sinh mà ngay cả đối với giáo viên trong quá trình tự đánh giá kết quả giảng dạy của mình
Trang 3535
a) Cơ sở của phương pháp tự đánh giá ”Nhìn lại quá trình”:
- Cũng như người lớn, trẻ cần biết tin vào chính mình và vững tin vào các giá trị của mình
- Trẻ cần được khen và cần những thông tin phản hồi tích cực về hành vi, hành động của chúng
- Học sinh xây dựng lòng tự trọng trên cơ sở tự đánh giá Việc tự đánh giá của trẻ chủ yếu dựa trên cảm xúc được mọi người yêu thương và tôn trọng Nhận thức đúng đắn về bản thân được xây dựng trên cơ sở tự đánh giá năng lực bản thân từ các góc nhìn khác nhau
- Tự tin là bước đầu cần thiết để tự điều chỉnh hành vi có hiệu quả, nhưng chưa
đủ Tự đánh giá cũng như phê bình chính xác là bước tiếp theo để đạt đến sự trưởng thành Trẻ cần được giúp đỡ để phát triển sự tự nhận thức đúng đắn, biết tự đánh giá trung thực và chính xác về điểm mạnh cũng như điểm yếu của bản thân Trẻ cần phải biết nhận ra những giới hạn của chúng Ðiều này khuyến khích chúng cố gắng để vượt lên trong những lĩnh vực mà chúng yếu Và cũng chính điều này giúp chúng biết tôn trọng năng lực của những người xuất sắc trong những lĩnh vực mà chúng không thể
b) Những lưu ý khi hướng dẫn học sinh tự đánh giá bằng cách nhìn lại quá trình
- Khuyến khích học sinh biết đánh giá những năng lực khác nhau
Trong quá trình học tập môn Mĩ thuật ở tiểu học, mỗi học sinh sẽ có những thế mạnh riêng ứng với mỗi năng lực cốt lõi hoặc năng lực thẩm mĩ cụ thể Giáo viên phải đặt ra các yêu cầu cần đạt đối với từng bài tập, từng chủ đề Ứng với đó là các dấu hiệu
mà học sinh đạt được về phẩm chất và năng lực Từ đó, học sinh tự đối chiếu, so sánh xem mình đã đạt được chưa, đạt được ở mức độ nào, cần có những cố gì?
Ví dụ: Học sinh A có thể thấy mình thường xuyên đạt được các yêu cầu về năng lực ”Sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ” và rất ít khi đạt được những tiêu chí cao của năng lực ”Phân tích và đánh giá tác phẩm”
- Khi nhìn lại quá trình học tập, giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh:
+ Suy ngẫm về những gì trẻ đã và đang học được
+ So sánh với tiêu chí đánh giá và xác nhận những gì đã và chưa đạt được + Kể lại những khó khăn khi học tập và cách khắc phục
Cuối giờ học/bài học/tiểu mục/ GV thường có thể yêu cầu HS trả lời miệng (hoặc trả lời bằng phiếu để có được thông tin ngược của cả lớp) một số câu hỏi dạng:
+ Điều gì em thích nhất trong chủ đề học tập/ bài học này?
Trang 3636
+ Điều gì khó nhất trong chủ đề học tập/ bài học này?
+ Điều gì dễ nhất trong chủ đề học tập/ bài học này?
hoặc yêu cầu ghi:
+ 3 (hoặc 2, hoặc 1 tùy nội dung) điều hay nhất
+ 3 (hoặc 2, hoặc 1 tùy nội dung) điều chán nhất
hoặc:
+ 3 (hoặc 2, hoặc 1 tùy nội dung) điều khó nhất
+ 3 (hoặc 2, hoặc 1 tùy nội dung) điều dễ nhất
- Khuyến khích những nỗ lực thay đổi ở trẻ
+ Những đứa trẻ nhận được sự hỗ trợ đúng lúc sẽ có đuợc khả năng vượt qua những thử thách trong cuộc sống sau này
+ Ðiều quan trọng là trẻ cần phải hết sức cố gắng tự hoàn thành công việc của mình Cần nhớ rằng trẻ càng nỗ lực đạt được mục đích bao nhiêu thì phần thưởng cho điều đó càng có giá trị bấy nhiêu Khi biết nhận trách nhiệm cho những hành động của mình thì trẻ có thể thấy hết được giá trị của thành quả
- Ủng hộ những thành công thực sự
+ Công nhận hạng "xuất sắc" của một đứa trẻ có năng khiếu là cần thiết Nhưng công nhận những nỗ lực của một đứa trẻ vụng về đã cố gắng hết sức trong luyện tập và luyện tập trung thực lại quan trọng hơn rất nhiều
+ Trẻ hiểu rõ sự khác biệt giữa làm cho xong việc với việc đạt được những thành tích thực sự Giáo viên cần phải chúc mừng những thành công của từng trẻ
+ Khi trẻ nhận thức được mỗi thành tích của mình, dù nhỏ, là kết quả của sự nỗ lực nhất định thì chúng cũng dễ dàng chấp nhận và ủng hộ ưu thế của bạn bè GV cần khuyến khích trẻ vui cùng những thành công của bạn bè
c) Ưu nhược điểm của phương pháp nhìn lại quá trình
- Nhìn lại quá trình là một trong các kênh thông tin trong quá trình đánh giá năng lực học tập của học sinh
- Phương pháp này không những giúp trẻ có khả năng đánh giá kỹ năng và tiềm năng của riêng mình, mà còn sẵn sàng công nhận ưu thế của bạn bè
- Trẻ chỉ phát triển khi những khả năng của chúng được đánh giá một cách trung thực và được định hướng để phát huy hết tiềm năng
Trang 3737
- Tuy nhiên, để đảm bảo tính khách quan trong đánh giá cần có sự định hướng
của giáo viên dựa trên các tiêu chí đánh giá mà giáo viên cùng học sinh đã thống nhất
xây dựng và thực hiện
d) Các bước thực hiện phương pháp ”Nhìn lại quá trình”
- Tạm ngừng và suy ngẫm: Học sinh đánh giá mức độ đạt được của bản thân bằng
cách tạm ngừng hoạt động và suy ngẫm về những gì mình đã và đang học được
- Kết nối với các tiêu chí cần đánh giá và xác nhận những gì đã học được, đạt
được; những gì chưa đạt: Ví dụ yêu cầu HS ghi những đánh giá của mình vào bảng sau:
- Kể ra những khó khăn gặp phải và cách khắc phục những khó khăn đó Ví dụ
yêu cầu HS ghi vào phiếu tự đánh giá sau:
Họ và tên:
1 Những năng lực đã có:
2 Những khó khăn gặp phải khi thực hiện:
3 Cách khắc phục khó khăn:
1.3.2.5 Trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động được thực hiện để đo lường năng
lực của các đối tượng nào đó nhằm những mục đích xác định
Trong giáo dục, trắc nghiệm được tiến hành thường xuyên ở các kì thi, kiểm tra
để đánh giá kết quả học tập đối với một phần của môn học, toàn bộ môn học, đối với cả
một cấp học, hoặc để tuyển chọn một số người có năng lực nhất vào một khoá học
Trang 3838
Người ta có thể phân chia các phương pháp trắc nghiệm ra làm ba loại: Quan sát, Vấn đáp, và Viết
+ Loại Quan sát: Giúp xác định những thái độ, những phản ứng vô thức, những
kỹ năng thực hành và một số kỹ năng về nhận thức, chẳng hạn cách giải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu
+ Loại Vấn đáp: Có tác dụng tốt khi nêu lên các câu hỏi phát sinh trong một tình huống cần kiểm tra Trắc nghiệm vấn đáp thường được dùng khi tương tác giữa người chấm
và người học là quan trọng, chẳng hạn cần xác định thái độ phản ứng khi phỏng vấn,…
+ Loại Viết: Thường được sử dụng nhiều nhất vì nó có những ưu điểm sau: Cho phép kiểm tra cùng lúc nhiều học sinh
Cho phép học sinh cân nhắc nhiều hơn khi trả lời
Đánh giá được một vài loại tư duy ở mức độ cao
Cung cấp các bản ghi rõ ràng các câu trả lời của học sinh để dùng khi chấm
Dễ quản lý hơn vì bản thân người chấm không tham gia vào bối cảnh kiểm tra Trắc nghiệm viết thường được chia thành hai nhóm: Trắc nghiệm tự luận (Essay)
và trắc nghiệm khách quan (Objective test)
Một trong những hướng đổi mới đánh giá kết quả học tập ở Việt Nam hiện nay là kết hợp trắc nghiệm tự luận với trắc nghiệm khách quan Về công dụng và cách soạn thảo
các câu hỏi tự luận giáo viên đều biết rõ nên ở đây chỉ giới thiệu về trắc nghiệm khách quan
a) Đánh giá trắc nghiệm khách quan
Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi
Gọi là khách quan vì cách cho điểm (đánh giá) hoàn toàn không phụ thuộc vào người chấm
Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan
- Câu đúng sai
Trước một câu dẫn xác định (thông thường không phải là câu hỏi) học sinh chọn một trong hai cách trả lời (Đ) hay (S)
Ví dụ: HV tự soạn theo bộ môn của mình
Khi soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan loại này cần lưu ý:
Trang 3939
+ Chọn câu dẫn nào mà học sinh trung bình khó nhận ra ngay là đúng hay sai + Không nên trích nguyên văn những câu trong sách giáo khoa
+ Cần đảm bảo tính (Đ) hay (S) của câu là chắc chắn
+ Mỗi câu trắc nghiệm khách quan chỉ nên diễn tả một ý độc nhất, tránh bao gồm nhiều chi tiết
+ Trách dùng những cụm từ mang tính giá trị, như: “tất cả”, “không bao giờ”,
“không một ai”, “thường”, “đôi khi”…Những cụm từ này có thể giúp học sinh dễ dàng nhận ra câu đúng hay sai
+ Trong một bài trắc nghiệm không nên bố trí số câu đúng bằng số câu sai, không nên sắp đặt các câu đúng theo một trật tự có chu kỳ
Câu nhiều lựa chọn:
Ví dụ: giáo viên tự soạn theo bộ môn của mình
Câu hỏi nhiều lựa chọn gồm hai phần:
+ Phần thứ nhất (gọi là phần dẫn) là một câu hỏi hay một câu chưa hoàn tất nêu mục đích đòi hỏi người làm lựa chọn câu trả lời
+ Phần thứ hai (gọi là phần lựa chọn hay các phương án lựa chọn, thường là từ 4 – 5 phương án) gồm một lựa chọn đúng (gọi là đáp án) và các lựa chọn sai (gọi là câu nhiễu, câu bẫy)
Loại câu hỏi này rất thông dụng, có khả năng áp dụng rộng rãi và phân loại học sinh nhiều nhất Tuy nhiên loại này tương đối khó soạn vì mỗi câu hỏi phải kèm theo một số câu trả lời, tất cả đều hấp dẫn nhưng chỉ có một đáp án
Khi soạn loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan này cần tránh:
+ Câu bỏ lửng không đặt ra vấn đề hay một câu hỏi rõ rệt làm cơ sở cho sự lựa chọn
+ Những câu nhiễu đưa ra không phải tùy tiện Giáo viên phải dự đoán các hướng sai lầm của học sinh có thể mắc phải khi giải bài toán đó để đưa ra những lựa chọn nhiễu
+ Câu trắc nghiệm khách quan có hai lựa chọn đúng (hoặc không có lựa chọn nào đúng)
+ Phần gốc quá rườm rà, gồm nhiều chi tiết không cần thiết
+ Khi soạn thảo những câu hỏi nhiều lựa chọn, tránh vô tình tiết lộ câu trả lời qua lối hành văn, dùng từ, cách sắp đặt,…
Trang 4040
Câu ghép đôi:
Câu hỏi dạng này thường gồm hai cột thông tin, mỗi cột có nhiều dòng Học sinh phải chọn ra những kết hợp hợp lí giữa một dòng của cột này với một hay những dòng thích hợp của cột bên kia
Dạng này thích hợp cho việc kiểm tra lí thuyết
Ví dụ: HV tự soạn theo bộ môn của mình
Khi biên soạn loại câu hỏi này cần lưu ý:
+ Dãy cột thông tin đưa ra không nên quá dài, nên thuộc cùng một loại, có liên quan với nhau Học sinh có thể nhầm lẫn
+ Cột câu hỏi và cột câu trả lời không nên bằng nhau, nên có những câu trả lời
dư ra để tăng sự cân nhắc khi lựa chọn
+ Thứ tự câu trả lời không nên ăn khớp với thứ tự các câu hỏi để gây thêm khó khăn cho sự lựa chọn
Câu điền khuyết
Những câu hỏi dạng này có chứa những chỗ trống để học sinh điền những cụm
từ thích hợp vào những chỗ đó Những cụm từ này hoặc do học sinh tự nghĩ ra hay nhớ
ra, hoặc được cho sẵn trong những phương án có nhiều lựa chọn
Ví dụ: giáo viên tự soạn theo bộ môn của mình
Khi soạn câu hỏi dạng này cần lưu ý:
+ Câu hỏi phải ngắn gọn để chỉ trả lời bằng một số, một từ hay một câu ngắn; tránh lập câu quá dài, ý tứ rườm rà
+ Tránh lập câu hỏi mà đáp án có thể trả lời bằng nhiều cách
+ Câu hỏi phải rõ ràng, chính xác, không bàn cãi được
Như vậy, với các loại câu hỏi TNKQ, giáo viên phải hiểu rõ đặc điểm, công dụng của mỗi loại để lựa chọn loại nào thích hợp với mục tiêu khảo sát hoặc mục tiêu dạy học Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan trên đây đều được sử dụng có hiệu quả trong giờ lên lớp Tuy nhiên hiện nay, trong các đề bài kiểm tra 1 tiết, học kì, cuối năm (trong đánh giá tổng kết) người ta thường dùng các câu hỏi nhiều lựa chọn, vì:
+ Khả năng phân biệt học sinh cao
+ Đánh giá được kiến thức của học sinh trên một diện rộng; hạn chế được khả năng học tủ, học lệch, học vẹt của học sinh