Nội dung của quy luật giá trị - Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết.. Nội dung này chia thành hai phạm vi: s
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA: BẢO HIỂM
BÀI TẬP LỚN
HỌC PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN
ĐỀ TÀI: TRÌNH BÀY LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Kim Hằng
Mã sinh viên: 11217684 Lớp: Kinh tế chính trị Mác - Lênin(221)_08
Hà Nội, tháng 4 năm 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
I LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊ NIN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ 2
1 Nội dung của quy luật giá trị 2
2 Tác động của quy luật giá trị 3
II LIÊN HỆ THỰC TIỄN: NGÀNH SẢN XUẤT MỸ PHẨM Ở VIỆT NAM 6
1 Thực tiễn ngành mỹ phẩm ở Việt Nam 6
2 Giải pháp 13
III KẾT LUẬN 16
Tài liệu tham khảo 17
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang phát triển phụ thuộc lớn vào các ngành nông nghiệp, du lịch, xuất khẩu dầu thô
và đầu tư trực tiếp từ nước ngoài Trong kinh tế thị trường, các chủ thể kinh tế luôn bị chi phối bởi các quy tắc cũng như là các quy luật kinh tế Các quy luật kinh tế này tồn tại khách quan, và được ví như bàn tay vô hình dẫn dắt, điều tiết nền kinh tế Trong
đó, quy luật điển hình nhất chính là quy luật giá trị Đây chính là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa, quy định bản chất của sản xuất hàng hóa, là cơ sở của tất
cả các quy luật khác của sản xuất hàng hóa Ở đâu có sản xuất, trao đổi, lưu thông hàng hóa thì ở đó có sự tồn tại và phát triển của quy luật này
Vì vậy, để có thể có được một chỗ đứng vững chắc trên thương trường khốc liệt, hướng tới mục tiêu đánh bại các đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường, tạo ra giá trị gia tăng; các doanh nghiệp cần chú trọng vào nghiên cứu kĩ quy luật giá trị
Qua quá trình học tập và nghiên cứu bộ môn Kinh tế chính trị Mác-Lênin, em càng hiểu rõ hơn về tính thiết thực cửa quy luật này đối với nền kinh tế; vậy nên em đã đi vào tìm hiểu, nghiên cứu đề tài: “Trình bày lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về quy luật giá trị và liên hệ thực tiễn ở Việt Nam”
Bài tiểu luận này của em trình bày tổng quan lý luận của Mác-Lênin về quy luật giá trị, từ đó đưa ra những liên hệ, vận dụng đối với thực tiễn, cụ thể là ngành mỹ phẩm ở nước ta hiện nay Do trình độ và kiến thức của em còn hạn hẹp nên không thể tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình viết tiểu luận Rất mong cô thông cảm, góp ý bổ sung để em có thể hoàn thiện thêm kiến thức, rút kinh nghiệm cho những bài tập sau
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4I LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊ NIN VỀ QUY LUẬT GIÁ TRỊ
1 Nội dung của quy luật giá trị
- Quy luật giá trị yêu cầu việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết Nội dung này chia thành hai phạm vi: sản xuất và trao đổi hàng hóa
+ Trong sản xuất hàng hóa: Người sản xuất hàng hóa có khả năng tự quyết định hao phí lao động cá biệt riêng của mình Tuy nhiên, để bán được hàng hóa, bù đắp các khoản chi phí và tạo ra lợi nhuận thì lại phải căn cứ vào hao phí lao động xã hội Người sản xuất hàng hóa phải tự điều chỉnh chi phí lao động cá biệt để phù hợp với hao phí lao động xã hội của hàng hóa đó Muốn vậy, họ phải tìm cách hạ thấp giá trị cá biệt ngang bằng hoặc nhỏ hơn lượng giá trị xã hội
Ví dụ: Để sản xuất ra một cái áo, người sản xuất A phải tốn chi phí lao động cá
biệt là 30000VND/ sản phẩm Tuy nhiên, hao phí lao động xã hội tức là mức hao phí lao động trung bình mà xã hội chấp nhận chỉ là 20000VND/ sản phẩm Như vậy, nếu bán ra thị trường theo mức hao phí lao động cá biệt là 30000VND thì người sản xuất
A không bán được hàng, dẫn tới quy mô sản xuất bị thu hẹp
+ Trong trao đổi, lưu thông hàng hóa: Nội dung quy luật giá trị yêu cầu phải tiến hành theo quy tắc ngang giá, tức là: hai hàng hóa trao đổi được với nhau phải cùng kết tinh một lượng lao động xã hội như nhau Tuy nhiên, trong quá trình mua bán cái mà người ta quan tâm cuối cùng lại là giá cả hàng hóa chứ không phải giá trị hàng hóa Giá cả hàng hóa là biểu hiện bề ngoài của giá trị, hay nói cách khác giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa Thông thường, giá trị càng lớn thì giá cả càng cao và ngược lại Tuy nhiên, trên thực tế, giá trị hàng hóa và giá cả không nhất thiết phải bằng
Trang 5khác, chẳng hạn như quan hệ cung cầu, cạnh tranh, sức mua của đồng tiền… Giá cả chỉ bằng giá trị khi và chỉ khi thị trường cân bằng (tức là khi cung bằng cầu)
Ví dụ: Một cái áo có giá trị xã hội là 30000đ, trong trường hợp thị
trường cân bằng, cung bằng cầu thì trong trường hợp này nhà sản xuất sẽ bán cái áo theo đúng giá trị của nó, tức là lúc đó giá cả của cái áo bằng giá trị cái áo và bằng 20000đ Trong trường hợp cung lớn hơn cầu, tức là sản xuất dư thừa, buộc nhà sản xuất phải giảm giá cả cái áo xuống còn 10000đ, khi đó giá cả hàng hóa sẽ nhỏ hơn giá trị Ngược lại, trong trường hợp cung nhỏ hơn cầu, tức là hàng hóa khan hiếm thì giá
cả sẽ cao hơn giá trị
- Quy luật giá trị hoạt động và phát huy tác dụng thông qua sự vận động của giá cả xung quanh giá trị dưới tác động của quan hệ cung – cầu Giá cả thị trường lên xuống xoay quanh giá trị hàng hoá trở thành cơ chế tác động của quy luật giá trị Thông qua
sự vận động của giá cả thị trường sẽ thấy được sự hoạt động của quy luật giá trị
2 Tác động của quy luật giá trị
- Thứ nhất: Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá trên thị trường Điều tiết sản xuất tức là điều khiển, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành kinh tế, các lĩnh vực sản xuất khác nhau
+ Nếu cung < cầu: giá cả lớn hơn giá trị, nghĩa là hàng hóa sản xuất ra có lãi, bán chạy Nếu Giá cả hàng hóa cao hơn giá trị sẽ làm cho mở rộng và đẩy mạnh sản xuất
để tăng cung; ngược lại cầu giảm vì giá cả của hàng hóa tăng
+ Nếu cung > cầu, hàng hóa sản xuất ra nhiều so với nhu cầu của thị trường, giá cả thấp hơn giá trị, hàng hóa khó bán, sản xuất không có lãi Vì vậy, người sản xuất ngừng hoặc giảm sản xuất; nếu giá cả giảm thì cầu hàng hóa sẽ tăng
Trang 6+ Nếu cung = cầu: giá cả trùng hợp với giá trị Do đó, nền kinh tế người ta thường gọi là “bão hòa”
- Điều tiết lưu thông là sự điều chỉnh một cách tự phát khối lượng hàng hoá từ nơi giá
cả thấp đến nơi giá cả cao, từ nơi cung lớn hơn cầu đến nơi cung nhỏ hơn cầu, tạo ra mặt bằng giá cả xã hội.Giá trị hàng hoá mà thay đổi ,thì những điều kiện làm cho tổng khối lượng hàng hoá có thể tiêu thụ được cũng sẽ thay đổi Nếu giá trị thị trường hạ thấp thì nói chung nhu cầu xã hội sẽ mở rộng thêm và trong những giới hạn nhất định ,có thể thu hút những khối lượng hàng hoá lớn hơn
Ví dụ: Tại Hải Dương vào dịp hè lượng vải thiều rất dồi dào nhưng nếu chỉ bán ở
địa phương thì sẽ không thu được lợi nhuận cao vì giá thấp do cung lớn hơn cầu Do
đó, tiểu thương và người nông dân có xu hướng vận chuyển vải thiều đến các tỉnh thành khác, các quốc gia khác có cung vải thiều nhỏ hơn cầu để bán được giá cao hơn, thu về lợi nhuận lớn hơn
=> Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị dựa vào sự thay đổi của giá cả hàng hóa trên thị trường Như vậy, sự biến động của giả cả trên thị trường không những chỉ rõ
sự biến động về kinh tế, mà còn có tác động điều tiết nền kinh tế hàng hoá
- Thứ hai: Thúc đẩy cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, làm cho lực lượng sản xuất xã hội phát triển
Trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất hàng hoá là một chủ thể sản xuất
có tính độc lập trong quá trình sản xuất và vì vậy nên sự hảo tổn lao động của các chủ thể cũng sẽ khác nhau, người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt nhỏ hơn hao phí lao động xã hội của hàng hoá ở thế có lợi sẽ thu được lãi cao Nhà sản xuất nào có hao phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ thua lỗ Để giành lợi thế trong cạnh tranh, và tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản, họ phải hạ thấp hao phí lao động cá biệt của mình sao cho nhỏ hơn hoặc bằng hao phí lao động xã hội cần thiết
Trang 7Muốn vậy, nhà sản xuất phải dùng các biện pháp để tối đa hoa hóa chi phí sản xuất,
áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất để tăng năng suất, tạo ra cho mình những lợi thế cạnh tranh
Ví dụ: Trong lĩnh vực kinh doanh điện thoại di động, để hạ thấp hao phí lao động
cá biệt, các hãng điện thoại không ngừng đổi mới công nghệ, cải tiến kỹ thuật, đổi mới phương thức quản lý… Điều này đã làm cho lực lượng sản xuất phát triển, giá thành sản phẩm điện thoại ngày càng rẻ hơn, chất lượng, tính năng vượt trội hơn Hơn nữa, ngoài việc đổi mới kỹ thuật, công nghệ sản xuất, dịch vụ chăm sóc, hậu mãi khách hàng cũng ngày càng tốt hơn
- Thứ ba: Làm cho sự phân hoá người sản xuất hàng hoá thành người giàu, người nghèo
Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả là: những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ, kiến thức cao, trang bị kỹ thuật tốt nên có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, từ đó mà thu được nhiều lợi nhuận, họ trở thành người giàu Họ mở rộng thêm sản xuất, quy mô Ngược lại những người không có được các lợi thế cạnh tranh sẽ dần thua lỗ, trở thành người nghèo
Nói tóm lại, ta thấy quy luật giá trị vừa có tác dụng đào thải cái lạc hậu, lỗi thời, kích thích sự tiến bộ, làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ; vừa có tác dụng lựa chọn, đánh giá người sản xuất, bảo đảm sự bình đẳng đối với người sản xuất; vừa có
cả những tác động tích cực lẫn tiêu cực Các tác động đó diễn ra một cách khách quan trên thị trường
Trang 8II LIÊN HỆ THỰC TIỄN: NGÀNH SẢN XUẤT MỸ PHẨM Ở VIỆT NAM
Thị trường Việt Nam ngày càng mở rộng và sôi động với sự đa dạng của nhiều chủng loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau Trong đó, mỹ phẩm đang là một ngành rất tiềm năng với sức phát triển vô cùng nhanh chóng và mạnh mẽ Bởi lẽ, ngành kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu làm đẹp, chăm sóc, hoàn thiện bản thân của con người cũng theo đó mà tăng lên
1 Thực tiễn ngành mỹ phẩm ở Việt Nam
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, mỹ phẩm đã trở thành một thứ sản phẩm thiết yếu của cuộc sống Dường như ai ai cũng cần đến mỹ phẩm do mức sống ngày càng được nâng cao, phụ nữ Việt càng gia tăng nhu cầu sử dụng mỹ phẩm để chăm sóc sắc đẹp Theo dữ liệu từ Mintel – công ty nghiên cứu thị trường toàn cầu có trụ sở tại London, thị trường mỹ phẩm của Việt Nam đang có trị giá khoảng 2,3 tỷ USD
Trang 9Tổng quan tình hình thị trường mỹ phẩm Việt Nam 2020-2021
Thống kê doanh thu thị trường mỹ phẩm Việt Nam qua từng năm, đơn vị triệu đô la
(Số liệu thống kê của trang Statista)
Trang 10Theo thống kê của Q&ME cho thấy:
+ Thói quen người ta sử dụng mỹ phẩm sẽ khác nhau theo từng độ tuổi Hơn phân nửa số người từ 23 tuổi trở lên thường xuyên trang điểm khi đi làm hay đi học, đi chơi hoặc tham dự các buổi tiệc
+ Các sản phẩm chăm sóc da được dùng nhiều hơn, 60% những người trong độ tuổi
23 trở lên sử dụng mỹ phẩm chăm sóc da hàng ngày
+ Đối tượng không dùng trang điểm thường là những người trẻ, không biết cách trang điểm hoặc không có thời gian để trang điểm
+ Son môi và sửa rữa mặt là hai sản phẩm được sử dụng nhiều nhất trong nhóm các sản phẩm trang điểm và dưỡng da
+ Các cửa hàng trong trung tâm thương mại và các cửa hàng bên ngoài của thương hiệu là nơi mua sắm mỹ phẩm phổ biến nhất Ngoài ra, các trang thương mại điện tử cũng dần trở thành một phương thức quan trọng với 73% người tiêu dùng đã từng mua sắm mỹ phẩm tại đây
+ Chi tiêu cho mỹ phẩm tăng 10% trong nhóm những người sử dụng mỹ phẩm thường xuyên
+ Do thói quen trang điểm với tần suất thường xuyên dẫn đến nhu cầu sản phẩm chăm sóc da rất được quan tâm để cải thiện làn da và tránh những tác hại từ mỹ phẩm
Và đối tượng khách hàng không dùng trang điểm không có nghĩa họ không phải là khách hàng tiềm năng của sản phẩm chăm sóc da
Thống kê chi tiêu trung bình hàng tháng cho mỹ phẩm của TP Hồ Chí Minh
(Dữ liệu của Q&ME)
Trang 11Thống kê tần suất trang điểm của người Việt
Như những điều ta thấy trên, cùng với tốc độ tăng trưởng bình quân 20-30% một năm, Việt Nam chính là thị trường màu mỡ cho các thương hiệu nước ngoài như Mỹ, Pháp, Nhật, Hàn Quốc, Anh… Chi nhánh cửa hàng của các nhãn hàng mỹ phẩm này trải dài khắp ba miền, sản phẩm đa dạng từ mẫu mã đến kiểu dáng Đặc biệt, người Việt Nam
Trang 12thương hiệu của quốc gia này chiếm phần lớn nhất trong thị trường mỹ phẩm ở Việt Nam (35%) Đây là điều dễ hiểu khi mỹ phẩm Hàn Quốc có chất lượng tốt, giá thành phù hợp, có nhiều phân khúc sản phẩm, lại đa dạng về mẫu mã và thiết kế bao bì vô cùng đẹp mắt
Mỹ phẩm Hàn Quốc
Ngoài Hàn Quốc, các nhãn hàng phương Tây như Lancome, Chanel, Dior…, các nhãn hàng phương Đông như Shiseido, Shu Uemura, Laneige,… cũng đã khẳng định được
vị trí vững chắc Các thương hiệu này liên tục ra mắt các sản phẩm mới với bao bì, thiết kế bắt mắt Đồng thời họ cũng tổ chức các chương trình tri ân khách hàng thường xuyên Thật không khó để bạn bắt gặp các gian hàng của Vichy, La Roche Posay, Yves Rocher,… tổ chức khám da miễn phí, tư vấn sản phẩm cho người tiêu dùng Những hoạt động này lập tức đánh vào tâm lý thích đồ miễn phí của người Việt, lôi kéo được sự chú ý của người tiêu dùng vào các sản phẩm của thương hiệu Vậy nên người Việt có thể không biết tới nhiều thương hiệu mỹ phẩm Việt Nam, nhưng mỹ phẩm ngoại họ lại rất rành! Đây là một điều rất đáng tiếc
Vậy thị trường mỹ phẩm nội địa Việt Nam đang ở đâu trong sự phát triển nhanh
chóng kia? Khi các nhà đầu tư nước ngoài đang dốc vốn đầu tư vào Việt Nam với nhiều dự án và kế hoạch trong tương lai thì nhiều nhãn hàng nội địa Việt Nam vẫn còn đang chật vật tìm cho mình một chỗ đứng trên thị trường Thị phần tiêu thụ của các thương hiệu nôị địa đang bị thu hẹp đáng kể Theo thống kê, thị trường mỹ phẩm
Trang 13chiếm 10% với một số ít nhãn hàng như Mỹ phẩm Sài Gòn, Thorakao, … Người tiêu dùng chủ yếu tiêu tiền vào các thương hiệu, sản phẩm nhập khẩu như Hàn Quốc (35%), Singrapore (15%), Nhật (11%), Pháp (6%), Mỹ (6%), … theo dữ liệu của UN-Comtrade
Các công ty mỹ phẩm Việt Nam, với 10% thị phần, hầu hết chỉ có thể bán sản phẩm ở phân khúc thị trường giá rẻ và xuất khẩu sản phẩm sang một số thị trường lân cận 90% các công ty Việt Nam làm đại lý bán hàng cho các thương hiệu nước ngoài Tại các trung tâm mua sắm, các sản phẩm sản xuất từ nước ngoài đang chiếm ưu thế Ví
dụ như Mỹ Phẩm Sài Gòn, một công ty do Việt Nam sở hữu, chủ yếu bán sản phẩm ở khu vực nông thôn và các chợ truyền thống Khoảng 500.000 chai nước hoa được bán
ra trong một năm với giá 60.000 đồng/chai 50 ml Việc xuất khẩu sản phẩm này sang Campuchia, Lào và Thái Lan mang lại 40% tổng doanh thu Tuy nhiên, đến nay, sản phẩm của hãng vẫn chưa có mặt trong các trung tâm thương mại Tương tự, Lan Hao-Thorakao báo cáo tốc độ tăng trưởng doanh thu 30% từ thị trường nội địa, nhưng vẫn chủ yếu dựa vào việc xuất khẩu
Vậy nguyên nhận của sự yếu thế này là do đâu? Phó Chủ tịch Hiệp hội Tinh dầu - Hương liệu - Mỹ phẩm Nguyễn Văn Minh đã chỉ ra một số nguyên nhân đằng sau việc này: “Các doanh nghiệp Việt Nam chú trọng đến chất lượng sản phẩm mà chưa chú trọng đến bao bì, thiết kế và tiếp thị Ngoài ra, một số thương hiệu Việt Nam nhắm đến thị trường xuất khẩu và không chi tiền cho quảng cáo tại Việt Nam Do đó, các sản phẩm của họ vẫn chưa được khách hàng Việt Nam biết đến Còn người Việt Nam có thu nhập cao thì chuộng hàng ngoại hơn” Có thể chất lượng sản phẩm giữa mỹ phẩm Việt Nam và nước ngoài không có nhiều chênh lệch, nhưng bao bì không đẹp mắt đã khiến mỹ phẩm Việt Nam nhanh chóng bị khách hàng “ghẻ lạnh” Cùng một sản phẩm kem dưỡng da, mỹ phẩm Hàn Quốc có các loại bao bì từ nhí nhảnh, dễ thương đến đơn giản, sang trọng Điều này đã tạo ưu thế cho mỹ phẩm nước bạn chiếm thị phần lớn Các hãng nước ngoài họ đầu tư không chỉ nội dung bên trong mà còn bao bì bên ngoài thu hút người mua Họ đặc biệt tập trung vào quảng cáo đánh vào tâm lí đối tượng mà