1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ bài trình bày lý luận của CN mác lênin về hội nhập kinh tế quốc tế của việt nam và liên hệ thực tiễn ở việt nam

16 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 178,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦUTrong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một xu thế khách quan, không thể tách rời đối với sự phát triển của một quốc gia.. Hội nhập kinh tế đã tạo ra

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

BÀI TẬP LỚN

HỌC PHẦN : KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC – LÊNIN

ĐỀ BÀI: Trình bày lý luận của CN Mác Lênin về Hội nhập kinh

tế quốc tế của Việt Nam và liên hệ thực tiễn ở Việt Nam

Họ và tên : Đậu Thị Thanh An MSV : 11210204

Lớp học phần : KTCTMLN(221)_21

Hà Nội – 4/2022

Trang 2

MỤC LỤC

Lời mở đầu……….3

I Lý luận của CN Mác – Lênin về hội nhập kinh tế quốc tế………….4

1 Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế………4

2 Tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế……… 4

3 Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế ……… 6

1 Lịch sử hội nhập kinh tế quốc tế……… 8

2 Những tác động tích cực của hội nhập kinh tế quốc tế đối

với sự phát triển của Việt Nam……… 8

3 Những tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế đối

với sự phát triển của Việt Nam……….12 Kết luận……….14 Tài liệu tham khảo………15

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một xu thế khách quan, không thể tách rời đối với sự phát triển của một quốc gia Hội nhập kinh tế đã tạo ra cơ hội để những quốc gia giải quyết những vấn đề toàn cầu ngày càng gia tăng, tận dụng các thành tựu của cách mạng công nghiệp, thúc đẩy phát triển toàn diện Nhưng nếu không có một định hướng rõ ràng hay chính sách đúng đắn, hội nhập kinh tế quốc tế có thể trở thành con dao hai lưỡi, đem lại những khó khăn, thách thức cho các quốc gia Hội nhập kinh tế quốc tế trên toàn thế giới và ở Việt Nam đang ngày càng sâu sắc nhờ quá trình toàn cầu hóa

Hòa vào xu hướng chung của thế giới, Việt Nam đã và đang chủ động tham gia quá trình toàn cầu hóa một cách toàn diện Đối với một nền kinh tế mới và đang phát triển như Việt Nam thì hội nhập kinh tế là tất yếu khách quan để rút dần khoảng cách đối với các quốc gia tiên tiến trên toàn cầu Để thực hiện được điều đó, vấn đề được đề ra là phải nhận thức được những cơ hội và thách thức, đề

ra được những chính sách và cách thức tối ưu nhằm phát triển đất nước một cách bền vững, nhanh chóng, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ hội nhập và phát triển

Là một sinh viên trường Đại học Kinh tế quốc dân, đặc biệt là một sinh viên chuyên ngành Kinh tế quốc tế, em cảm thấy rất quan tâm tới đề tài “Trình bày lý luận của CN Mác – Lênin về hội nhập kinh tế quốc tế và liên hệ thực tiễn

ở Việt Nam” Tuy nhiên, do chưa có nhiều kinh nghiệm và sự hiểu biết còn hạn chế nên em chỉ xin đóng góp một ý kiến, quan điểm riêng của bản thân về vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế Nếu bài viết có sai sót hay có điểm chưa tốt, kính mong cô sẽ giúp đỡ em hoàn thiện bài viết tốt hơn Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

NỘI DUNG

I LÝ LUẬN CỦA CN MÁC – LÊNIN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1 Khái niệm về hội nhập kinh tế quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế của một quốc gia là quá trình quốc gia đó thực hiện gắn kết nền kinh tế của mình với nền kinh tế thế giới dựa trên sự chia sẻ lợi ích, đồng thời tuân thủ các chuẩn mực quốc tế chung

2 Tính tất yếu khách quan của hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ nhất, do xu thế khách quan trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế.

Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế,… trên quy

mô toàn cầu

Toàn cầu hóa diễn ra trên nhiều phương diện như kinh tế, chính trị, văn hóa,

xã hội v.v… trong đó, toàn cầu hóa kinh tế được xem là xu thế chủ đạo vừa là cơ

sở và cũng là động lực thúc đẩy toàn cầu hóa các lĩnh vực khác Toàn cầu hóa kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng các hoạt động kinh tế vượt qua mọi biên giới quốc gia, khu vực, tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trong sự vận động phát triển hướng tới một nền kinh tế thế giới thống nhất

Trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế trở thành tất yếu khách quan: Toàn cầu hóa đã đưa tất cả các nước vào hệ thống phân công lao động quốc tế, các mối liên hệ quốc tế của sản xuất và trao đổi ngày càng tăng, khiến cho nền kinh tế của các nước trở thành một bộ phận và không thể tách rời của nền kinh tế toàn cầu Trong toàn cầu hóa kinh tế, các yếu tố sản xuất được lưu thông trên phạm vi toàn thế giới Do đó, nếu không hội nhập kinh tế

Trang 5

quốc tế, các nước không thể tự đảm bảo các yếu tố cần thiết cho sản xuất trong nước Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra cơ hội để các quốc gia giải quyết các vấn đề toàn cầu cấp bách bằng cách tận dụng các thành tựu của cách mạng công nghiệp, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội

Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế là phương thức phát triển phổ biến của

các nước, đặc biệt là các nước đang và kém phát triển trong điều kiện hiện nay Đối với các nước đang và kém phát triển thì hội nhập kinh tế quốc tế là con đường tắt để tiếp cận và nâng cấp các nguồn lực bên ngoài mà nước đó chưa thể

tự sản xuất như tài chính, khoa học công nghệ, kinh nghiệm của các nước cho sự phát triển của quốc gia Chỉ bằng cách mở cửa nền kinh tế thì các quốc gia kém

và đang phát triển mới có thể tiếp cận và học hỏi được những tiềm lực bên ngoài

từ những quốc gia tiên tiến, từ đó có thể thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế

Hội nhập kinh tế quốc tế là cách có thể giúp cho các nước đang phát triển có thể tận dụng được những cơ hội để phát triển nhằm thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển trên thế giới, giảm thiểu nguy cơ tụt hậu

Hội nhập kinh tế quốc tế giúp mở rộng thị trường, thu hút vốn và công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý; tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới và tăng mức thu nhập của các tầng lớp dân cư

Tuy nhiên, điều các quốc gia đang phát triển cần chú ý là với ưu thế về vốn

và công nghệ, các nước phát triển đang thực hiện ý đồ áp đặt quá trình toàn cầu hóa theo hướng tư bản chủ nghĩa Điều này tạo cho các nước đang phát tiển không ít thách thức, rủi ro, đó là: sự gia tăng nợ nước ngoài, tình trạng bất bình đẳng trong trao đổi mậu dịch – thương mại giữa các nước đang phát triển và tiên tiến Vì vậy, các quốc gia đang và kém phát triển cần phải có chính sách tối ưu, tìm kiếm lộ trình phù hợp để thích ứng với quá trình toàn cầu hóa khó khăn và thách thức

Trang 6

3 Nội dung hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ nhất, chuẩn bị các yếu tố cần thiết để thực hiện hội nhập hiệu quả,

thành công

Hội nhập kinh tế quốc tế là tất yếu khách quan, tuy nhiên, đối với Việt Nam, không phải bằng mọi giá để hội nhập Quá trình hội nhập cần phải được xem xét

kỹ lưỡng với lộ trình và cách thức tối ưu Quá trình này đòi hỏi phải có sự chuẩn

bị kĩ càng, chu đáo đồng thời điều kiện trong nội bộ nền kinh tế và các mối quan

hệ quốc tế phù hợp

Các điều kiện như sẵn sàng về tư duy, sự tham gia của toàn xã hội, sự hoàn thiện và hiệu lực của thể chế, nguồn nhân lực và sự hiểu biết về môi trường quốc tế; năng lực sản xuất của nền kinh tế… là những yếu tố để thực hiện hội nhập thành công

Thứ hai, thực hiện một cách đa dạng các mức độ, hình thức hội nhập kinh

tế quốc tế

Hội nhập kinh tế quốc tế có thể diễn ra theo nhiều cấp độ Tiến trình hội nhập kinh tế được chia thành năm mức độ cơ bản từ thấp đến cao là: Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA), Khu mậu dịch tự do (FTA), Liên minh thuế quan (CU), Thị trường chung (hay thị trường duy nhất), Liên minh kinh tế - tiền tệ Thỏa thuận Thương mại ưu đãi (Preferential Trade Agreement – PTA): Các bên tham gia thỏa thuận hạ thấp một phần hàng rào thương mại hàng hóa cho nhau và duy trì hàng rào đó với các bên thứ ba không tham gia thỏa thuận Ví dụ như Hiệp định về Thỏa thuận Thương mại ưu đãi ASEAN được ký kết tại Manila, Phillipines năm 1977 và được sửa đổi năm 1995

Khu vực Thương mại Tự do (Free Trade Area – FTA): Các bên tham gia thỏa thuận xóa bỏ hầu hết hàng rào thương mại, thuế quan và phi thuế quan cho nhau nhưng vẫn duy trì chính sách thuế quan riêng của mỗi bên đối với các nước

Trang 7

ngoài FTA Ví dụ như Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (hiệp định được ký kết vào năm 1992)

Liên minh Thuế quan (Custom Union – CU): Các bên tham gia hình thành FTA và có chính sách thuế quan chung đối với các nước bên ngoài liên minh Thị trường chung (Common Market – CM): Các nước tham gia hình thành Liên minh Thuế quan đồng thời cho phép sự dịch chuyển tự do của các nhân tố sản xuất là vốn và lao động Khối ASEAN cũng đã thỏa thuận thực hiện được mục tiêu một thị tường chung và một cơ sở sản xuất thống nhất trong toàn khối trong khuôn khổ Cộng đồng Kinh tế ASEAN

Liên minh Kinh tế (Economic Union – EU): Các bên tham gia hình thành thị trường chung đồng thời xây dựng chính sách kinh tế chung toàn liên minh bằng cách hài hòa hóa các chính sách tài khóa và tiền tệ quốc gia

Về hình thức, hội nhập kinh tế quốc tế là toàn bộ các hoạt động kinh tế đối ngoại của một nước bao gồm nhiều hình thức đa dạng như ngoại thương, hợp tác

về sản xuất kinh doanh và khoa học công nghệ, đầu tư quốc tế, hợp tác quốc tế,

Ngoại thương hay thương mại quốc tế là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia thông qua hoạt động xuất nhập khẩu Nội dung của ngoại thương bao gồm: xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa, thuê nước ngoài gia công tái xuất khẩu

Hợp tác về sản xuất kinh doanh và khoa học công nghệ: Hợp tác trong lĩnh vực sản xuất bao gồm gia công, xây dựng xí nghiệp chung, chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất quốc tế,… Hợp tác khoa học công nghệ được thực hiện dưới nhiều hình thức như trao đổi tài liệu – kỹ thuật và thiết kế, mua bán giấy phép, trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ, phối hợp nghiên cứu khoa học – kỹ thuật, hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công nhân

Trang 8

Đầu tư quốc tế (xuất khẩu tư bản) là quá trình đầu tư vốn ra nước ngoài nhàm thực hiện mục đích sinh lợi Có hai loại hình thức đầu tư quốc tế là đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII)

1 Lịch sử hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Năm 1995, Việt Nam gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN, sự kiện này đã đánh một dấu mốc quan trọng trong quá trình hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam

Năm 1996, Việt Nam tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), đánh dấu những bước đi đầu tiên Việt Nam thực hiện chiến lược đối ngoại trên cơ

sở đa phương hóa và đa dạng hóa các mối quan hệ với đối tác, trong đó hợp tác kinh tế là nền tảng quan trọng

Năm 1996 cũng là năm Việt Nam tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á –

Âu (ASEM), có ý nghĩa quan trọng, tạo ra một bước ngoặt, thay đổi tính chất quan hệ giữa các nước châu Á và châu Âu

Năm 1998, Việt Nam tham gia Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), đánh dấu bước đi quan trọng trong tiến trình hộp nhập kinh

tế quốc tế của Việt Nam

Năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại lớn nhất thế giới WTO, mở ra một giai đoạn mới nền kinh tế nước ta hội nhập sâu và toàn diện hơn vào nền kinh tế thế giới

2 Những tác động tích cực của hội nhập kinh tế quốc tế đối với sự phát triển của Việt Nam

Thứ nhất, hội nhập kinh tế quốc tế đã mở rộng thị trường, thúc đẩy thương

mại phát triển, tạo điều kiện cho sản xuất nội địa, phục vụ cho mục tiêu phát

Trang 9

triển, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Bên cạnh đó, hội nhập kinh tế còn tạo điều kiện cho Việt Nam tiếp thu những thành tựu khoa học – công nghệ, vốn

và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước

Đến năm 2020, Việt Nam đã có 30 đối tác và đối tác chiến lược toàn diện, trong đó có tất cả các quốc gia phát triển, 17/20 thành viên G20, toàn bộ các nước ASEAN Bên cạnh đó, Việt Nam đặt quan hệ ngoại giao với 189 quốc gia, có quan hệ kinh tế với 160 quốc gia và 70 vùng lãnh thổ

Với 17 hiệp định thương mại

tự do (FTA) đã và đang đàm phán,

trong đó có 15 hiệp định đã ký kết

và 2 hiệp định đang đàm phán, đã

tạo cơ hội mở rộng và phát triển

thương mại của Việt Nam Đặc

biệt, trong bối cảnh dịch

COVID-19 gây khó khăn không nhỏ cho

thương mại quốc tế, các hiệp định

thương mại như EVFTA, CPTPP,

UKVFTA đã tiếp sức giúp Việt

Nam có thể phục hồi nền kinh tế

sau đại dịch Cụ thể, với thị trường

EU, trong 3 quý đầu của năm 2020,

xuất khẩu sang thị trường này chỉ

đạt 29,44 tỷ USD, giảm 4,7% so

với cùng kỳ năm 2019 Chỉ sau 3

tháng Hiệp định EVFTA được thực

thi, xuất khẩu sang thị trường EU

đạt khoảng 11,08 tỷ USD, tăng 5%

so với cùng kỳ năm 2019

Trang 10

Sau 15 năm trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đã có mặt trong top 20 nền thương mại hàng hóa lớn nhất thế giới Theo Tổng cục Thống

kê, tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước vào năm 2006 chỉ ở mức 84,7 tỷ USD, trong đó xuất khẩu 39,8 tỷ USD, thì đến năm 2021, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt tới 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm 2020 và tăng gấp 7 lần so với năm 2006

Từ 2016 đến nay, cán cân

thương mại luôn đạt thặng dư với mức xuất siêu tăng dần qua các năm, từ 1,77 tỷ USD vào năm 2016 lên 19 tỷ USD vào năm 2020, và năm

2021, dù Việt Nam phải chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch COVID – 19, Việt Nam vẫn đạt mức xuất siêu gần 4 tỷ USD

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã giúp mở rộng thị trường nước ta, thu hút vốn và công nghệ từ nước ngoài Từ năm 1988, tính đến 8/2020, Việt Nam đã thu hút được 32,539 dự án đầu từ nước ngoài từ 137 quốc gia và vùng lãnh thổ, đóng góp trực tiếp vào GDP và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng thị trường xuất khẩu, thực hiện chuyển giao công nghệ và nghiên cứu phát triển Nếu như vào năm 1991, số vốn FDI đăng ký vào Việt Nam là 2,07 tỷ USD, trong đó

số vốn thực hiện là 428,5 triệu USD, chỉ đạt trên 20% số vốn đăng ký Thì ngay sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO,

Trang 11

số vốn FDI đăng ký vào Việt Nam từ 21,35 tỷ USD năm 2007 lên đến 71,73 tỷ USD chỉ riêng năm 2008, cho thấy một kỳ vọng rất lớn

Không những thế, sau 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, nền kinh tế Việt Nam đã có chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cụ thể, kinh tế Việt Nam có sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng hiện đại, giảm dần khu vực 1 gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; tăng phân bổ nguồn lực cho khu vực 2 bao gồm công nghiệp, khai khoáng, xây dựng và khu vực 3 gồm dịch vụ KV1 có tỉ lệ đóng góp vào GDP có xu hướng giảm dần qua các năm: từ 18,17% GDP vào năm 2015 giảm còn 15,34% vào năm 2020 KV2

có tỷ trọng tăng đều với biên độ lớn từ 38,58% GDP vào năm 2015 đến 41,15% GDP vào năm 2020 KV3 chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP, thấp nhất là 43,25% vào năm 2015 và cao nhất là 43,81% vào năm 2017 Như vậy, quá trình hội nhập quốc tế là một yếu tố giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa

Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần quan trọng vào giải quyết

việc làm, nâng cao chất lượng trình độ, kỹ năng của lao động

Sự gia tăng lượng vốn FDI vào Việt Nam đã tạo ra tiền đề để mở rộng quy

mô nền kinh tế và gia tăng cơ hội để các doanh nghiệp tiếp cận, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất, kinh doanh Từ đó, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, việc làm theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được thúc đẩy nhanh hơn Tỷ trọng lao động làm việc trong KV1 đã giảm từ 62,2% năm 2000 xuống còn 40,3% vào năm 2017; ngược lại tỷ trọng lao động làm việc trong KV2 và KV3 đã tăng từ 13,0% và 24,8% vào năm 2000 lên 25,7% và 34,0% vào năm

2017 Hội nhập kinh tế quốc tế còn tạo một môi trường thuận lợi cho khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển sản xuất kinh doanh Khu vực kinh tế này có đóng góp rất lớn trong việc tạo việc làm cho người lao động Tính đến năm 2017, có khoảng hơn 14,600 doanh nghiệp FDI, sử dụng hơn 3,6 triệu lao động, chiếm 6,5% tổng việc làm của nền kinh tế

Ngày đăng: 29/05/2022, 18:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w