Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đền Đô – Đình Bảng MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG CHƯƠNG I NHỮNG CĂN CỨ VÀ SỰ CẦN THIẾT LẬP QUY HOẠCH DU LỊCH 1 1 Sự cần thiết lập quy hoạch 1 2 Mục tiêu và nhiệm vụ 1 2 1 Mục tiêu 1 2 2 Nhiệm vụ 1 3 Căn cứ lập quy hoạch CHƯƠNG II ĐIỀU KIỆN, NGUỒN LỰC VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH 2 1 Điều kiện và nguồn lực phát triển du lịch 2 1 1 Điều kiện phát triển du lịch 2 1 1 1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 2 1 2 Nguồn lực phát triển du lị.
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
CHƯƠNG I NHỮNG CĂN CỨ VÀ SỰ CẦN THIẾT LẬP QUY HOẠCH DU LỊCH
1.1 Sự cần thiết lập quy hoạch
1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ
1.2.1 Mục tiêu
1.2.2 Nhiệm vụ
1.3 Căn cứ lập quy hoạch
CHƯƠNG II ĐIỀU KIỆN, NGUỒN LỰC VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
2.1 Điều kiện và nguồn lực phát triển du lịch
2.1.1 Điều kiện phát triển du lịch
2.1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
2.1.2 Nguồn lực phát triển du lịch
2.1.2.1 Tài nguyên du lịch nhân văn
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.5 Đặc điểm địa lí Đình Bảng
2.1.5.1 Lành thổ và dân cư
2.1.5.2 Qúa trình thành lập làng xã ở Đình Bảng
2.1.5.3 Nơi phát tích vương triều Lý
2.1.6.2 Những hạn chế về nguồn lực
2.2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH CHUNG TỈNH BẮC NINH
2.2.1 Vị trí của du lịch Bắc Ninh
2.2.2 Hiện trạng hoạt động kinh doanh du lịch
2.2.2.1 Lượng khách du lịch
2.2.2.2 Mức chi tiêu và ngày lưu trú trung bình
2.2.2.3 Thu nhập và GDP du lịch
2.2.2.4 Giá trị gia tăng ngành du lịch (GDP du lịch)
Trang 22.2.3 Hiện trạng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
2.2.3.1 Hệ thống lưu trú
2.2.3.2 Hệ thống các dịch vụ khác (vui chơi giải trí, mua sắm, v.v
2.2.4.Hiện trạng lao động và việc làm trong lĩnh vực du lịch
2.2.5 Hiện trạng đầu tư phát triển khu, điểm du lịch
2.2.6 Các dự án đầu tư khác liên quan đến du lịch
2.2.7 Hiện trạng đầu tư tuyên truyền - Quảng bá
2.3 Đánh giá chung hiện trạng phát triển du lịch
2.3.1 Ưu điểm
2.3.2 Tồn tại, hạn chế
CHƯƠNG III QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH BẮC NINH NÓI CHUNG VÀ QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH ĐỀN ĐÔ – ĐÌNH BẢNG NÓI RIÊNG ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
3.1 Các yếu tố tác động đến phát triển du lịch Bắc Ninh nói chung và Đình Bảng nói riêng 3.1.1Các yếu tố khách quan
3.1.2 Các yếu tố chủ quan
3.2 Những điểm mạnh - điểm yếu và cơ hội - thách thức đối với phát triển du lịch Bắc Ninh nói chung và Đình Bảng nói riêng
3.2.1 Điểm mạnh
3.2.1 Điểm yếu:
3.2.3 Cơ hội
3.2.4 Thách thức
3.3.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển
3.3 Quy hoạch phát triển du lịch đền Đô – Đình Bảng đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030
3.3.3 Dự báo các chỉ tiêu phát triển đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030
3.3.3.1 Luận chứng về các phương án phát triển
3.3.3.2 Dự báo khách du lịch
3.3.3.3 Dự báo chi tiêu khách du lịch và thu nhập ngành du lịch:
3.3.3.4 GDP du lịch và nhu cầu vốn đầu tư
3.3.3.5 Nhu cầu cơ sở lưu trú
Trang 33.3.3.6 Nhu cầu lao động
3.4 Quy hoạch phát triển ngành đến năm 2020 định hướng đến năm 2030
3.4.1 Phát triển sản phẩm – thị trường du lịch
3.5.1 Chiến lược xúc tiến quảng bá du lịch:
3.5.2 Chiến lược đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch
3.6 Tổ chức quản lý phát triển du lịch
3.6.1Tổ chức lãnh thổ du lịch
3.6.1.1 Các không gian du lịch
3.6.1.2 Các trọng điểm phát triển du lịch
3.6.1.3 Các điểm du lịch chính
3.6.1.4 Các tuyến du lịch
3.7 Đầu tư phát triển du lịch
3.7.1 Định hướng chung về đầu tư phát triển du lịch Bắc Ninh
3.7.2 Danh mục và phân kỳ các dự án ưu tiên đầu tư
3.8 Những vấn đề về môi trường trong phát triển du lịch
3.8.1 Tác động của môi trường đến phát triển du lịch
3.8.2 Những tác động của du lịch đến môi trường
3.8.3 Áp lực môi trường từ hoạt động du lịch:
3.8.4 Hiện trạng môi trường và ảnh hưởng từ hoạt động du lịch
3.9Các biện pháp giảm thiểu tác động của du lịch đến môi trường
3.9.1 Kiện toàn về tổ chức và cơ chế quản lý:
3.9.2 Bổ sung và hoàn thiện dần từng bước các cơ chế chính sách
3.9.3 Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ
3.9.4 Đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá du lịch
3.9.5 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực
3.9.6 Tăng cường hợp tác liên ngành và quốc tế
4.4 Các di tích lịch sử văn hóa có liên quan đến quê hương nhà Lý ở Bắc Ninh 4.5 Xây dựng các sản phẩm du lịch độc đáo
4.5 TỔ CHỨC TRIỂN KHAI
4.5.1 Công bố quy hoạch:
Trang 44.5.2 Triển khai quy hoạch:
CHƯƠNG V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
5 Các kết luận cơ bản
5.1 Về hiện trạng phát triển du lịch của tỉnh:
5.2 Về tiềm năng, nguồn lực phát triển du lịch
5.3.Những vấn đề bảo tồn, quản lý, khai thác và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa nhà Lý gắn với hoạt động du lich
5.4 Nhiệm vụ xây dựng các tour, tuyến du lịch, các sản phẩm du lịch tại điểm di tích, lịch sử văn hóa
5.5 Về quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Bắc Ninh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
5.5.1 Đối với Chính phủ và các cơ quan Trung ương:
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Phân bố di tích được công nhận cấp quốc gia và địa phương 15
Bảng 2 Lượng khách du lịch đến du lịch Bắc Ninh giai đoạn 2001 - 2010 35
Bảng 3 Khách du lịch quốc tế đến Bắc Ninh (Giai đoạn 2001- 2010) 36
Bảng 4 Cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế đến Bắc Ninh 36
Bảng 5 Cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế đến Bắc Ninh 37
Bảng 6 Khách du lịch nội địa đến Bắc Ninh (Giai đoạn 2001 – 2010) 37
Bảng 7 Cơ cấu thị trường khách du lịch nội địa đến Bắc Ninh 38
Bảng 8 Hiện trạng thu nhập từ du lịch của tỉnh Bắc Ninh (Giai đoạn 2001 - 2010) 39 Bảng 9 Cơ cấu GDP theo các ngành kinh tế của Bắc Ninh (Giai đoạn 2001 - 2010) 39
Bảng 10 Số lượng cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Bắc Ninh (2001 - 2010) 41
Bảng 11 Sự phân bố các cơ sở lưu trú ở Bắc Ninh (đến 31/12/2010) 41
Bảng 12 Phân loại cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Bắc Ninh 42
Bảng 13 Lao động trong ngành du lịch tỉnh Bắc Ninh (2001 - 2010) 43
Bảng 14 Tổng hợp kinh phí quảng bá du lịch (2001-2010) 40
Bảng 15 Dự báo khách du lịch đến Bắc Ninh 67
Bảng 16 Dự báo chi tiêu khách du lịch đến Bắc Ninh giai đoạn 2011 – 2030 69
Bảng 17 Dự báo thu nhập từ du lịch tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011 – 2020 70
Bảng 18 Dự báo chỉ tiêu GDP và vốn đầu tư cho du lịch tỉnh Bắc Ninh 71
Bảng 19 Dự báo các nguồn vốn đầu tư du lịch Bắc Ninh 73
Bảng 20 Dự báo nhu cầu khách sạn của Bắc Ninh……… 63
Bảng 21 Dự báo nhu cầu lao động trong du lịch của Bắc Ninh 75
Bảng 22 Danh mục và phân kỳ các dự án ưu tiên đầu tư phát triển du lịch Bắc Ninh giai đoạn 2011 – 2020, định hướng đến năm 2030……… 95
Trang 6Bảng 23 Tác động của hoạt động du lịch đối với phương thức tiêu dùng………….107
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1 Bản đồ tổng hợp tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch 27 Hình 2 Bản đồ vị trí Bắc Ninh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc 28 Hình 3 Bản đồ tổ chức không gian và tuyến, điểm du lịch 83
Trang 7CHƯƠNG I:
NHỮNG CĂN CỨ VÀ SỰ CẦN THIẾT LẬP QUY HOẠCH DU LỊCH
1.1 Sự cần thiết lập quy hoạch
Bắc Ninh là địa phương thuộc vùng châu thổ sông Hồng, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên và phía Tây giáp với Thủ đô Hà Nội Nằm trong vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ, Bắc Ninh
có vị trí địa lý thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế, trong đó có du lịch, với các tỉnh trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, đặc biệt là các trung tâm động lực của vùng là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, qua hệ thống tuyến giao thông quan trọng là quốc lộ 18, quốc lộ 5; và hệ thống sông Đuống, sông Cầu Trong mối liên kết với khu vực, Bắc Ninh nằm trên các trục hành lang kinh tế Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh
Là một tỉnh đồng bằng có diện tích không lớn với 822,7 km2 song với bề dày lịch sử phát triển và những đặc điểm về địa lý, Bắc Ninh có tiềm năng tài nguyên du lịch tương đối phong phú và đa dạng với nhiều cảnh quan đẹp đã đi vào thơ ca như sông Cầu, núi Thiên Thai, v.v hệ thống các di tích lịch sử văn hoá gắn với các giá trị tâm linh như đền Bà Chúa Kho, đền Đô, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, chùa Phật Tích, v.v.; các lễ hội truyền thống nổi tiếng như hội đền Bà Chúa Kho, hội Lim, v.v.; các làng nghề truyền thống như làng tranh Đông Hồ, làng nghề Đại Bái, v.v Đặc biệt Dân
ca Quan họ Bắc Ninh đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại
Với lợi thế về vị trí địa lý và tiềm năng du lịch, Bắc Ninh có nhiều điều kiện
để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa tâm linh, du lịch vui chơi giải trí, du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần và du lịch làng quê Được sự quan tâm của chính quyền và trên cơ sở Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Bắc Ninh giai đoạn đến năm 2010,
du lịch của Bắc Ninh bước đầu đã có được sự phát triển đáng ghi nhận theo đó lượng khách du lịch đến Bắc Ninh ngày một tăng Nếu như năm 2000 lượng khách chỉ đạt 30.200 lượt khách, thì năm 2010 Bắc Ninh đã đón được gần 196.500 ngàn lượt khách (không bao gồm khách du lịch đi lễ hội trong ngày); thu nhập du lịch đạt trên 125 tỷ đồng Đây là mức tăng trưởng khá cao sau khi tỉnh Bắc Ninh được tái lập Phát triển
du lịch bước đầu đã có đóng góp tích cực vào tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế của tỉnh; góp phần xoá đói giảm nghèo; tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động
Tuy nhiên trong quá trình phát triển theo những định hướng đã được xác định trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Bắc Ninh giai đoạn đến 2010, một số vấn
đề đặt ra cùng với những yếu tố mới nảy sinh đã có những tác động đến sự phát triển
du lịch bền vững ở Bắc Ninh Đó là vấn đề giữa phát triển du lịch với bảo tồn các giá
Trang 8trị văn hóa, môi trường sinh thái; vấn đề phát triển du lịch gắn với lợi ích cộng đồng; v.v cùng những yếu tố mới nảy sinh có ảnh hưởng đến phát triển du lịch như Luật
Du lịch có hiệu lực từ 01/01/2005; Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và hội nhập ngày một toàn diện hơn với khu vực và quốc tế; hệ thống hạ tầng liên vùng, đặc biệt vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, được nâng cấp; v.v Những vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển du lịch Bắc Ninh cùng những yếu tố mới nảy sinh trên đây và yêu cầu mới của chiến lược phát triển ngành du lịch đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 và chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội của Bắc Ninh trong thời kỳ đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 đối với phát triển du lịch Bắc Ninh đòi hỏi cần phải có quy hoạch mới về du lịch trên địa bàn tỉnh
Chính vì vậy đây là thời điểm thích hợp để xây dựng “Quy hoạch tổng thể phát triển
du lịch tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011- 2020 và định hướng đến năm 2030”
Và một trong những điểm du lịch tâm linh hấp dẫn cần được tiến hành quy
hoạch đó là khu di tích lịch sử đền Đô Do đó, chúng tôi chọn đề tài: Quy hoạch tổng thể khu di tích lịch sử văn hóa đền Đô-Đình Bảng
1.2 Mục tiêu và nhiệm vụ
1.2.1 Mục tiêu
Xây dựng quy hoạch ngành làm cơ sở cho hoạt động quản lý, lập các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đầu tư phát triển du lịch bền vững trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong bối cảnh phát triển mới, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương và Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn mới đến năm 2020 gắn liền với bối cảnh hội nhập của du lịch với khu vực và quốc tế Đồng thời cũng góp phần nâng cao ý thức của mọi người đối với những di tích lịch sử hiện có”Đền Đô”
1.2.2 Nhiệm vụ
Căn cứ vào mục tiêu, những nhiệm vụ chủ yếu của Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 bao gồm:
- Tổng quan, đánh giá các nhân tố, nguồn lực chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển
du lịch Bắc Ninh; xác định thế mạnh đặc thù của du lịch Bắc Ninh trong mối quan hệ phát triển du lịch vùng
- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh (có đối chiếu với những định hướng đã được xác định trong quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh giai đoạn đến năm 2010) xác định những vấn đề đặt ra đối với phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh thời gian qua, nguyên nhân của những tồn tại
- Phân tích bối cảnh phát triển mới của du lịch Bắc Ninh; những thuận lợi - khó khăn, cơ hội - thách thức của du lịch Bắc Ninh trong thời kỳ phát triển mới đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030
Trang 9- Xác định quan điểm và các mục tiêu phát triển của du lịch Bắc Ninh cho giai đoạn phát triển mới đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, phù hợp với chiến lược phát triển du lịch Việt Nam và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội địa phương cho giai đoạn trên
- Nghiên cứu các định hướng phát triển du lịch Bắc Ninh thời kỳ đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 và đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch
3 Nguyên tắc quy hoạch
- Phù hợp với chủ trương, chính sách phát triển du lịch; với Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011 - 2020;
- Phù hợp với Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030;
- Kế thừa có chọn lọc những kết quả của Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh thời kỳ đến năm 2010 và các quy hoạch chuyên ngành có liên quan;
- Phát triển du lịch bền vững gắn với bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, các giá trị sinh thái môi trường, tạo thêm việc làm và thu nhập cho cộng đồng; nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh du lịch, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương;
- Khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch tạo ra các sản phẩm du lịch đặc thù để nâng cao khả năng cạnh tranh của du lịch Bắc Ninh; chú trọng du lịch văn hóa tâm linh; du lịch vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng cuối tuần; và du lịch làng quê nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch, đặc biệt từ thị trường
du lịch Hà Nội;
- Phát triển du lịch Bắc Ninh không tách rời phát triển du lịch chung của khu vực, đặc biệt hoạt động du lịch của Trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận; hoạt động du lịch của hành lang du lịch Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; hoạt động du lịch của vùng đồng bằng sông Hồng và các địa phương trong địa bàn kinh tế trọng điểm phía Bắc;
- Góp phần bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn
1.3 Căn cứ lập quy hoạch
- Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI năm 2011;
Trang 10- Điều chỉnh Quy hoạch TTPT Du lịch Việt Nam trên quan điểm phát triển bền vững (tài liệu của UNWTO);
- Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể Phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020;
- Quy hoạch vùng Thủ đô đến năm 2020;
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVIII;
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020;
- Kết luận Hội nghị BCH Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh khóa XVIII Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XVII về phát triển thương mại, du lịch và xuất khẩu tỉnh Bắc Ninh đến năm 2015;
- Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Bắc Ninh đến năm 2010;
- Căn cứ vào thực tiễn và nhu cầu phát triển du lịch Việt Nam, vùng du lịch trọng điểm Bắc Bộ và tỉnh Bắc Ninh trong tình hình mới;
- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 7/9/2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt
và quản lý quy hoạch tổng thể kinh tế-xã hội;
- Thông tư số 01/2007/TT-BKH ngày 07/02/2007 của Bộ Kế hoạch và đầu tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 7/9/2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể kinh
tế xã hội;
- Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 7/9/2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội;
- Thông tư số 03/2008/TT-BKH ngày 01/7/2008 của Bộ Kế hoạch và đầu tư hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 7/9/2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội và Quyết định số 281/2007/QĐ-BKH ngày 26/3/2007 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành định mức chi phí cho lập, thẩm định quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch ngành và quy hoạch phát triển các sản phẩm chủ yếu
Các sản phẩm quy hoạch chủ yếu
- Báo cáo tổng hợp và báo cáo tóm tắt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030;
- Hệ thống các bản đồ: (1) Bản đồ vị trí tỉnh Bắc Ninh trong mối quan hệ với vùng và cả nước tỷ lệ 1/250.000 – 1/1.000.000; (2) Bản đồ hiện trạng tổng hợp
Trang 11du lịch tỉnh Bắc Ninh tỷ lệ 1/50.000 - 1/100.000; (3) Bản đồ định hướng tổ chức không gian du lịch tỉnh Bắc Ninh tỷ lệ 1/50.000 - 1/100.000
CHƯƠNG II
ĐIỀU KIỆN, NGUỒN LỰC VÀ HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH
2.1 Điều kiện và nguồn lực phát triển du lịch
2.1.1 Điều kiện phát triển du lịch
2.1.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý:
Bắc Ninh là tỉnh thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, nằm gọn trong vùng châu thổ sông Hồng, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Nam một phần giáp tỉnh Hưng Yên và một phần giáp Hà Nội, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương và phía Tây giáp Hà Nội Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, Bắc Ninh có nhiều điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội nói chung, cho phát triển du lịch nói riêng Các tuyến đường giao thông quan trọng chạy qua lãnh thổ của Tỉnh như Quốc lộ 1A, Quốc
lộ 18, tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn và các tuyến đường thuỷ dọc sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá và vận chuyển khách giữa Bắc Ninh với các địa phương trong vùng và với các địa phương trên cả nước
Vị trí gần Thủ đô Hà Nội – thành phố đông dân, kinh tế phát triển thứ hai trên
cả nước, đầu mối trung chuyển khách quốc tế lớn vào bậc nhất cả nước tạo cho Bắc Ninh cơ hội khai thác thị trường khách du lịch cả quốc tế và nội địa đầy tiềm năng này Quốc lộ 1A đoạn qua Bắc Ninh và Quốc lộ 18 là trục giao thông chính đưa khách
du lịch nội địa từ Hà Nội và các địa phương trên hầu khắp đất nước, đưa khách du lịch quốc tế qua đầu mối giao thông Hà Nội, nhất là cảng hàng không quốc tế Nội Bài đến với Vịnh Hạ Long - điểm du lịch nổi tiếng và quan trọng nhất của du lịch Việt Nam Đây là lợi thế quan trọng của Bắc Ninh về mặt vị trí Nếu khai thác tốt lợi thế này, có biện pháp phù hợp nhắm đến đối tượng khách này thì lợi ích mang lại cho du lịch Bắc Ninh cũng không nhỏ
Tuy nhiên, tiếp giáp Thủ đô Hà Nội ở vị trí quá gần trung tâm của thành phố này cũng mang lại những bất lợi cho Bắc Ninh trong quá trình phát triển du lịch ở giai đoạn gần khi cơ sở vật chất kỹ thuật và các sản phẩm du lịch Bắc Ninh chưa đủ sức hấp dẫn để khách du lịch ở lại với Bắc Ninh
Trang 12Việc khắc phục bất lợi này không dễ, trước mắt chỉ có thể giảm nhẹ tác động của yếu tố bất lợi này bằng cách đầu tư các dịch vụ vui chơi giải trí trên địa bàn tỉnh để kéo khách nội địa từ Hà Nội và các tỉnh lân cận đến Bắc Ninh, kèm theo đó là các cơ
sở dịch vụ ăn uống và cơ sở lưu trú chất lượng tốt nhưng không cần qui mô quá lớn để phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi giải trí cuối tuần của nhóm khách này
Nhìn chung, vị trí địa lý của Bắc Ninh có nhiều thuận lợi để phát triển du lịch trong tương lai xa nhưng trước mắt trong giai đoạn 5 năm tới yếu tố này còn có những bất lợi nhất định Trong đầu tư phát triển du lịch cần cân nhắc để có thể phát huy tối đa lợi thế, hạn chế ảnh hưởng của yếu tố bất lợi đến mức tối thiểu nhằm mang lại hiệu quả cao cho ngành du lịch của Tỉnh
b Địa hình:
Địa hình của tỉnh Bắc Ninh tương đối bằng phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy mặt đổ về sông Đuống và sông Thái Bình Mức độ chênh lệch địa hình không lớn, vùng đồng bằng thường có độ cao phổ biến từ 3 - 7m, địa hình đồi núi sót có độ cao phổ biến 40 - 50m so với mực nước biển Diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0,53%) so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh
Địa hình đồng bằng đã giúp hình thành nên những làng quê trù phú, thanh bình, đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ với những nét văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Địa hình này ở Bắc Ninh là nơi tập trung với mật độ dày đặc các di tích lịch sử văn hóa, các làng nghề truyền thống và các loại hình văn hóa dân gian đặc sắc, có giá trị hấp dẫn khách du lịch cả trong nước và quốc tế
Địa hình đồi núi ở Bắc Ninh mặc dù chiếm tỷ lệ nhỏ và không tạo nên được những cảnh quan đặc sắc nhưng cũng làm giảm sự đơn điệu của địa hình đồng bằng Bên cạnh đó, một số khu vực có địa hình này còn là nơi hình thành các di tích lịch sử
có giá trị như các chùa, đền mang ý nghĩa tâm linh quan trọng đối với người dân nơi đây Địa hình này có điều kiện thuận lợi để hình thành nên các khu vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng cuối tuần phục vụ khách du lịch nội địa từ Hà Nội và các tỉnh, thành lân cận
c Khí hậu:
Bắc Ninh thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh Nhiệt độ trung bình năm 23,3oC, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 28,9oC (tháng 7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,8oC (tháng 1) Sự chênh lệch nhiệt độ giữa tháng cao nhất và tháng thấp nhất là 13,1oC
Lượng mưa trung bình hàng năm dao động trong khoảng 1.400 - 1.600mm nhưng phân bố không đều trong năm Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chỉ chiếm 20% tổng lượng mưa trong năm
Trang 13Tổng số giờ nắng trong năm dao động từ 1.530 - 1.776 giờ, trong đó tháng có nhiều giờ nắng trong năm là tháng 7, tháng có ít giờ nắng là tháng 1
Trên địa bàn tỉnh có 2 hướng gió chính: gió Đông Bắc và gió Đông Nam Gió Đông Bắc thịnh hành từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau Trong mùa gió Đông Bắc thịnh hành, đầu mùa hanh khô, cuối mùa ẩm ướt với mưa phùn đặc trưng cho mùa xuân ở miền Bắc Việt Nam Gió Đông Nam thịnh hành từ tháng 4 đến tháng
9 mang theo hơi ẩm, gây mưa rào Thời gian gió Đông Nam thịnh hành cũng là thời gian thường có bão ở khu vực đồng bằng và ven biển Bắc Bộ nói chung, Bắc Ninh nói riêng, nhất là khoảng thời gian tháng 7 và tháng 8
Mặc dù không có những hiện tượng thời tiết đặc biệt, có giá trị hấp dẫn khách
du lịch, đóng vai trò như tài nguyên du lịch, nhưng khí hậu, thời tiết ở Bắc Ninh đã bổ trợ cho các yếu tố khác để làm nên nét hấp dẫn của Bắc Ninh đối với khách du lịch Điển hình là khí hậu 4 mùa tạo nên cảnh sắc làng quê thay đổi theo thời gian của năm:
mờ ảo trong mưa phùn nhưng náo nức không khí lễ hội vào mùa xuân; rộn ràng thu hoạch mùa màng trong mùa hạ; êm ả, thanh bình trong sắc màu không gian rõ nét của mùa thu và tĩnh lặng, trầm mặc trong mùa đông lạnh giá
Bên cạnh đó, điều kiện khí hậu của Bắc Ninh thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động du lịch Khoảng thời gian có bão và mùa mưa phùn có ảnh hưởng đến một
số hoạt động du lịch nhưng ảnh hưởng không lớn, vì tính khắc nghiệt của các hiện tượng thời tiết này đã giảm bớt rất nhiều ở vùng đồng bằng Bắc Bộ trong đó có Bắc Ninh
Sông Đuống có tổng chiều dài 65km, trong đó đoạn chảy qua địa phận tỉnh Bắc Ninh dài 42km
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh còn có một số con sông nhỏ chảy qua như sông Cà Lồ, sông Ngũ Huyện Khê, sông Cẩm Giàng, sông Dâu, sông Đông Côi và nhiều ngòi, lạch
Sông ngòi ở Bắc Ninh ngoài vai trò là nguồn cung cấp nước và tiêu úng cho sản xuất nông nghiệp còn là những tuyến giao thông thủy quan trọng của địa phương
và các tỉnh lân cận
Trang 14Bên cạnh đó, các sông này, đặc biệt là sông Thái Bình, sông Cầu và sông Đuống là những con sông chảy qua những làng mạc trù phú, có lịch sử phát triển lâu đời Hay nói cách khác, làng mạc, các khu quần cư của người Việt trên địa bàn Bắc Ninh đã hình thành dọc bờ các con sông này, cư dân nơi đây dựa vào sông và gắn
bó với sông không chỉ trong các hoạt động phát triển kinh tế mà còn trong đời sống tinh thần Các di tích lịch sử văn hóa có giá trị của Bắc Ninh hình thành cùng làng mạc dọc sông; các truyền thuyết dân gian, những làn điệu dân ca trữ tình hình thành nơi đây tất cả tạo nên một bức tranh sinh động về làng quê Việt, là nguồn tài nguyên
có giá trị khai thác hình thành các sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước như sản phẩm du lịch làng quê, sản phẩm du lịch sông nước
Có thể nói, hệ thống sông ngòi là nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên có giá trị nhất ở Bắc Ninh không chỉ vì giá trị bản thân hệ thống này với vai trò giao thông, với tiềm năng hình thành và khai thác các sản phẩm du lịch sông nước mà còn vì khả năng kết nối các giá trị văn hóa để tạo thành các sản phẩm du lịch tổng hợp cũng như tôn giá trị của các sản phẩm du lịch sông nước
Tài nguyên du lịch tự nhiên của Bắc Ninh không nhiều do đặc điểm tự nhiên của Tỉnh là địa hình đơn điệu, không có biển, không có rừng Các điều kiện tự nhiên ở đây có giá trị gắn kết với các giá trị văn hóa để tạo nên sức hấp dẫn riêng đối với du khách, ít có khả năng khai thác một cách độc lập để hình thành nên các sản phẩm du lịch riêng
Ngoài tài nguyên du lịch sông nước dựa vào hệ thống sông ngòi đã đề cập ở trên, trên địa bàn tỉnh có cụm đồi thấp thuộc huyện Gia Bình có điều kiện thuận lợi để đầu tư khu vui chơi giải trí, nghỉ cuối tuần
2.1.2 Nguồn lực phát triển du lịch
2.1.2.1 Tài nguyên du lịch nhân văn
Với đặc điểm nổi bật là một trong những địa phương mang đặc trưng của nền văn minh lúa nước vùng đồng bằng sông Hồng, Bắc Ninh có hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn rất đa dạng và phong phú Trong đó, có giá trị nhất về mặt văn hóa, lịch
sử và phát triển du lịch phải kể đến di sản văn hóa phi vật thể của thế giới ”Dân ca Quan họ Bắc Ninh” và hệ thống di tích lịch sử, văn hóa mà tiêu biểu là các đình, chùa
a Di sản văn hóa phi vật thể ”Dân ca Quan họ Bắc Ninh”
Dân ca Quan họ Bắc Ninh là những làn điệu dân ca của vùng đồng bằng Bắc Bộ - Việt Nam; nguồn gốc ở vùng văn hóa Bắc Ninh Loại hình dân ca này chủ yếu phát triển mạnh ở vùng ven sông Cầu Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất
về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam Mỗi một bài quan họ đều có giai điệu riêng Cho đến nay, đã có ít nhất 300 bài quan họ đã được ký âm Các bài quan
họ được giới thiệu mới chỉ là một phần trong kho tàng dân ca quan họ đã được khám phá Kho băng ghi âm hàng nghìn bài quan họ cổ do các nghệ nhân ở các làng quan họ
Trang 15hát hiện vẫn được lưu giữ tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang
Ngày 30 tháng 9 năm 2009, tại kỳ họp lần thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 28 tháng 9 tới ngày 02 tháng 10 năm 2009), Dân ca Quan họ Bắc Ninh cùng với Ca Trù được công nhận là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại và di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp sau Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên
b Di tích lịch sử văn hóa:
Toàn tỉnh có khoảng 1.259 điểm di tích Trong đó, tính đến 31/12/2010, có 428 điểm di tích lịch sử văn hoá đã được xếp hạng (gồm 191 di tích được công nhận là di tích cấp quốc gia và 237 di tích được công nhận di tích cấp địa phương)
Bảng 1: Phân bố di tích được công nhận cấp quốc gia và địa phương
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Tính đến 31/12/2010
TT Huyện, thị xã,
thành phố
Diện tích (km 2 )
Số được công nhận
Cấp di tích, mật độ
Quốc gia
Mật độ (di tích/km2)
Địa phương
Mật độ (di tích/km2)
Trang 16Nguồn: Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh
Trong tổng số 428 di tích được xếp hạng thì đình, chùa, đền là những loại hình chiếm số lượng đại đa số
Các di tích có giá trị tiêu biểu gồm:
1 Lăng và đền thờ Kinh Dương Vương - Huyện Thuận Thành (Nam Bang Thủy Tổ - Kinh Dương Vương là cha của Lạc Long Quân)
2 Lăng và đền Cao Lỗ Vương - Huyện Gia Bình - Được coi là vị Tổ Quân khí
3 Lăng Sỹ Nhiếp – Huyện Thuận Thành (Nam giao học tổ)
4 Lăng họ Đặng – Huyện Lương Tài (Kiến trúc nghệ thuật đặc sắc bằng đá)
5 Đền Lý Bát Đế - Thị xã Từ Sơn (Thờ tám vị vua triều Lý)
6 Đền Vua Bà – Thành phố Bắc Ninh (Thờ thuỷ tổ Quan Họ)
7 Đền Bà Chúa Kho - Thành phố Bắc Ninh
8 Đền thờ Lê Văn Thịnh - Huyện Gia Bình (thủ khoa về khoa cử đầu tiên của Việt Nam)
9 Đền Huyền Quang - Huyện Gia Bình
10 Đền Bà Tấm - Thành phố Bắc Ninh
11 Chùa Phật Tích - Huyện Tiên Du (Gắn với trung tâm Phật giáo Việt Nam)
12 Chùa Bút Tháp - Huyện Thuận Thành (kiến trúc nghệ thuật độc đáo)
13 Chùa Tiêu – Thị xã Từ Sơn (nơi trụ trì của thiền sư Lý Vạn Hạnh, thời nhà Lý)
14 Chùa Dâu - Huyện Thuận Thành (Ngôi chùa cổ nhất Việt Nam)
15 Chùa Dạm - TP Bắc Ninh (Ngôi chùa cổ nơi có biểu tượng Linga độc đáo)
16 Chùa Bách Môn - Huyện Tiên Du
17 Chùa Tổ - Huyện Thuận Thành (Huyền tích của một vùng Tứ Pháp)
18 Chùa Khai Nghiêm - Huyện Yên Phong
19 Văn Miếu Bắc Ninh - (Nơi lưu giữ giá trị truyền thống khoa bảng vùng Kinh Bắc)
20 Đình Diềm - TP Bắc Ninh (Ngôi đình có giá trị nghệ thuật kiến trúc gỗ và bức cửa võng độc đáo)
21 Đình Đông Khang - Huyện Yên Phong
22 Đình làng Đình Bảng - TX.Từ Sơn (Ngôi đình có nghệ thuật kiến trúc gỗ qui
mô lớn, độc đáo, hiện nay đình còn gìn giữ được gần như nguyên vẹn)
23 Thành cổ Luy Lâu - Huyện Thuận Thành
24 Thành cổ Bắc Ninh - Thành phố Bắc Ninh (là thành cổ đầu tiên của Việt Nam được xây dựng theo đồ án hình lục giác)
25 Bến Bình Than - Huyện Gia Bình
26 Bến Như Nguyệt - Huyện Yên Phong (Gắn liền với sự kiện lịch sử chiến thắng quâm xâm lược Tống năm 1077)
Trang 1727 Khu di tích đồng chí Nguyễn Văn Cừ - (Khu lưu niệm đồng chí cố Tổng Bí thư
Nguyễn Văn Cừ, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh)
28 Khu di tích đồng chí Ngô Gia Tự - (Khu lưu niệm đồng chí cố Bí thư cấp uỷ lâm thời Đảng bộ Nam kỳ )
Tài nguyên du lịch nhân văn của Bắc Ninh có thể rút gọn và khái quát hóa ở bảy
“Tổ” của Việt Nam: Chùa Tổ - Nam Bang Thuỷ Tổ - Nam giao học Tổ - Thuỷ Tổ Quan Họ - Tổ Trúc lâm thiền sư - Tổ thủ khoa Đại Việt - Tổ quân khí
c Lễ hội truyền thống tiêu biểu
Lễ hội truyền thống là đối tượng du lịch văn hóa tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh Tính đến nay, trong số hơn 600 lễ hội lớn nhỏ trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có khoảng hơn 40 lễ hội quan trọng, được duy trì tổ chức hàng năm Trong đó có 10 lễ hội có ý nghĩa đặc biệt và có tầm ảnh hưởng lớn có thể kể đến bao gồm:
1 Lễ hội chùa Phật Tích - Huyện Tiên Du tổ chức vào ngày 04 tháng giêng
2 Lễ hội Lim (Thị trấn Lim - Huyện Tiên Du) tổ chức vào 13 tháng giêng hàng năm, tổ chức thi hát dân ca Quan họ Bắc Ninh
3 Lễ hội đền Bà Chúa Kho (TP Bắc Ninh) tổ chức vào ngày 14 - 15 tháng giêng
4 Lễ hội Kinh Dương Vương - Huyện Thuận Thành tổ chức ngày 18 tháng giêng
5 Lễ hội Diềm - Viêm Xá, Thành phố Bắc Ninh tổ chức vào ngày 07/2 âm lịch
6 Lễ hội làng Tam Tảo - Phú Lâm - Tiên Du, tổ chức vào ngày mồng 10 tháng 2 hàng năm, Kỷ niệm ngày sinh của ông bà Phụ Quốc Đại Vương Trần Quý và Minh Phúc Hoàng Thái Hậu Phương Dung Tưởng nhớ ơn hai vị tướng Đào Lại
Bộ người có công giúp Thục Phán An Dương Vương đánh Triệu Đà xâm lược
7 Lễ hội Đền Đô (Đình Bảng - Thị xã Từ Sơn) để kỷ niệm ngày đăng quang của vua Lý Thái Tổ ngày 15 tháng 3 năm Canh Tuất 1010 và tưởng niệm các vị vua nhà Lý
8 Lễ hội Thập Đình (của mười xã thuộc hai huyện Quế Võ và Gia Bình) tổ chức
từ ngày 5 đến ngày mồng 9 tháng 2 âm lịch để kỷ niệm trạng nguyên đầu tiên
của Việt Nam tức Thái sư Lê Văn Thịnh và Doãn Công (Cao Doãn Công)
9 Lễ hội Đền Cao Lỗ Vương tổ chức vào ngày 10 tháng 3 ở làng Tiểu Than (làng Dựng) xã Vạn Ninh và làng Đại Than (làng Lớ) ở xã Cao Đức, huyện Gia Bình
10 Lễ hội Chùa Dâu tổ chức vào ngày 08 tháng 4 hằng năm với ý nghĩa quan trọng
nhất của Hội Dâu là cầu cho mưa thuận gió hòa, ước vọng ngàn đời của cư dân
nông nghiệp
Nhiều di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, trong đó phần lớn là các đình, đền, là nơi thờ các vị danh nhân tiền bối có công với đất nước, với địa phương, các vị trạng nguyên khoa bảng đã làm rạng danh quê hương, đất nước, tạo
Trang 18dựng truyền thống học tập cho quê hương ngày nay Các lễ hội tổ chức tại các đền, đình này hàng năm cũng là dịp để tưởng nhớ và tôn vinh các vị danh nhân này Các đối tượng này nếu khai thác tốt sẽ trở thành những sản phẩm du lịch giáo dục lịch sử
và truyền thống hấp dẫn và có hiệu quả cao
Các danh nhân tiêu biểu được tưởng nhớ và thờ tự trên địa bàn Bắc Ninh phải
kể đến gồm:
1 Cao Lỗ Vương (Tướng chế nỏ thần thời An Dương Vương)
2 Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ - Vua khai sáng triều đại nhà Lý)
3 Đàm Quốc Sư
4 Lê Văn Thịnh (Ông đỗ thủ khoa năm 1075 kỳ thi Minh kinh bác học thời Lý Nhân Tông - tức là thủ khoa về khoa cử đầu tiên của Việt Nam)
5 Thái úy Lý Thường Kiệt – (Thời nhà Lý)
6 Nguyên phi Ỷ Lan - (Thời nhà Lý)
7 Tam tổ thiền sư Huyền Quang
8 Nguyễn Đăng Đạo (Lưỡng quốc Trạng nguyên)
2 Nguyễn Quán Quang (1246)
3 Nguyễn Nghiêu Tư (1448)
4 Vũ Kiệt (1472)
5 Nguyễn Quang Bật (1484)
6 Nguyễn Giản Thanh (1508)
7 Ngô Miễn Thiệu (1518)
Trang 19d Các làng nghề thủ công truyền thống:
Bắc Ninh từ xưa đã nổi tiếng là nơi có nhiều nghề thủ công với hơn 60 làng nghề khác nhau như làng nghề làm tranh, làm giấy, rèn, đúc đồng, khảm trai, chạm khắc, dệt, sơn mài Các nghề này không những làm giàu cho người dân Kinh Bắc mà còn góp phần quan trọng hình thành nên hình ảnh của những người ”con gái Kinh Bắc” mà khi nhắc đến là người ta hình dung ra những người con gái xinh đẹp, đảm đang, tháo vát, khéo léo và hát hay
Nhiều nghề truyền thống ở Bắc Ninh hiện nay đã mai một do ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, xã hội, một số nghề còn tồn tại nhưng qui mô nhỏ, chỉ góp phần cải thiện kinh tế gia đình Làng nghề thủ công truyền thống là một trong những địa điểm thu hút khách du lịch nhưng không phải làng nghề nào cũng có thể tổ chức đưa khách đến Nhiều nghề nếu được gìn giữ, khôi phục sẽ góp phần phát triển kinh tế của cả làng, xã và một số nghề còn có khả năng khai thác để phục vụ nhu cầu hiểu biết, tham quan của khách du lịch như nghề khảm trai, sơn mài, làm tranh, mây tre đan, dệt, gỗ
mỹ nghệ, đồ đồng mỹ nghệ
Trên thực tế, những nghề có thể khai thác phục vụ khách du lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh không còn làng nghề mà chỉ còn một đến vài gia đình giữ được nghề
Vì vậy rất khó khăn để xây dựng các sản phẩm du lịch phục vụ khách Hiện nay, một
số gia đình còn giữ được nghề truyền thống như nghề làm tranh ở Đông Hồ, nghề làm gốm ở Phù Lãng, mặc dù qui mô nhỏ nhưng do tính chất độc đáo của nghề và sản phẩm nên vẫn tạo dựng được thương hiệu đối với khách du lịch Nếu các nghề này được khôi phục thành làng như khởi thủy thì giá trị đối với du lịch sẽ rất lớn Công nghệ in tranh bằng bản khắc gỗ như tranh Đông Hồ chỉ còn một loại tranh Hàng Trống – Hà Nội nhưng mẫu mã và phương thức, nguyên liệu khác biệt nên về cơ bản, làng tranh Đông Hồ không có sự trùng lặp về sản phẩm Nghề làm gốm ở Phù Lãng có khó khăn hơn do có nét tương đồng về sản phẩm với làng gốm Bát Tràng ở Hà Nội và làng gốm Đông Triều ở Quảng Ninh, thêm vào đó, 3 làng gốm này đều nằm trên hoặc gần trục đường quan trọng đón khách du lịch nên có sự cạnh tranh trong khai thác phục vụ du lịch Tuy nhiên, nếu có định hướng rõ ràng để phát huy những nét độc đáo, khác biệt của sản phẩm gốm thì sẽ tiếp tục khẳng định tên tuổi trong lĩnh vực du lịch
và mang lại hiệu quả cao cho người làm nghề
Nhìn chung, tài nguyên du lịch của Bắc Ninh khá phong phú và có giá trị, đặc biệt là tài nguyên du lịch nhân văn với 7 nét đặc trưng văn hóa tiêu biểu là: quê hương của dân ca Quan họ - Di sản văn hóa thế giới; văn hóa tâm linh; lịch sử văn hiến; lễ hội; khoa bảng; làng nghề và kiến trúc Đây là những giá trị nền tảng cho du lịch Bắc Ninh phát triển
Trang 202.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
a Dân số và lao động:
Theo Niên giám thống kê Bắc Ninh 2010, dân số toàn tỉnh là 1.038.229 người chiếm 1,22% dân số toàn quốc So với năm 2005, dân số toàn tỉnh đã tăng 47.138 người, tốc độ tăng bình quân hàng năm 0,93% Do sự gia tăng về dân số đã góp phần phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh như tăng cường nguồn lao động, xây dựng các khu công nghiệp tập trung, khu công nghiệp vừa và nhỏ làm cho nền kinh tế của Bắc Ninh phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Nhiều trung tâm thị trấn, thị tứ được thành lập trở thành các trung tâm phát triển mang lại lợi ích thiết thực về kinh tế, văn hoá và xã hội cho tỉnh, quốc phòng an ninh ngày càng được củng cố
Mật độ dân số toàn tỉnh năm 2010 là 1.262 người/km2, cao hơn gấp 4,8 lần so với toàn quốc (mật độ dân số toàn quốc là 259 người/km2) nhưng lại phân bố không đồng đều Dân số chủ yếu tập trung ở các thị xã, thị trấn, ven các trục giao thông chính, các vùng nông thôn mật độ dân số thưa hơn trong đó huyện Quế Võ có mật độ dân số thấp nhất
Tổng số lao động xã hội toàn tỉnh khoảng 652.302 nghìn người, chiếm 62,8% tổng dân số, trong đó lao động làm việc trong các ngành kinh tế 593.143 người, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 2,89% Nhìn chung, chất lượng lao động chưa cao, tỷ
lệ công nhân lành nghề, cán bộ kỹ thuật còn ít, mức sống dân cư còn thấp, số hộ nghèo còn chiếm tỷ lệ 7,27% Mặc dù tỷ lệ lao động qua đào tạo trên địa bàn tỉnh đạt 38,5% nhưng tỷ lệ lao động ngành du lịch qua đào tạo còn thấp hơn nhiều Chất lượng lao động thấp dẫn đến tình trạng chất lượng dịch vụ phục vụ khách du lịch chưa cao, thiếu chuyên nghiệp Đây là vấn đề tồn tại khá lớn đối với Du lịch tỉnh Bắc Ninh Thời gian tới, song song với việc đầu tư phát triển các sản phẩm du lịch trên địa bàn tỉnh, việc đầu tư đào tạo, đào tạo lại đội ngũ lao động trong ngành du lịch Bắc Ninh là hết sức cần thiết để đảm bảo đồng bộ về dịch vụ, nâng cao tính chuyên nghiệp trong phát triển du lịch của tỉnh
b Thực trạng và xu thế phát triển đô thị:
Cùng với sự phát triển nhanh của nền kinh tế, hệ thống các đô thị tỉnh Bắc Ninh cũng đã dần được hình thành và phát triển Hiện nay toàn tỉnh có 1 thành phố Bắc Ninh (đô thị loại III), 1 thị xã Từ Sơn và 6 thị trấn là Phố Mới (huyện Quế Võ), Lim (huyện Tiên Du), Chờ (huyện Yên Phong), Hồ (huyện Thuận Thành), Gia Bình (huyện Gia Bình) và Thứa (huyện Lương Tài) Những năm qua tốc độ đô thị hoá diễn
ra khá nhanh, đặc biệt là ở thành phố Bắc Ninh và Từ Sơn Ngày 09/4/2007 Thủ tướng Chính phủ đã ký nghị định số 60/2007/NĐ-CP về việc mở rộng địa giới hành chính Thành phố Bắc Ninh lên 8.028,19ha, dân số 150.331 người trên cơ sở sát nhập các xã Hòa Long, Vạn An, Khúc Xuyên, Phong Khê (huyện Yên Phong), Kim Chân, Vân Dương, Nam Sơn (huyện Quế Võ) và Khắc Niệm, Hạp Lĩnh (huyện Tiên Du) vào
Trang 21thành phố Bắc Ninh Bắc Ninh đã được định hướng phát triển trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2020 Thị trấn Từ Sơn cũng đã được nâng cấp thành thị xã, trong đó đất khu nội thị xã được mở rộng ra các xã: Đình Bảng, Đồng Nguyên, Tân Hồng, Đồng Quang và thị trấn Từ Sơn Ngoài ra, quá trình đô thị hoá đang diễn ra khá mạnh ở các khu vực đông dân cư, các khu công nghiệp tập trung, các khu vực ven đường QL 1A, QL 18, QL 38 Trong tương lai, việc phát triển mạng lưới thị trấn, thị
tứ vẫn tập trung chính ở các khu vực này
Việc bố trí đất đai cho các điểm dân cư này cần phải được chú trọng xem xét hợp lý, tạo điều kiện phát triển cho các đô thị mà vẫn đảm bảo được đất đai cho sản xuất nông nghiệp, bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh quan thiên nhiên, dành quỹ đất cho phát triển các dịch vụ công ích và phát triển các công trình phục vụ du lịch
Hệ thống hạ tầng kỹ thuật
a Giao thông:
Bắc Ninh là tỉnh có điều kiện giao thông tương đối thuận lợi Trong những năm gần đây, hệ thống giao thông của tỉnh phát triển mạnh, đặc biệt là hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy nội địa Hệ thống giao thông phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho thông thương và việc tiếp cận của khách du lịch từ các cảng biển, sân bay quốc
tế Nội Bài và các cửa khẩu đường bộ ở các tỉnh bạn
Đường bộ:
Bắc Ninh là tỉnh có hệ thống đường bộ thuận tiện cho việc vận chuyển, giao lưu kinh tế trong ngoài tỉnh Mạng lưới giao thông đường bộ toàn tỉnh hiện có 3.906,5km, mật độ đường 4,75km/km2 thuộc loại cao so với bình quân cả nước, trong đó:
Có 3 tuyến quốc gia gồm Quốc lộ 1 (AH1) đoạn qua Bắc Ninh dài 19 km, Quốc lộ 18 đoạn qua Bắc Ninh dài 26,2 km và Quốc lộ 38 đoạn qua Bắc Ninh dài 23
km và đường cao tốc Bắc Ninh – Nội Bài đoạn chạy qua Bắc Ninh dài 17 km, mật độ đường 4,75km/km2 Các tuyến quốc lộ qua Bắc Ninh là các tuyến quan trọng nối Thủ
đô Hà Nội với các tỉnh phía Bắc và Đông Bắc của đất nước Đặc biệt, tuyến giao thông Quốc lộ 1 và quốc lộ 18 có ý nghĩa rất quan trọng đối với phát triển kinh tế nói chung và du lịch nói riêng của tỉnh Bắc Ninh
- Có 12 tuyến đường tỉnh lộ gồm các tuyến TL 270, 271, 272, 280, 281, 282,
283, 284, 286, 291, 295 với tổng chiều dài khoảng 290 km
- Đường huyện lộ và đường nội thị có tổng chiều dài là 514km
- Đường trục xã có chiều dài 755km
- Đường thôn xóm có chiều dài 2.392km
Nhìn tổng thể, hệ thống giao thông của tỉnh Bắc Ninh có một số đặc điểm cơ bản sau:
Trang 22- Về mạng lưới: được hình thành từ nhiều năm trước đây nhưng cơ bản là khá hợp lý về quy hoạch mạng lưới chung, đảm bảo cho xe ô tô đi từ tỉnh đến các
xã, các thôn trong toàn tỉnh và liên hoàn với mạng lưới giao thông quốc gia Liên hệ với đường sắt và đường sông cũng có các tuyến đường bộ được nối với các cảng, ga và các bến bãi ven sông
- Về tình trạng kỹ thuật đường bộ: Trừ các tuyến quốc lộ, còn lại các tuyến đường địa phương nhìn chung chưa tốt, nền đường, mặt đường hẹp Tỉnh lộ chủ yếu mới đạt tiêu chuẩn đường cấp 5 đồng bằng (nền rộng 6,5m, mặt rộng 3,5m), còn các tuyến đường xã, đường trong thôn xóm chỉ đạt cấp B, cấp A nông thôn (nền rộng 4 – 5m, mặt rộng 3m) Hiện tại chỉ có các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ và một số tuyến đường huyện được trải nhựa, còn lại đa số vẫn là đường đất hoặc cấp phối các loại, tuy nhiên hầu hết các tuyến đường nội thôn, xóm hầu như đã được gạch hoá hoặc bê tông hoá Các tuyến đường nội khu công nghiệp đến nay cơ bản được xây dựng đảm bảo quy hoạch và tải trọng cao
Đường sông:
Bắc Ninh có 3 con sông lớn chảy qua là sông Cầu dài 70km, sông Đuống 42km
và sông Thái Bình 17km Cả 3 sông này đều có khả năng cho các phương tiện thuỷ có tải trọng 200 - 400 tấn đi qua, riêng sông Cầu còn 10km thượng nguồn vào mùa khô chỉ có khả năng cho thuyền 50 tấn đi qua
Trên mạng lưới đường sông của Bắc Ninh hiện tại có 3 cảng lớn là:
- Cảng Đáp Cầu (do cục đường sông quản lý) có bãi chứa 2ha, trước đây lượng hàng lưu thông qua là 200.000 tấn/năm, nay chỉ còn 100.000 tấn/năm chủ yếu là vật liệu xây dựng
- Cảng chuyên dùng nhà máy kính Đáp Cầu có công suất trên 30.000 tấn/năm
- Cảng chuyên dùng nhà máy kính nổi Quế Võ tại Đáp Cầu có công suất 35.000 tấn/năm
Ngoài 3 cảng này còn có nhiều bãi xếp dỡ vật liệu khai thác cát chưa được đầu
tư xây dựng như: Hồ, Đông Xuyên, Kênh Vàng hàng năm xếp dỡ một lượng hàng lớn chủ yếu là vật liệu xây dựng
Đường sắt:
Bắc Ninh có tuyến đường sắt Hà Nội - Lạng Sơn chạy qua dài gần 20km với 4 ga, chất lượng đường và ga đều đã xuống cấp, khả năng sử dụng khai thác hạn chế, các ga chủ yếu tiếp nhận một số hàng vật liệu xây dựng, phân bón và hàng tiêu dùng, lượng hành khách qua lại ngày càng có xu hướng giảm Hiện nay, Bắc Ninh đang xây dựng tuyến đường sắt Yên Viên – Hạ Long, đoạn qua Bắc Ninh dài 18km với 2 ga là Nam Sơn và Châu Cầu
Đường không:
Bắc Ninh không có cảng hàng không, nhưng cảng hàng không quốc tế Nội Bài của Hà Nội chỉ cách Tp.Bắc Ninh khoảng 40 km (tương đương khoảng cách đến trung
Trang 23tâm Tp.Hà Nội) về phía Tây và cách thị xã Từ Sơn 25 km với tuyến đường cao tốc Nội Bài – Bắc Ninh hiện đại và thuận lợi cho du khách đến Bắc Ninh bằng đường không
b Hệ thống điện:
Bắc Ninh có hệ thống lưới điện từ tỉnh về đến huyện, xã và từng thôn xóm được xây dựng đáp ứng nhu cầu điện sinh hoạt cho nhân dân trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, trước đây mạng lưới điện không đồng bộ, chất lượng kém, không đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội, trong đó có du lịch Thời gian qua, ngành điện của tỉnh
đã đầu tư 400 tỷ đồng để xây dựng cải tạo hệ thống điện Đến nay toàn tỉnh có 173,4km đường dây 110KV, 465,3km đường dây 35KV, 465,2km đường dây 6 - 10 - 22KV và 2.117km đường dây 0,8KV Nhìn chung hệ thống điện đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu về điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân
c Cấp nước:
Nguồn nước ngầm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trước đây khá phong phú với trữ lượng đạt hơn 235 ngàn mét khối một ngày đêm Bên cạnh đó, với mạng lưới sông ngòi dày đặc, Bắc Ninh có trữ lượng nước mặt lớn với hàm lượng khoáng chất đảm bảo khai thác cấp nước sinh hoạt Tuy nhiên thời gian gần đây do việc khai thác nước ngầm phục vụ công nghiệp và đô thị còn thiếu kiểm soát nên ảnh hưởng nhiều đến trữ lượng nước ngầm, đặc biệt vào mùa khô
Trên địa bàn tỉnh hiện nay có 7 nhà máy nước với tổng công suất 50.500m3/ngđ, cung cấp nước sạch đủ cho thành phố Bắc Ninh, một số cụm dân cư tại các thị trấn Phố Mới, thị xã Từ Sơn, thị trấn Lim, thị trấn Thứa và thị trấn Hồ Bên cạnh đó ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đã triển khai một số dự án cấp nước sinh hoạt tập trung, chủ yếu cho các khu vực dân cư nông thôn Các khu vực khác hiện tại vẫn dùng nước giếng khoan Vấn đề này cần được cải thiện để một mặt phục vụ nhu cầu nước sinh hoạt của người dân, nhu cầu nước sản xuất của các doanh nghiệp và mặt khác đảm bảo cho nhu cầu của khách du lịch
d Thoát nước:
Hiện nay trên địa bàn tỉnh chưa có nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt Tỉnh đang đầu tư xây dựng tuyến thu gom và nhà máy xử lý nước thải tại thành phố Bắc Ninh và thị xã Từ Sơn Các đô thị còn lại đang sử dụng hệ thống thoát nước chung với nước mưa, chủ yếu sử dụng hệ thống rãnh xây nắp đan, các cống này đều được xây dựng từ lâu nên đã hư hỏng nhiều, không đảm bảo thoát nước trong mùa mưa
e Hệ thống thông tin liên lạc:
Cùng chung đặc điểm như phần lớn các địa phương khác trên cả nước, Bắc Ninh có dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển mạnh, đảm bảo liên lạc thông suốt Không những thế, hệ thống thông tin liên lạc của tỉnh vẫn tiếp tục được hiện đại hóa, đã đầu tư thêm 1 tổng đài, 17 trạm truyền dẫn cáp quang đến tất cả các huyện,
Trang 24thị, 99 điểm bưu điện văn hóa xã và 149 điểm bưu điện văn hóa thôn, rút ngắn bán kính phục vụ xuống dưới 1km/điểm phục vụ, thấp hơn mức bình quân cả nước Bắc Ninh cũng là một trong những tỉnh đầu tiên trong cả nước xây dựng và đưa vào
sử dụng cổng giao tiếp điện tử, bán điện tử phục vụ cho công tác quản lý và hiện đại hóa dịch vụ thông tin
2.1.4 Hệ thống hạ tầng xã hội
a Giáo dục và đào tạo:
Theo Niên giám thống kê Bắc Ninh năm 2010, toàn tỉnh hiện có 6 trường đại học
và cao đẳng, 4 trung học chuyên nghiệp và dạy nghề; 136 trường học cơ sở, 37 trường trung học phổ thông; 150 trường tiểu học, 147 trường mẫu giáo Các trường dân lập và trung tâm giáo dục thường xuyên cũng được quan tâm đầu tư phát triển như trường Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, trung tâm giáo dục thị xã Từ Sơn, Tiên Du
Hiện nay, tỉnh Bắc Ninh đã quy hoạch 2 khu xây dựng các cơ sở đào tạo trong tỉnh và đã có 18 trường đại học đăng ký, sẽ nâng số trường đại học trong tỉnh lên hơn 20 trường Việc quy hoạch và xây dựng hệ thống các cơ sở đào tạo, đặc biệt là các trường đại học cao đẳng sẽ mở ra cơ hội rất lớn cho du lịch Bắc Ninh trong lĩnh vực phát triển
du lịch hội nghị, sự kiện và tham quan học tập
Trong những năm qua, cùng với sự đẩy mạnh phát triển kinh tế, sự nghiệp giáo dục, đào tạo được giữ vững và có nhiều tiến bộ rõ rệt, đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở xong năm 2002 Mạng lưới giáo dục ngày càng phát triển đa dạng, chất lượng giáo dục được nâng lên Hàng năm tỷ lệ học sinh tốt nghiệp tiểu học vào lớp 6 đạt 99,6%, tốt nghiệp trung học cơ sở vào lớp 10 đạt 85%, tốt nghiệp trung học phổ thông vào đại học và cao đẳng trên 30% Tỷ lệ học sinh đạt giải kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia tăng từ 30% năm 2000 lên 50% - 60% giai đoạn 2001 - 2005 Ngoài ra, các trường Đại học và dạy nghề trên địa bàn tỉnh hàng năm còn đào tạo được hàng ngàn cán bộ có trình độ đại học và công nhân lành nghề, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chiếm 23% Đội ngũ giáo viên các cấp được bảo đảm về số lượng, từng bước nâng lên
về chất lượng đáp ứng nhu cầu dạy và học trong giai đoạn hiện nay Nhiều địa phương
đã quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất trường học khang trang sạch đẹp, hầu hết các trường phổ thông đều được xây dựng cao tầng, kiên cố
b Mạng lưới y tế:
Tính đến nay, toàn tỉnh có 140 cơ sở y tế, trong đó có 13 bệnh viện, 126 trạm y tế với 2.340 giường bệnh (chưa bao gồm cơ sở tư nhân) Diện tích đất cơ sở y tế hiện có 58,79ha, bình quân 0,58m2/người Mạng lưới y tế cơ sở từ thôn đến các trạm y tế xã,
Trang 25bệnh viện huyện, tỉnh luôn được củng cố, đội ngũ y bác sỹ luôn được quan tâm nâng cao trình độ quản lý nghiệp vụ Thời gian qua tỉnh đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng cho hệ thống khám chữa bệnh trên địa bàn tỉnh, hầu hết các trạm y tế cấp cơ sở được kiên cố hóa từ năm 2005 Tích cực đẩy mạnh công tác vệ sinh phòng dịch, phòng chống suy dinh dưỡng, duy trì tiêm chủng mở rộng
c Văn hoá xã hội, thể dục thể thao:
Các hoạt động văn hoá thông tin và thể dục thể thao trong tỉnh đã có chuyển biến tích cực góp phần đáng kể vào việc nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân Hàng năm tỉnh vẫn duy trì được các hoạt động văn hoá và sinh hoạt tín ngưỡng thông qua sinh hoạt văn hoá quan họ, các lễ hội truyền thống đậm đà sắc thái văn hiến Kinh Bắc như lễ hội chùa Dâu, hội Lim, hội đền Đô hoạt động thể thao cho mọi người ngày càng phát triển, các cuộc thi đấu gắn liền với các lễ hội tạo nên không khí sôi nổi thi đua tập luyện, giao lưu đoàn kết, đẩy mạnh phong trào Các thiết chế văn hóa ở cơ
sở được tăng cường, phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư tiếp tục được đẩy mạnh Đến nay toàn tỉnh có 68% làng, khu phố đạt danh hiệu làng văn hoá, vượt 18% so với chỉ tiêu đề ra
Hoạt động thể thao quần chúng, phát triển mạnh mẽ ở các cơ quan đơn vị trên địa bàn, huyện tỉnh Hoạt động thể thao thành tích cao tính đến ngày 31/12/2010 đã có
144 vận động viên đạt huy chương từ cấp quốc gia trở lên, trong đó có 38 huy chương vàng, có 71 vận động viên đạt đẳng cấp quốc gia
Tuy nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động văn hoá thể thao còn thiếu, sân bãi, dụng cụ không đáp ứng được phong trào Trong 8 huyện thị có tới 6 huyện không có sân vận động trung tâm là Quế Võ, Yên Phong, Gia Bình, Lương Tài, Tiên Du và Từ Sơn Diện tích đất các cơ sở văn hóa và thể thao toàn tỉnh hiện có 290,77ha, bình quân 2,88m2/người
Trang 26Chiều dài từ ranh giới Hà Nội đên thị xã Từ Sơn: 2,500 km, chiều rộng từ giáp xã Ninh Hiệp tới xã Châu khê và Đồng Quang:2,3 km Đông Nam giáp Phù Chẩn: 1km Thiên nhiên ưu đãi cho mảnh đất này sông nước, đồng ruộng phì nhiêu tươi tốt, cảnh tró hữu tình
Từ ngàn năm xưa , nằm trong xứ Bắc được phù xa màu mỡ của sông Hồng va sông Đuống bồi đắp, Đình Bảng đứng trên ngã ba sông, giao lưu văn hóa thuận Nơi đây sông Tiêu tương phân nhánh, một nhánh chảy lên sông Ngũ Huyện, một nhánh chảy qua Tương Giang, Nội Duệ, cầu Lim
Đình Bảng có lợi thế nằm trong vùng địa linh, rất sầm uất của xứ Kinh bắc nổi tiếng
Trước cách mạng tháng tám 1945, Đình Bảng có diện tích tự nhiên trên 2000 mẫu
Ngày nay, diện tích tự nhiên của Đình Bảng là 825 ha,(trong đó diện tích canh tác là
606 ha, ruộng trũng ao hồ 100 ha) Theo điều tra dân số ngày 1-4-1999, Đình Bảng có 13.626 người với 3.432 hộ Phần lớn tập trung trên môt khu đất có chiều dài gần 1900 mét,rộng gần 800 m, nghề nghiệp chinhs là làm ruộng
2.1.5.2 Qúa trình thành lập làng xã ở Đình Bảng
Đất lành, chim đậu Trong quá trình hình thành làng xã, Đình Bảng là một trong nhưng điển hội tụ, sớm có người tới đây cư trú sinh sống Làng xốm cô lớn lên, người đông them, sống quây quần bên lũy tre xanh
Các kết quả khảo cổ đáng tin cậy thu được tại Đình Bảng do các nhà khoa học khảo cổ học khai quật ở khu di chỉ Đồng Gio thuộc bờ Nam sông Tiêu tương Hiện vật nhìn thấy rất phong phú, có niên đâị cách ngày nay chừng 2700-3000 năm Công cụ bằng đá cuội ghè đẽo thô sơ, mũi đá nhọn và rìu đá mài nhỏ, đồ trang sức bằng đá mài…gốm lưới đánh cá, gốm xe chỉ, gốm đựng và xe chỉ…rìu đồng lưỡi cuốc sắt, các lớp gio, trấu thóc, đặc biệt tìm thấy mộ tang người ngồi với nhiều công cụ
Buổi bình minh làng xóm nơi đây có miền nhiệt đới gió mùa, khí hậu ẩm ướt Đình Bảng có vùng đất cao(Cao Lâm), rừng rậm(rừng báng), sông ngòi, đồng bằng nhỏ hẹp xen giữa rừng cây báng và hồ đầm, hai bên bờ sông Tiêu tương.Thời đồ đồng, luyện kim, chế tác công cụ sản xuất và đồ dùng cần thiết
Trong khung cảnh thiên nhiên đó, người Đình Bảng cổ đã sống bằng nghề lúa nước, trồng dâu, nuôi tằm, chài lưới đánh cá, săn bắt chim muông, thú rừng…giao lưu buôn bán và trao đổi với những vùng xa
Trải theo chiều dài lịch sử, trong gần 1000 năm Bắc thuộc, Đình Bảng là một vùng tru phú, kinh tế phát triển, một bến sông, nằm trên trục đường giao thong bộ nối liền miền đồ núi Đông Bắc với miền đồng bằng phía Nam cho nên Đình Bảng là nơi hội tụ và đón nhận ảnh hưởng cả phương Bắc, phương Nam, Đông, Tây
Trang 27Từ xưa, người Đình Bảng đã bằng bàn tay và khối óc của mình lao động sáng tạo ra lịch sử Làng – nước thân thương, trong từng bước phát triển, lịch sử quê hương
đã gắn liền với lịch sử dân tộc Mỗi tên làng tên đất đều mang một dấu ấn lịch sử vẻ vang Để có được những thành tựu lớn hiện tại, người dân Đình Bảng không bao giờ quên rằng đó là nhờ công lao khai phá của tổ tiên, ông cha xưa để lại
Từ thời cổ, Đình Bảng có tên Nôm là kẻ Báng Thời Bắc thuộc Đình Bảng thuộc bộ Vũ Ninh và có tên là hương Diên Uẩn
Đến giữa thế kỉ VIII(thời Đường), Đình Bảng có tên là Hương Cổ Pháp
Thời nhà Đinh (968-980), Đình Bảng thuộc châu Cổ Lãm nằm trong đạo Bắc Giang
và sang tới nhà Tiền Lê(980-1009) thuộc Châu Cổ Pháp, đến mùa thu năm 1010 thuộc phủ thiên đức (do Lý Thái Tổ đổi châu Cổ Pháp là Phủ Thiên Đức)
Từ đầu thới Lý, phủ thiên đức đã nổi tiếng là đất thịnh vượng.Đống đô ở Thăng Long, nhà Lý càng có điều kiện để mở mang phủ Thiên Đức Diên Uẩn – Cổ Pháp từng là nơi phát triền Phật giáo với hệ thống chùa chiền, tăng ni vốn kinh tế phát triể, trù phú phục vụ cho việc tu hành của dân địa phương và khách thập phương hành hương tới, nay càng canh tân cho nhà nhà ấm no Ngoài nghề nông, hoạt động công thương nhôn nhịp Lúa tám thơm hạt nhỏ, dẻo cơm được chọ dâng vua Nếp cái hoa vàng đồ xôi cúng tế, làm bánh dẻo Trung thu nổi tiếng khắp vùng
Trong cơn “Minh Hỏa” đầu thế ki XV giặc Minh xâm lược nước ta, Đình Bảng
đã theo Lê Lợi kháng chiến, người già và trẻ em phiêu tán khắp nơi Giac tới chúng đốt cả làng Quê hương tiêu điều, ruộng đồng ngập cỏ… Sau 10 năm kháng chiến chống giặc Minh thắng lợi(1418-1428), Lê Lợi lên ngôi vua, lập triều Hậu Lê Chính quyền Lê Sơ đã tạo điều kiện cho nhân dân trở về quê cũ làm ăn, nhiều lãng xóm được hồi snnh và tạo lập Đình Bảng được sống lại trong thời kì đó và vươn lên mãnh mẽ trong những thế kỉ sau Lúc đó , 6 họ đứng đầu(Nguyễn, Trần, Lê, Ngô, Đỗ, Đặng) ở Đình Bảng chạy loạn sang Cẩm Giang đã giups Đình Bảng trong cuộc hồi cư, xây dựng lại làng Mối tình nghĩa kết chạ an hem, chạ anh Đình Bảng – Cẩm Giang được nay sinh từ đó
Thời Lê – Nguyễn, Đình Bảng thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc Khi đó làng gồm 9 thôn
Năm Minh Mệnh thứ 12(1831), Đình Bảng thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Để thuận tiện cho việc sản xuất nông nghiệp Đình Bảng lập thêm 4 nông khu
Năm 1955 phta triển thêm một số chùa Dận Từ năm 1977, do sự tăng dân số, Đình Bảng lập thôn mới Tân Lập ở giữa Bắc Ninh và Hà nội, nâng tổng số thôn trong toàn xã lên 15
Từ năm 1963 cho tới năm 1996, Đình Bảng huyện Từ Sơn, tỉnh Hà bắc
Trang 28Từ năm 1977 Đình Bảng thuộc huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Từ 1999 tới nay, Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn Tỉnh Bắc Ninh
HỆ THỐNG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TÊN GỌI LÀNG XÃ
Tên gọi từ giữa thế kỉ VIII (Thuộc Đường)
Hương Diên Uẩn
Tên gọi trong thời kì đầu Bắc thuộc
Kẻ Báng
Tên Nôm từ thời cổ tới nay
Người Đình Bảng khéo tay, hay làm tâm hồn nồng cháy, rộng mở yêu quê hương,giàu lòng nhân ái từ ông bà vẫn sống theo chân lí “phi nông bất ổn, phi nông bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng” Với những nghề truyền thống, nền kinh tế vững vàng, nếp sống văn hóa, đời sống văn hóa tinh thần phát triển, Đình Bảng là đặc trưng tiêu biểu của làng xã Việt Nam vừa mang đậm tính dân tộc vừa có vóc dáng của làng xã văn minh hiện đại
2.1.5.3 Nơi phát tích vương triều Lý
Trong cả vùng quê Kinh bắc – Bắc Ninh cổ qua nhiều thế kỉ, Đình Bảng từng
là vùng đất nổi bật nhất Trong nhiều dòng họ cư trú có dòng họ Lý Chính thiền sư Định Không thuộc dòng họ ấy, với uy thế dòng họ đã đổi hương Diên Uẩn thành hương Cổ Pháp
Trong các thế kỉ VIII-X, hương Cổ Pháp là một trung tâm Phật giáo với các thiền sư nổi tiếng: Đinh Không, thong thiền…Vạn Hạnh, Khánh Văn Đó là tri thức lớn của thời đại, đã tập hợp dưới ngọn cờ Phật giáo những người yêu nước và chuản
bị chắc chắn trong ý thức mọi người về một triều đại độc lập Trong đó Vạn hạnh là người trực tiếp nuôi dưỡng ý đồ mở mang đế vương, đã chu đáo và linh hoạt khai thác mọi khả năng của Phật giáo và văn hóa trong vùng, để sáng nghiệp nhà Lý vào thế kỉ
XI, cũng như thắp sáng không chỉ một thời kì văn hóa Thăng Long mf ca một thời kì sau đấy Đình Bảng là quê hương của Lý Thái Tổ , người khởi nghiệp triều Lý, khai sáng văn minh Đại Việt
Trang 29Lý Thái Tổ sinh ngày 12-2 năm Giap Tuất niên hiệu Thái Bình nhà Đinh năm thứ 5(8-3-974) tại chùa Cổ Pháp ban hương, mẹ là Phạm Thị
Thưở ấu thơ, Lý Công Uẩn được thiền sư Khánh Văn em trai của Vạn Hạnh, trụ trì chùa Cổ Pháp nuôi dạy Lý Công Uẩn từng làm tiểu ở chùa Quỳnh Lâm rồi chùa Kiến sơ ở Phù Đổng Đến tuổi thiếu niên được Vạn Hạnh đón vào chùa Thiên Tâm dạy dỗ , lo toan lên nghiệp lớn, Lý Công Uẩn sớm thể hiện tư chất thong minh của mình vẻ ngươi tuấn tú khác thường Lý Công Uẩn khẳng khái coa sức khỏe phi thường Lúc 20 tuổi ông vào kinh làm quan võ cầm quân trong triều Tiền Lê Khi vua
Lê Trung Tông bi em trai là Lê Long Đĩnh sai người lẻn vào cung giết chết để cướp
ngôi “bày tôi đều chạy trốn, chỉ duy có Điện Tiền chỉ huy sứ là Lý Công Uẩn ôm xác chết mà khóc”, uy đức của Lý Công Uẩn đến nỗi Long Đĩnh rất tàn bạo mà cũng phải
vì nể, khen là người trung cho làm Tướng quân, phó chỉ huy sứ rồi thăng lên chức Tả thân vệ Điện Tiền chỉ huy sứ
Khi Long Đĩnh qua đời, sử cũ ghi rằng chi hậu Đào Cam Lộc đã khuyên Lý Công Uẩn lên làm vua
Tuy vậy Lý Công Uẩn không tự giành ngôi vua Mãi đến khi triều thần danh sĩ họp lại suy tôn Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn lên chính điện lập làm thiên tử, lên ngôi hoàng đế đưa đến sự đổi mới triều đại Từ đây triều tiền Lê chấm
dứt, triều Lý được thành lập – nhân hòa, mở ra một kỉ nguyên mới của lịch sử nước
nhà,
Sau khi lên ngôi vua, Lý Công Uẩn đại xá cho muôn dân xóa bỏ tù ngục kiện tụng, cho phép hễ ai có việc tranh giành được đến tận triều đình mà tâu vua, nhà vua
sẽ đích thân ra phân sử nước nhà
Tháng 2 năm Canh Tuất nhà vua về thăm chùa Cổ Pháp, ban tiền lụa cho các bậc kì lão và đo mươi ruộng đất làm cấm địa thuộc sơn Lăng (thọ lăng Thiên Đức nơi yên nghỉ vĩnh hằng của vị vua triều Lý ngày nay)
Truyền rằng, trở lại Hoa Lư chọn ngày tốt lành Rằm tháng 3 năm Canh Tuất
-1010, chính ngọ đắc tâm linh, lúc mặt trời đỉnh đầu tròn bóng, Lý Công Uẩn cho rằng được thiên thời chính thức làm lễ đăng quang ngôi Thái Tổ, đặt niên hiệu Thuận Thiên Vì vậy ở quê người nhân dân địa phương – Đình Bảng hằng năm trọn ngày rằm tháng 3 âm lịch mở hội đền Đô cổ truyền để truyền kỉ niệm ngày Lý Công Uẩn đăng quang
Lý Công Uẩn đã nhận mệnh bằng sự nghiệp đổi mới sâu sắc Được nhân hòa đổi mới triều đại, được thiên thời ngay trong tâm thức, được địa lợi để dời đô mà đổi mới đất
nước, phát huy tình thần “khoan,giản,an,lạc” với lòng thương dân sáng láng
Hạ “Chiếu dời Đô” là Lý Công Uẩn thể hiện sự hiểu biết phong thủy, địa lý phong thủy, địa lý sâu sắc Cùng với việc đặt Kinh Đô mới Thăng Long hung khí phát
Trang 30triển mới trong lịch sử xây dựng đất nước “Rồng bay lên” cho cả đất nước tương xứng
như một “Tuyên ngôn đổi mới” là một sự đổi mới cả trong tư duy lẫn trong chính trị, kinh tế xã hội, đánh dấu một bước phát triền mới trong lịch sử xây dựng đất nước của dân tộc ta Muôn đời con cháu mỗi khi đọc “Chiếu dời Đô” của Lý Công Uẩn, càng ghi nhớ công ơn của người
“Vua lấy dân làm trời”, “dân lấy ăn làm gốc” Dân chúng no ấm thì thiên hạ thái bình Dời Đô để yên dân, yên nước Lý Công Uẩn đã tính kế cho muôn đời con cháu chúng ta hôm nay và mai sau
Triều đại nhà Lý (1009-1225), Quốc hiệu Đại Việt Kinh đô Thăng Long
Chín đời vua nhà Lý: Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông, Lý Chiêu Hoàng, là triều đại
mơ đầu cho sự nghiệp xây dựng nền tự chủ, phát triển toàn diện cường thịnh, thuần từ lâu dài cho dân tộc sau hơn 1000 năm sống trong cảnh thống trị của phong kiến phương Bắc
2.1.6 Đánh giá chung về nguồn lực phát triển du lịch
2.1.6.1 Những nguồn lực chính có lợi thế
Trên cơ sở những phân tích về vị trí, về các điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch và hạ tầng xã hội, hạ tầng cơ sở của tỉnh Bắc Ninh cho phát triển du lịch, có thể đưa ra một số nhận định cơ bản như sau:
a Tỉnh Bắc Ninh có điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch gồm:
Du lịch văn hóa phục vụ nhu cầu của khách du lịch quốc tế và cả khách du lịch nội địa với các hoạt động chủ yếu là tham dự lễ hội, tham quan các điểm mang tính chất tâm linh như đền, chùa, tìm hiểu lịch sử, văn hóa khoa bảng và giáo dục truyền thống đối với khách du lịch nội địa; Tìm hiểu tôn giáo, văn hóa quan họ, nghiên cứu các danh nhân và văn hóa khoa bảng, thưởng thức các làn điệu quan họ, tham quan các di tích lịch sử văn hóa, các công trình kiến trúc nghệ thuật trên địa bàn tỉnh đối với khách quốc tế Các di tích lịch sử văn hóa quan trọng cần khai thác phục vụ phát triển các loại hình du lịch văn hóa tiêu biểu bao gồm: chùa Phật Tích, đền Đô (đền Lý Bát Đế), đền thủy tổ quan họ làng Diềm, đền Bà Chúa Kho, Chùa Bút Tháp, Chùa Dâu, Lăng Kinh Dương Vương, đền Lê Văn Thịnh, đền thờ Huyền Quang, đền thờ Cao Lỗ Vương Để phát triển được loại hình này, cần phải có chính sách đầu tư, tôn tạo các
di tích lịch sử, nghiên cứu tổ chức các hoạt động dành cho khách du lịch phù hợp với từng đối tượng khách, từng đối tượng tham quan và từng thời điểm trong đó đặc biệt
Trang 31chú trọng khai thác kết hợp bảo tồn các giá trị của di sản văn hóa phi vật thể của thế giới ”Quan họ Bắc Ninh”
Vui chơi giải trí cuối tuần phục vụ thị trường khách nội địa với các hoạt động chính là tham gia các trò chơi cả hiện đại và dân gian, nghỉ ngơi thư giãn cuối tuần và kết hợp tham quan, mua sắm tại các trung tâm mua sắm Để có được loại hình này, tỉnh cần đầu tư xây dựng các khu vui chơi giải trí tổng hợp dựa trên nguồn lực hiện có
về giao thông, về quĩ đất Phù hợp nhất là hình thành khu vui chơi giải trí tại khu vực đồi thấp trên trục đường Quốc lộ 18 đi Hạ Long để vừa phát huy lợi thế địa hình cũng như lợi thế về hiện trạng cảnh quan, vừa khai thác được nguồn khách không chỉ từ Hà Nội mà còn từ Hải Dương và Quảng Ninh đến theo Quốc lộ 18 Ngoài ra cần đầu tư
bố trí các trung tâm mua sắm hoặc giới thiệu sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và nông sản của tỉnh gần khu vui chơi giải trí này để phục vụ nhu cầu mua sắm cuối tuần của người dân Hà Nội Đây là biện pháp để thu hút hai nhóm đối tượng: khách du lịch cuối tuần và khách đi mua sắm sử dụng cả hai loại dịch vụ, gia tăng lợi ích cho các nhà đầu tư
Du lịch làng quê phục vụ đối tượng khách du lịch quốc tế là chủ yếu Loại hình
du lịch này với các hoạt động chủ yếu là home-stay, đi xe đạp hoặc đi thuyền dọc sông tham quan, tìm hiểu cuộc sống của người dân Bắc Ninh với đặc trưng của cư dân Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ Loại hình du lịch này có thể phát triển ở khu vực huyện Thuận Thành, huyện Gia Bình (home-stay, đi xe đạp) và dọc sông Đuống Tại các khu vực nông thôn này còn có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch sinh thái nông nghiệp gắn với nền văn minh lúa nước vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng
Căn cứ vào đặc điểm vị trí địa lý, kinh tế, xã hội và mối quan hệ của hệ thống giao thông, Bắc Ninh nên đầu tư xây dựng các trạm dừng nghỉ dọc tỉnh lộ 283 trên địa bàn huyện Thuận Thành và Quốc lộ 18 trên địa bàn huyện Quế Võ để đón và phục vụ lượng khách du lịch từ Hà Nội đi Hạ Long và khách du lịch từ Trung Quốc đến Hà Nội qua Lạng Sơn Do quá gần Hà Nội nên Bắc Ninh khó giữ chân khách nghỉ đêm, đặc biệt với nhóm khách đi thăm Hạ Long Vì vậy, cần thiết phải đầu tư xây dựng các trạm dừng nghỉ làm nơi giới thiệu văn hóa của địa phương, giới thiệu và bán các sản phẩm thủ công mỹ nghệ dưới hình thức quà lưu niệm, đồng thời giới thiệu và cung cấp cho khách các món ăn mang đậm bản sắc địa phương Điều này vừa mang lại lợi ích kinh tế cho nhà đầu tư, cho nhân dân địa phương, vừa quảng bá được cho tỉnh nhà
Trang 32Trong tương lai, Bắc Ninh có tiềm năng để phát triển mạnh du lịch đường sông, đặc biệt là du lịch sông Đuống Vì vậy, việc nghiên cứu qui hoạch, đầu tư và quản lý phát triển sản phẩm du lịch này cần được triển khai trong tương lai gần
2.1.6.2 Những hạn chế về nguồn lực
Hạn chế cơ bản về nguồn lực cho phát triển du lịch của Bắc Ninh là:
- Các điều kiện tự nhiên không phong phú dẫn đến nghèo nàn tài nguyên du lịch
tự nhiên;
- Đây là vùng đất phát triển lâu đời nên phần lớn diện tích đất có sự tập trung dân cư với mật độ cao, quĩ đất dành cho phát triển dịch vụ công ích và các công trình dịch vụ du lịch không còn nhiều, ở một số điểm tài nguyên có giá trị thì rất hạn chế về không gian để mở rộng dịch vụ
- Các tài nguyên nhân văn còn lại (trừ thưởng thức quan họ và nghiên cứu tìm hiểu các di tích lịch sử) chủ yếu phù hợp với khách nội địa, ít phù hợp nhu cầu của khách quốc tế;
- Nằm trên trục đường nối trung tâm gửi khách lớn nhất miền Bắc với di sản thiên nhiên thế giới hấp dẫn du khách nhất Việt Nam nhưng lại quá gần trung tâm thành phố đã có sự phát triển về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch nên khó khai thác dịch vụ lưu trú
Từ nhận định về những hạn chế này, tỉnh Bắc Ninh cần nghiên cứu và áp dụng những giải pháp phù hợp, đầu tư hợp lý thì mới khai thác có hiệu quả những nguồn lực của tỉnh và khắc phục những hạn chế nêu trên
Trang 33Hình 1 Bản đồ tổng hợp tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch
Trang 34Viện Du lịch Bền vững Việt nam
38 Phan Kê Bính – Quận Ba Đình – Hà Nội - Điện thoại: 04 3762 1430 – Fax: 04 3762 1429
Trang 35Bảng 2 Lượng khách du lịch đến du lịch Bắc Ninh giai đoạn 2001 - 2010
S.lượng
% tăng so với cùng kỳ năm trước
S.lượng
% tăng so với cùng kỳ năm trước
(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh)
Do đặc thù vị trí địa lý nằm gần kế Hà Nội và chưa có hệ thống cơ sở lưu trú chất lượng cao, ít hoạt động vui chơi giải trí và các dịch vụ bổ sung khác nên đa phần khách du lịch chỉ tham quan du lịch tại Bắc Ninh trong ngày mà không lưu trú qua đêm (gọi là khách du lịch vãng lai) Theo kết quả điều tra mẫu đối với khách du lịch nội địa đến Bắc Ninh và tham vấn các cơ quan chuyên môn liên quan của tỉnh; của Viện du lịch bền vững, tỷ lệ khách du lịch nội địa vãng lai đến Bắc Ninh khá đông, chiếm khoảng 70% thời kỳ 2001 – 2005 và 50% thời kỳ 2006 – 2010
Trang 36(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh)
Cũng với lý do giống như đối với khách du lịch nội địa, tỷ lệ khách du lịch quốc tế vãng lai đến Bắc Ninh cũng đạt 70% cho đến 50% trong thời kỳ 2001 – 2010
Bảng 4 Cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế đến Bắc Ninh
phân theo thị trường (Giai đoạn 2006 - 2010 )
Trang 37(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh)
a.2 Khách nội địa:
Khách du lịch nội địa vẫn là lượng khách chủ yếu của tỉnh, trung bình hàng năm chiếm 95,6% tổng lượng khách đến Chủ yếu vẫn là khách du lịch tín ngưỡng, tham quan các di tích lịch sử Trong giai đoạn 2001 - 2010 tốc độ tăng trưởng trung bình về lượng khách nội địa đạt 19,97% Thị trường khách chủ yếu đến từ Hà Nội và các tỉnh Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ
Bảng 6 Khách du lịch nội địa đến Bắc Ninh (Giai đoạn 2001 – 2010)
Trang 38Nhóm 1
Bảng 7 Cơ cấu thị trường khách du lịch nội địa đến Bắc Ninh
phân theo thị trường (Giai đoạn 2006 - 2010)
(Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh)
2.2.2.2 Mức chi tiêu và ngày lưu trú trung bình
a Cơ cấu chi tiêu của khách du lịch:
Theo kết quả điều tra chi tiêu của khách du lịch do Tổng cục Thống kê và Tổng cục Du lịch tiến hành năm 2005 tại một số điểm danh lam thắng cảnh và khách sạn trên địa bàn Bắc Ninh, bình quân chi tiêu của khách du lịch:
- Khách du lịch quốc tế là 1,05 triệu VND/ngày/người Trong đó khách quốc tế chi 300.000VND cho dịch vụ lưu trú; 250.000VND cho ăn uống; 150.000VND cho vận chuyển đi lại; 120.000VND cho hoạt động tham quan
- Khách du lịch nội địa chi 304.110 VND/ngày/người Trong đó chi trung bình 178.000 VND cho dịch vụ lưu trú; 100.000 VND cho ăn uống; còn lại là cho các hoạt động khác
Mặc dù vậy theo số liệu thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh thì năm 2010 mức chi tiêu bình quân của khách quốc tế đạt 76 USD (khoảng 1,5 triệu đồng) và của khách du lịch nội địa đạt 23 USD (khoảng 500.000 đồng), cao hơn con số thống kê năm 2005 của Tổng cục thống kê Rõ ràng đây là mức chi tiêu khá cao so với các địa phương khác trong trung tâm du lịch Hà Nội và phụ cận
Trang 39Nhóm 1
b Ngày khách lưu trú trung bình:
Cả ngày khách quốc tế và khách nội địa lưu trú khách sạn ở Bắc Ninh tương đối ngắn, trung bình chỉ khoảng 0,9 - 1,4 ngày Nguyên nhân chủ yếu ở đây là do Bắc Ninh tương đối gần với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh nên điều kiện đi lại cũng không khó khăn nên số khách đi từ Hà Nội thường chỉ đến thăm quan các điểm
di tích sau đó quay trở về Hà Nội hoặc đến các tỉnh như Hải Phòng, Quảng Ninh để nghỉ chứ không nghỉ lại Bắc Ninh
2.2.2.3 Thu nhập và GDP du lịch
Bảng 8 Hiện trạng thu nhập từ du lịch của tỉnh Bắc Ninh (Giai đoạn 2001 - 2010)
Năm
Thu nhập du lịch
2.2.2.4 Giá trị gia tăng ngành du lịch (GDP du lịch)
Bảng 9 Cơ cấu GDP theo các ngành kinh tế của Bắc Ninh (Giai đoạn 2001 - 2010)
Chia theo ngành kinh tế
Trang 40(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bắc Ninh 2010)
2.2.3 Hiện trạng hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
2.2.3.1 Hệ thống lưu trú
Cùng với xu hướng chung của cả nước hiện nay, do lượng khách và nhu cầu xã hội ngày càng tăng nên các khách sạn, nhà nghỉ được xây dựng thêm để đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách du lịch Ngành du lịch Bắc Ninh cũng không ngừng nâng cấp, xây mới khách sạn, nhà nghỉ phục vụ khách du lịch Nhìn chung số lượng khách sạn, nhà nghỉ của các thành phần kinh tế tăng nhanh cả về số lượng, quy mô Hiện nay, toàn tỉnh có 178 khách sạn, nhà nghỉ (với 1.792 phòng và 2.279 giường) có thể đưa vào phục vụ kinh doanh du lịch, trong đó có 6 khách sạn được xếp hạng sao (252 phòng và 346 giường), chủ yếu tập trung ở khu vực Tp Bắc Ninh và thị xã Từ Sơn