Tầm quan trọng của thời gian rỗi trong sự phát triển của hoạt động du lịch: - Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời g
Trang 1Nguyễn Mai Khanh Làm PowerPoint, Thuyết trình,
Làm nội dung
Trang 2MỤC LỤC
A Điều kiện để phát triển du lịch: 2
I Những điều kiện chung đối với sự phát triển của hoạt động đi du lịch: 2
1 Thời gian nhàn rỗi của nhân dân: 2
2 Mức sống về vật chất và trình độ văn hoá chung của người dân cao: 7
3 Điều kiện giao thông vận tải phát triển: 11
4 Không khí chính trị hoà bình, ổn định thế giới: 12
II Những điều kiện có ảnh hưởng nhiều hơn đến hoạt động kinh doanh du lịch: 13 1 Tình hình và xu hướng phát triển kinh tế của đất nước: 14
2 Tình hình chính trị, hòa bình ổn định của đất nước: 15
3 Các điều kiện an toàn đối với du khách: 16
B Các điều kiện đặc trưng: 16
I Điều kiện về tài nguyên du lịch: 16
1 Tài nguyên thiên nhiên: 17
2 Tài nguyên nhân văn: 20
II Điều kiện về sự sẵn sàng phục vụ khách du lịch: 23
1 Các điều kiện về tổ chức: 23
2 Các điều kiện về kĩ thuật: 23
III Một số tình hình và sự kiện đặc biệt: 24
Trang 3ĐIỀU KIỆN ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
A Điều kiện để phát triển du lịch:
Để phân tích các điều kiện chung một cách cụ thể, chúng ta có thể chia một cách tương đối các điều kiện chung để phát triển du lịch thành hai nhóm:
- Nhóm các điều kiện chung có ảnh hưởng nhiều hơn đến hoạt động đi du lịch
- Nhóm các điều kiện chung có ảnh hưởng nhiều hơn đến hoạt động kinh doanh du lịch
I Những điều kiện chung đối với sự phát triển của hoạt động đi du lịch:
1 Thời gian nhàn rỗi của nhân dân:
a Tầm quan trọng của thời gian rỗi trong sự phát triển của hoạt động du lịch:
- Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi
cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 1 năm liên tục nhằm đáp ứng nhucầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, khám phá tài nguyên du lịch và hoạt động kếthợp mục đích hợp pháp khác Muốn thực hiện 1 cuộc hành trình du lịch đòi hỏicon người phải có thời gian Do vậy, thời gian rỗi là điều kiện tất yếu cần thiết phải
có để con người tham gia vào hoạt động du lịch, hay nói cách khác là để trở thànhkhách du lịch
Trang 4- Thời gian nhàn rỗi của nhân dân từng nước được quy định trong Bộ luật Lao động hoặc theo hợp đồng lao động được ký kết.
b. Quỹ thời gian của con người:
Đã có nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu quỹ thời gian của conngười và phân chia quỹ thời gian theo các cách khác nhau, theo các phần khácnhau:
- Trước đây, một số nhà khoa học, trong đó có nhà kinh tế Xô Viết Xtrumilin
từ năm 1922 đã phân chia quỹ thời gian trong ngày (24h) làm 3 phần: lao động,nghỉ ngơi và ngủ Việc phân chia thời gian như vậy chưa cho phép việc thực hiệnphân loại cụ thể hơn về thời gian để thấy hết điều kiện sống của con người hiện đạitrong lĩnh vực sản xuất vật chất và phi vật chất Hiện nay, trong các ấn phẩm kinh
tế, quỹ thời gian trong năm được chia thành 2 phần: thời gian làm việc là thời gianngoài giờ làm việc
- Hiện nay trên thế giới mức thời gian lao động tối đa trong ngày ít khi vượtquá 8 tiếng (chỉ còn 1 số rất ít các nước có thời gian làm việc trong ngày quá 8tiếng) Điều đó có nghĩa là thời gian ngoài giờ làm việc (16 tiếng) chiếm phần lớnhơn trong quỹ thời gian 1 ngày Theo xu hướng chung, thời gian rỗi của con người
có thiên hướng tăng dần Với 8760 giờ trong 1 năm (làm tròn là 9000h), quỹ thờigian được chia theo mỗi giai đoạn trong quá khứ như sau:
+ Năm 1850: 5000h làm việc, 4000h ngoài giờ làm việc (3000h để ngủ
và 1000h cho các nhu cầu khác và thời gian rỗi)
+ Năm 1950: chia theo tỷ lệ 3000-3000-3000
- Nhờ có các thành tựu khoa học, kỹ thuật hiện đại, ngày nay năng suất lao
Trang 5ngày một cải thiện Xu hướng chung của xã hội bây giờ là giảm bớt thời gianlàm việc và tăng số thời gian rỗi Đã có nhiều nước trên thế giới chuyển chế độlàm việc sang còn 5 ngày một tuần tương đương với 36-40 giờ/1 tuần Nhưvậy, ta có thể thấy thời gian ngoài giờ làm việc càng chiếm ưu thế trong quỹthời gian và đang trở thành vấn đề quan trọng đặc biệt của xã hội Chính vì lẽ
đó, nhiều chuyên gia về kinh tế lao động hiện nay đã cố gắng để đưa ra đượcmột phân chia đúng nhất cho quỹ thời gian ngoài giờ làm việc Sự phân chia
đó như sau:
+ Thời gian tiêu hao liên quan tới thời gian làm việc, hay nói cách khác
đó là thời gian gắn với sản xuất nhưng không nằm trong thời gian làm việc quyđịnh: Đây là thời gian cho việc đi đến nơi làm việc và ngược lại, thời gian dànhcho việc chuẩn bị cá nhân, trước và sau khi làm việc
+ Thời gian làm công việc gia đình và các nhu cầu sinh hoạt hàng ngàynhư mua hàng, dọn dẹp nhà cửa, giặt là quần áo, chăm sóc con cái, nấu nướng, + Thời gian cần thiết để thoả mãn các nhu cầu tự nhiên, nhu cầu sinh lý: ngủ, ăn,
+ Thời gian rỗi
c Thời gian nhàn rỗi của con người:
- Trong sự phân chia trên, thời gian rỗi là đối tượng cần nghiên cứu của mônkhoa học về tổ chức du lịch Thời gian nhàn rỗi và hình thức hoạt động gắn vớithời gian rỗi của mỗi ngưòi là một trong các chỉ tiêu quan trọng phản ánh chấtlượng cuộc sống và là nhân tố quan trọng kích thích đi du lịch
Trang 6- Mối quan tâm của xã hội hiện nay không chỉ là số lượng thời gian rỗi củacon người Điều quan trọng hơn là con người sử dụng thời gian đó vào mục đích gì
và sử dụng như thế nào
- Thông thường, thời gian rỗi được sử dụng vào các hoạt động như sau:
+ Thời gian tham gia vào các hoạt động xã hội: Đây là những hoạt độngcần thiết, nhờ đó mà con nguời điều chỉnh tốt được các quá trình giao tiếp xã hội
và kinh tế có tổ chức và nhờ đó mà có thể tiết kiệm được thời gian làm việc
+ Thời gian dành cho việc tự học năng cao hiểu biết và hoạt động sángtạo: (VD: nghiên cứu tri thức - giáo dục, chính trị, củng cố kiến thức, tự học, đọcsách thư viện, đọc sách báo, theo dự các lớp học, tham gia tranh luận,…)
+ Thời gian để nghỉ ngơi tinh thần một cách tích cực: (VD: xem triểnlãm, xem phim, kịch, hoà nhạc, xem bảo tàng, xem thể thao, đọc các tác phẩm vănhoá, ca hát, chơi nhạc cụ, nghe đài, xem TV,…)
+ Thời gian dành cho việc phát triển thế lực hồi phục và củng cố sức khoẻ: (VD: chơi thể thao, đi du lịch, đi dạo,…)
+ Thời gian vui cùng gia đình, bè bạn, người quen: (VD: thời gian dành cho việc vui chơi với con cái, đến chơi nhà bè bạn, họ hàng,…)
+ Thời gian nghỉ ngơi thụ động: Đây là thời gian nhàn rỗi để nằm, ngồi,
…mà không làm gì cả
+ Thời gian làm những việc vô bổ, thậm chí còn có hại hay còn gọi làthời gian rảnh vô ích: Một số người sử dụng thời gian rỗi của họ vào việc nhậunhẹt, đánh bài hoặc lười biếng để mặc thời gian trôi
Trang 7- Mục đích sử dụng thời gian rỗi tuỳ thuộc vào đặc điểm, tính cách của từngngười, hoàn cảnh gia đình, môi trường sống,…Kết quả nghiên cứu về việc sử dụngthời gian rảnh rỗi bằng cách phát phiếu thăm dò cho du khách nước ngoài trong vàngoài nước (mỗi đối tượng là 10 phiếu) cho thấy họ đã sử dụng thời gian rỗi vàocác mục đích sau:
+ Với du khách nước ngoài, 26,67 % du khách cho rằng họ thường sửdụng thời gian rảnh cho mục đích đi du lịch để giải trí, tìm hiểu và khám phá; kếđến là dành thời gian vào việc xem ti vi (23,33 %); thăm bạn bè và họ hàng (20
%); dành cho các nhu cầu khác như đọc sách, nấu ăn chiếm 16,67 %, số còn lại(13,33 %) cho rằng họ dành thời gian rỗi cho việc tập thể dục
+ Nhưng ngược lại, đối với khách trong nước, đa số họ sử dụng thờigian rỗi để thăm bạn bè và họ hàng (40,28%), kế đến là xem ti vi (30,42%), cònvới các mục đích đi du lịch, tập thể dục thể thao và các mục đích khác chỉ khoảng10% Khách du lịch trong nước thường đi du lịch vào các ngày lễ, tết là chủ yếu(20,22%), ngày rằm (10,21%) nên số lượng khách đến các điểm du lịch vào nhữngngày này tăng lên rõ, làm cho doanh thu và các dịch vụ phục vụ khách du lịch tănglên
- Ngoài ra, thứ bảy và chủ nhật cũng là dịp để khách du lịch có thời gian rảnhhơn so với những ngày khác trong tuần nhưng họ lại đi du lịch ít hơn (tỉ lệ khách
du lịch vào những ngày này chỉ chiếm 10% khách nước ngoài và 5% khách trongnước) Họ cho rằng thứ bảy, chủ nhật để thăm ông bà cha mẹ hay người thân hoặc
để dọn dẹp trong nhà Như vậy, nắm bắt được mục đích sử dụng thời gian rỗi của
du khách sẽ giúp cho các nhà hoạt động kinh doanh du lịch đưa ra các chiến lượcthu hút du khách
d Sử dụng thời gian rỗi một cách hợp lý:
Trang 8- Thời gian rỗi có thể tăng lên nếu con người sử dụng hợp lý quỹ thời gian và
có chế độ lao động đúng đắn Với chế độ làm việc 5 ngày một tuần ở nhiều nước,
số thời gian rỗi tăng lên và đó là điều kiện thực tế để tổ chức hợp lý du lịch và nghỉngơi cho nhân dân lao động Thời gian rỗi còn tăng được bằng cách giảm thời giancủa các công việc khác ngoài giờ làm việc Ví dụ: giảm thời gian mua hàng, thờigian làm việc gia đình…
Tóm lại, để có thể tăng thời gian rỗi, phải có cơ cấu thời gian ngoài giờ làm việc hợp lý Điều này có thể thực hiện được nếu mạng lưới thương nghiệp được mở rộng, mạng lưới phục vụ công cộng, giao thông, y tế, hành chính…được tổ chức và quản lý tốt
- Thời gian rỗi nằm trong quỹ thời gian, còn thời gian dành cho du lịch, thểthao và nghỉ ngơi lại nằm trong thời gian rỗi Do vậy, du lịch muốn phát triển tốtphải nghiên cứu đầy đủ cơ cấu của thời gian làm việc, cơ cấu của thời gian rỗi,phải xác lập được ảnh hưởng của các thành phần thời gian khác lên thời gian rỗi.Việc áp dụng phương pháp hệ thống tìm ra phương hướng phát triển và phục vụthích hợp cho thể thao, du lịch và nghỉ ngơi
- Trên cơ sở xu hướng phát triển của thời gian làm việc, thời gian ngoài giờlàm việc và thời gian rỗi, các chuyên gia đã dự đoán số ngày làm việc bình quânmột năm sẽ không vượt quá 200 Đó là điều kiện thực tế và khả năng tăng số ngàynghỉ phép trong năm cho phép các tổ chức du lịch thu hút được thêm nhiều kháchđến các cơ sở của mình Số thời gian rỗi ngày càng được kéo dài đó phải được sửdụng hợp lý Các cơ sở du lịch sẽ trở thành nguồn tiết kiệm thời gian rỗi và là tiền
đề vật chất cho việc kéo dài thời gian rỗi của nhân dân lao động Các cơ sở ấyđóng vai trò trung tâm trong việc kích thích
Trang 9sử dụng thời gian rỗi một cách hợp lý, để thoả mãn nhu cầu thể chất và tinh thần cho toàn dân.
2 Mức sống về vật chất và trình độ văn hoá chung của người dân cao:
- Mức sống về vật chất cao:
+ Thu nhập của nhân dân là chỉ tiêu quan trọng và là điều kiện vật chất
để họ có thể tham gia đi du lịch Đó là điều kiện cần thiết để biến nhu cầu đi dulịch nói chung thành nhu cầu có khả năng thanh toán Con người khi muốn đi dulịch không phải chỉ cần có thời gian mà còn phải có đủ tiền mới có thể thực hiệnđược mong muốn đó
+ Khi đi du lịch và lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên, khách du lịch luôn
là người tiêu dùng của nhiều loại dịch vụ, hàng hoá Họ không chỉ phải trả cáckhoản tiền cho nhu cầu giống như các nhu cầu thường ngày mà còn phải trả thêmcho các khoản khác như tiền tàu xe, tiền thuê nhà ở, tiền tham quan,… và xuhướng của con người khi đi du lịch là chi tiêu rộng rãi hơn
Do vậy, phúc lợi vật chất của nhân dân là điều kiện có ý nghĩa to lớn trong
sự phát triển của du lịch Người ta đã xác lập được rằng mỗi khi thu nhập củanhân dân tăng thì sự tiêu dùng du lịch cũng tăng theo, đồng thời có sự thay đổi
về cơ cấu của tiêu dùng du lịch
Phúc lợi vật chất của nhân dân luôn phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế và thu nhập quốc dân của đất nước đó Vì vậy những nước có nền kinh tế phát triển, đảm bảo cho dân có mức sống cao, một mặt có điều kiện sản xuất ra nhiều của cải vật chất và có khả năng phát triển du lịch trong nước, mặt khác có thể gửi khách du lịch
ra nước ngoài
Trang 10Một số ví dụ là những nước có nền kinh tế phát triển, có thu nhập đầungười cao như: Mỹ, Canada, Pháp, Thuỵ Sỹ, Anh, Ý, Đức, Hà Lan, Thuỵ Điển, Bỉ, Nhật Bản, Hàn Quốc Đây đều là những nước có vị tríquan trọng trong phát triển du lịch thế giới Tuy nhiên, trong số đó cónhững nước có xu hướng thiên hơn về phát triển du lịch quốc tế chủ động, một số khác thiên hơn về phát triển du lịch thụ động hay du lịch nội địa.
(Du lịch quốc tế chủ động: Là hình thức du lịch của những người từnước ngoài đến một quốc gia nào đó và tiêu ngoại tệ ở đó
Ví dụ: khách nước ngoài đến Việt Nam du lịch, sử dụng các dịch vụ dulịch do ngành du lịch Việt Nam cung cấp Trong trường hợp này, Việt Namkinh doanh du lịch quốc tế chủ động
Du lịch quốc tế chủ động tương đương với xuất khẩu vì tạo ra nguồn thu ngoại
tệ cho một quốc gia
Du lịch quốc tế thụ động: Là hình thức du lịch của công dân một quốc gia nào
đó và của những người nước ngoài đang cư trú trên lãnh thổ quốc gia đó đi ranước khác du lịch và trong chuyến di ấy họ đã tiêu tiền kiếm ra tại đất nước họđang cư trú
Ví dụ: Công dân Việt Nam đi du lịch ở nước ngoài, sử dụng các dịch vụđược do nước đó cung cấp Trong trường hợp này, Việt Nam kinh doanh dulịch thụ động.)
- Trình độ văn hoá chung của nhân dân cao:
+ Nếu trình độ văn hoá chung của một dân tộc được nâng cao, thì động cơ
đi du lịch của nhân dân ở đó tăng lên rõ rệt Số người đi du lịch tăng, lòng
Trang 11ham hiểu biết và mong muốn làm quen với các nước xa gần cũng tăng Trong
nhân dân, thói quen đi du lịch sẽ hình thành ngày càng rõ rệt
+ Mặt khác, nếu trình độ văn hoá chung của một đất nước cao, thì đất
nước đó khi phát triển du lịch sẽ dễ đảm bảo phục vụ khách du lịch một cách văn
minh và làm hài lòng khách du lịch đến đó
+ Trình độ văn hoá chung của một dân tộc được đánh giá theo các điểm
sau:
Hệ thống giáo dục, đào tạo phải đáp ứng với quá trình tái sản xuất
mở rộng xã hội – sản xuất ra của cải vật chất và của cải phi vật chất Chất lượng giáo dục đào tạo phải đảm bảo những kiến thức cần thiết phục vụ cho công việc sau này của những chuyên gia trẻ:
vừa giỏi lí thuyết, vừa thạo thực hành
Xuất bản nhiều sách, báo đạt trình độ văn hoá, chính trị, khoa học,nghệ thuật cao Các phương tiện thông tin đại chúng phát triển
Các hoạt động phim ảnh, ca hát, nhạc, kịch phong phú
Theo Robert W.Mcintosh, giữa trình độ văn hoá của người chủ gia đình
và tỷ lệ đi du lịch của họ có mối quan hệ nhất định, có thể thấy ở bảng
Trang 12(Theo Robert W.Mcintosh 1995)
Có thể thấy người chủ gia đình có trình độ văn hoá càng cao thì tỷ lệ đi du lịchcàng lớn Những người chưa có trình độ trung học tỷ lệ đi du lịch thấp nhất là50%, người có trình độ từ trung học đến đại học có tỷ lệ đi du lịch từ 65% đến85%
3 Điều kiện giao thông vận tải phát triển:
- Từ xưa, giao thông vận tải đã là tiền đề cho sự phát triển du lịch và ngày nay
nó đã trở thành một trong những nhân tố chính cho sự phát triển của du lịch, đặcbiệt là du lịch quốc tế
- Trong những năm gần đây, lĩnh vực giao thông nói chung và giao thông trong du lịch nói riêng phát triển cả về số lượng và chất lượng:
+ Phát triển về số lượng: Thực chất là việc tăng chủng loại và số lượngcác phương tiện vận chuyển Nó đã làm cho mạng lưới giao thông vươn tới đượcmọi nơi trên Trái Đất Hiện nay trên thế giới có trên 300 triệu khách du lịch đi quabiên giới các nước bằng các phương tiện vận chuyển hành khách quốc tế
+ Phát triển về chất lượng: Việc tăng tốc độ vận chuyển cho phép tiếtkiệm thời gian đi lại, kéo dài thời gian ở lại nơi du lịch và cho phép khách du lịchđến những nơi xa xôi
+ Đảm bảo an toàn trong vận chuyển: Sự tiến bộ về kỹ thuật ngày nay đã làm tăng rõ rệt tính an toàn trong vận chuyển hành khách
+ Đảm bảo tiện lợi trong vận chuyển: Các phương tiện vận chuyển ngàycàng tiện nghi, làm hành khách hài lòng Xu hướng này được dự kiến sẽ phát triểntrong tương lai
+ Vận chuyển với giá rẻ: Giá cước vận tải có xu hướng giảm để nhiều