1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

vậy người chủ doanh nghiệp sản xuất phải có trách nhiệm gì với người lao động của mình với người cho vay vốn và với người cho thuê mặt bằng để làm nhà xưởng

15 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 48,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả sử mình là chủ doanh nghiệp sản xuất, nhưng phải vay vốn để kinh doanh, lại phải thuê mặt bằng để làm nhà xưởng, vậy người chủ doanh nghiệp sản xuất phải có trách nhiệm gì với người

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

BÀI TIỂU LUẬN MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN

Đề tài 4: Lý luận chung về lợi nhuận, lợi tức và địa tô Giả sử mình là chủ doanh

nghiệp sản xuất, nhưng phải vay vốn để kinh doanh, lại phải thuê mặt bằng để làm nhà xưởng, vậy người chủ doanh nghiệp sản xuất phải có trách nhiệm gì với người lao động của mình? Với người cho vay vốn và với người cho thuê mặt bằng để làm nhà xưởng?

Trang 2

MỤC LỤC

I MỞ ĐẦU 3

1 Trên lý luận 3

2 Trên thực tiễn 3

II NỘI DUNG 4

1 Lý luận chung về lợi nhuận, lợi tức và địa tô 4

1.1 Lý luận về lợi nhuận, lợi tức, địa tô của trường phái kinh tế tư sản cổ điển 4

1.2 Lý luận của C.Mác về lợi nhuận, lợi tức, địa tô 6

3. Liên hệ đề tài “Giả sử mình là chủ doanh nghiệp sản xuất, nhưng phải vay vốn để kinh doanh, lại phải thuê mặt bằng để làm nhà xưởng, vậy người chủ doanh nghiệp sản xuất phải có trách nhiệm gì với người lao động của mình? Với người cho vay vốn và với người cho thuê mặt bằng để làm nhà xưởng?” 8

4 Thái độ, trách nhiệm công dân của sinh viên 12

III KẾT LUẬN 13

TÀI LIỆU THAM KHẢO N14

Trang 3

I MỞ ĐẦU

1 Trên lý luận

Mác đã cống hiến cả cuộc đời mình vào một xã hội tốt đẹp, công bằng văn minh đó chính là CNXH Ông đã để lại cho nhân loại rất nhiều tác phẩm Học thuyết giá trị thặng dư và chủ nghĩa duy vật lịch sử là hai phát kiến vĩ đại nhất của Mác Nhận thức của toàn nhân loại đã được thay đổi nhờ hai phát kiến này Với hai phát kiến này, Mác

đã biến CNXH không tưởng thành CNXH khoa học Đã trải qua gần hai thế kỷ nhưng những giá trị của hai phát kiến này vẫn được giữ nguyên

Bản chất bóc lột của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được che giấu nhờ lợi ích bình quân bởi vì tưởng chừng nó không có quan hệ gì đến khối lượng giá trị thặng dư do lao động làm gia tuy nhiên việc nghiên cứu của Mác đã bị vạch trần bản chất bóc lột tàn bạo và tinh vi của chủ nghĩa tư bản với công nhân Trong đó ông đã phân tích một cách đầy đủ và có hệ thống toàn bộ phạm trù kinh tế của chủ nghĩa tư bản, tìm ra quy luật,

sự phát sinh, phát triển và chuyển hóa của các phạm trù đó Có thể nói học thuyết kinh

tế của Mác là một học thuyết kinh tế chính trị học và sáng tạo mọi vấn đề về lý luận và thực tiễn của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Bên cạnh đó nó giúp ta thấy được sự phát triển lý luận giá trị và giá trị thặng dư của Mác theo tiến trình đi từ trừu tượng đến cụ thể và nó còn phản ánh quan hệ cạnh tranh giữa các nhà tư bản trong việc giành giật lợi nhuận với nhau Lý luận của Mác đã góp phần thức tỉnh sự nhận thức của giai cấp công nhân, giác ngộ và cung cấp cho họ mét vũ khí lý luận khoa học, sắc bén cho cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, đồng thời để lại những giá trị lý luận cho sự phát triển kế tiếp các học thuyết kinh tế hiện đại sau này

2 Trên thực tiễn

Đối với một nước đang trong quá trình quá độ lên CNXH như nước ta thì việc nhận thức và vận dụng các học thuyết của Mác, đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư là một vấn đề cực ký quan trọng và làm kim chỉ nam để đi đến đích cuối cùng Với một nền kinh tế đang chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường như nước ta, xuất phát từ nhận thức trên thì không ai khác, không quốc gia nào khác có thể tìm ra đường lối phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện tình hình hiện nay Chúng ta phải hiểu rõ nguồn gốc, bản chất của các yếu tố bên trong của nền kinh tế là yêu cầu cần phải đặt ra, đặc biệt là những yếu tố chính giúp thúc đẩy nền kinh tế thị trường Một trong những yếu tố đó chính là lợi nhuận

Vậy thế nào là lợi nhuận? Nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận là gì và lợi nhuận đóng vai trò như thế nào trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường Đây cũng là những vấn đề cấp thiết đòi hỏi cần đưa ra lời giải đáp nhanh chóng, phù hợp với tình hình trong điều kiện phát triển hiện nay Đây cũng chính là lý do thúc đẩy em chọn đề tài “

Lý luận chung về lợi nhuận, lợi tức và địa tô Giả sử mình là chủ doanh nghiệp sản

Trang 4

xuất, nhưng phải vay vốn để kinh doanh, lại phải thuê mặt bằng để làm nhà xưởng, vậy người chủ doanh nghiệp sản xuất phải có trách nhiệm gì với người lao động của mình? Với người cho vay vốn và với người cho thuê mặt bằng để làm nhà xưởng?” Đây là một vấn đề có tầm quan trọng lớn Quá trình nghiên cứu nó phải xuất phát từ các quan điểm của các học thuyết trước Mác kết hơp với quan điểm của Mác và thực tiễn hiện nay Chính vì vậy bài tiểu luận không tránh khỏi những thiếu sót, em mong

cô có thể thông cảm và góp ý để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn

II NỘI DUNG

1 Lý luận chung về lợi nhuận, lợi tức và địa tô

1.1 Lý luận về lợi nhuận, lợi tức, địa tô của trường phái kinh tế tư sản cổ điển

Lợi nhuận trong kinh doanh là một đề tài nghiên cứu, tranh luận của nhiều trường phái, nhiều nhà lí luận kinh tế ngay khi có hoạt động sản xuất, trao đổi và mua bán hàng hóa

William Petty không trình bày lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp: ông trình bày hai hình thái giá trị thặng dư là địa tô và lợi tức Theo ông, số chênh lệch giữa thu nhập bán hàng và chi phí sản xuất là địa tô Chi phí sản xuất bao gồm tiền lương và giống má Trong khái niệm về địa tô của William Petty, một mặt ông đã đồng nhất địa

tô với lợi nhuận , mặt khác, ta có thể rút ra khái niệm logic: Giá trị thặng dư là số chênh lệch giữa giá trị hàng hóa và chi phí sản xuất Từ luận điểm này, CMac cho rằng, công lao của William Petty là đã chỉ ra nguồn gốc của giá trị thặng dư, mầm mống lý luận về bóc lột theo lối tư bản chủ nghĩa William Petty đã nghiên cứu địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối Về lợi tức ông cho rằng, tô của tiền là lợi tức, mức lợi tức phụ thuộc vào mức địa tô Như vậy William Petty đã cho rằng lợi nhuận là khoản dôi ra so vơi chi phí sản xuất và William Petty cho rằng phần lợi nhuận dôi ra phụ thuộc vào nhà tư bản là hợp lý Đó là công lao về sự mạo hiểm của nhà tư bản ứng tiền

ra sản xuất

Adam – Smith là người đầu tiên trong số các nhà kinh tế học cổ điển đã nghiên cứu khá toàn diện về nguồn gốc và bản chất của lợi nhuận Ông xuất phát từ quan điểm, giá trị trao đổi của mọi hàng hóa là do lao động sản xuất ra hàng hóa đó quyết định, để từ

đó đặt nền tảng cho các lý thuyết về kinh tế thị trường Theo A.Smith: Nếu chất lượng của lao động chi phí cho việc sản xuất ra một sản phẩm nào đó càng lớn về giá trị và

do đó giá trị trao đổi của nó cũng càng lớn Ông khẳng định giá trị của một hang hóa qui định giá trị trao đổi: Trong cấu thành giá trị của hàng hóa tiền lương,địa tô và lợi nhuận Theo A.Smith, lợi nhuận của nhà tư bản được tạo ra trong quá trình sản xuất, là hình thái biểu hiện khác của giá trị thặng dư, tức phần giá trị do lao động không được trả công tạo ra Ông đã định nghĩa: “Lợi nhuận là khoản khấu trừ vào giá trị sản phẩm

do người lao động tạo ra.” Nguồn gốc của lợi nhuận do toàn bộ tư bản

Trang 5

đầu tư đẻ ra trong lĩnh vực sản xuất và lưu thông Lợi nhuận là nguồn gốc của các thu nhập trong xã hội và của mọi giá trị trao đổi

Adam – Smith cho rằng không chỉ có lao động nông nghiệp mà cả lao động công nghiệp cũng tạo ra lợi nhuận Nhà tư bản tiền tệ cho nhà tự bản sản xuất vay vốn và nhận được lợi tức từ việc cho vay Đó là một biểu hiện khác của lợi nhuận được tạo ra trong sản xuất Chính các nhà tư bản (cho vay – sản xuất) sẽ thỏa thuận để phân chia giá trị thặng dư được tạo ra từ sản xuất – kinh doanh tư bản chủ nghĩa Sản xuất tư bản chủ nghĩa các phát triển thì tính cạnh tranh càng quyết liệt A.Smith còn phát hiện việc phân chia lợi nhuận theo tỷ suất lợi nhuận bình quân và khi quy mô đầu tư tư bản càng lớn thì tỷ suất lợi nhuận có xu hướng giảm sút

- Khi ruộng đất trở thành sở hữu tư nhân thì địa tô chỉ là khoản khấu trừ thứ nhất vào sản phẩm lao động Ông coi địa tô như là tiền trả về việc sử dụng đất đai Độc quyền tư hữu ruộng đất là điều kiện chiếm hữu địa tô

Qui mô địa tô nhiều hay ít là kết quả của giá cả sản phẩm, ông coi địa tô là giá cả của độc quyền

- Ông phân biệt được địa tô và lợi tức do tư bản đầu tư vào đất đai Theo cách giải thích của ông thì địa tô là hình thái giá trị thặng dư

- Ông phân biệt được địa tô chênh lệch do độ màu mỡ đất đai nhưng lại không đi sâu vào nghiên cứu vấn đề này

Ông chỉ ra mức độ địa tô trên mảnh đất, ruộng là do thu nhập của mảnh đất ruộng đó đem lại và ông chỉ ra rằng địa tô trên những mảnh ruộng canh tác chủ yếu quyết định địa tô trên ruộng đất trồng cây khác

Tuy còn những sai lầm trong hệ thống lý luận của mình nhưng A.Smith đã chỉ ra được rằng: Nguồn gốc thực sự cho giá trị thặng dư là do lao động tạo ra, còn lợi nhuận, địa tô, lợi tức chỉ là biến thể, là hình thái biểu hiện khác nhau của giá trị thặng dư mà thôi

D.Ricacdo và những người kế tục đã xây dựng học thuyết kinh tế của mình trên cơ sở những tiền đề và phát triển của A.Smith, D.Ricacdo cũng hoàn toàn dựa vào lý luận giá trị lao động để phân tích rõ nguồn gốc và bản chất của lợi nhuân trong sản xuất kinh doanh tư bản chủ nghĩa

D.Ricacdo đã khẳng định: Lao động là nguồn gốc của giá trị và giá trị hàng hóa sản phẩm lao động phân thành được các nguồn thu nhập tiền lương, địa tô, lợi nhuận Ông kết luận: Lợi nhuận chính là phần giá trị lao động thừa ra ngoài tiền công, lợi nhuận là lao động không được trả công, số chênh lệch đó chính là lợi nhuận Ông thấy được quan hệ mẫu thuẫn giữa tiền lương và lợi nhuận: Việc hạ thấp tiền lương

Trang 6

cho lợi nhuận tang và ngược lại tiền lương tăng làm cho lợi nhuận giảm, còn giá trị hàng hóa không thay đổi Ông nhận thấy sự đối lập giữa tiền lương và lợi nhuận, tức

sự đối lập lợi ích kinh tế của công nhân và các nhà tư bản

Phân tích sâu hơn sự vận động của lợi nhuận trong sản xuất tư bản chủ nghĩa, D.Ricacdo đã nhận định: Nếu tư bản được đầu tư vào sản xuất những đại lượng bằng nhau, sẽ nhận được những lợi nhuân như nhau và bình quân hóa lợi nhuận là một xu hướng khách quan của sản xuất – kinh doanh tư bản chủ nghĩa Về quan hệ giữa tiền công và lợi nhuận, ông cho rằng: lợi nhuận phụ thuộc vào mức tang năng suất và đối nghịch với tiền công

Tương đối khác biệt với các học thuyết giá trị lao động ở trên, Jan Batitxay cho rằng: Bản chất lợi nhuận là phần thưởng thích đáng cho việc mạo hiểm đầu tư tư bản để kinh doanh, là hình thức tiền công đặc biệt mà nhà tư bản trả lại cho mình

Jan Batitxay đưa ra nguyên tắc phân phối thu nhập trong xã hội tư sản: Công nhân làm thuê nhận được tiền công từ sản phẩm lao động

Chủ ruộng đất nhận được địa tô từ việc chuyển nhượng quyền sử dụng cho các nhà tư bản chủ nghĩa

Chủ tư bản được lợi nhuận là các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

- Ông bác bỏ những lý luận địa tô là sản vật của những lực lượng tự nhiên hay do năng suất lao động đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp đem lại Ông cho rằng địa tô là biểu hiện của sự bần cùng, là nguyên nhân của nạn đói, ông lên án địa tô

- Để giải thích địa tô, ông hoàn toàn dựa vào quy luật giá trị, ông cho rằng địa tô không đi ngược với quy luật giá trị mà đi theo quy luật giá trị Ông cho rằng giá trị nông sản hình thành trên điều kiện “ruộng đất xấu nhất” vì ruộng đất là có yếu tố giới hạn Tư bản kinh doanh trên ruộng đất tốt và trung bình thu được nhiều lợi nhuận thì lợi nhuận này phải nộp cho địa chủ, ông phê phán tư tưởng ăn bám địa chủ, thu địa tô qua nhân danh sở hữu ruộng đất

- Ông thừa nhận cái gọi là địa tô chênh lệch, nghĩa là sự chênh lệch giữa các vùng đất tốt và đất xấu khác nhau

1.2 Lý luận của C.Mác về lợi nhuận, lợi tức, địa tô

Kế thừa những nguyên lý đúng đắn, khoa học của những nhà lý luận tiền bối, C.Mác

đã nghiên cứu một cách toàn diện và triệt để về nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận trong kinh doanh tư bản chủ nghĩa Dựa trên lý luận lao động, lấy sản xuất tư bản chủ nghĩa làm đối tượng nghiên cứu, phân tích, C.Mác đã phát hiện và làm rõ toàn bộ quá trình sản xuất giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản – điều mà các vị tiền bối của ông chưa làm được C.Mác đã khẳng định: Về nguồn gốc lợi nhuận là do lao động làm

Trang 7

thuê tạo ra, về bản chất thì lợi nhuận là hình thái biểu hiện của giá trị thặng dư, và kết quả của lao động không được trả công, do nhà tư bản chiếm lấy, là quan hệ bóc lột và

nô dịch lao động trong xã hội tư bản chủ nghĩa Khi truy tìm nguồn gốc, bản chất của lợi nhuận, C.Mác viết: “Giá trị thặng dư được quan niệm là toàn bộ con đẻ của tư bản ứng trước, mang hình thái chuyển hóa là lợi nhuận và “giá trị thăng dư (là lợi nhuận) là phần giá trị dôi ra của giá trị hàng hóa so với chi phí sản xuất của nó, nghĩa là phần dôi

ra của tổng số lượng lao động chứa đựng trong hàng hóa với số lượng lao động được trả công chứa đựng trong hàng hóa.”

Vượt trên tất cả những nhà lý luận trước đây, C.Mác đã phân tích tất cả các khía cạnh khác nhau của lợi nhuận, sự hình thành lợi nhuận và sự vận động của quy luật lợi nhuận bình quân, xuyên qua các quan hệ kinh tế là các quan hệ chính trị - xã hội của phạm trù lợi nhuận Là nhà tư tưởng vĩ đại của giai cấp công nhân, sự nghiên cứu về kinh tế của C.Mác là cơ sở, là phương tiện vạch rõ những mâu thuẫn nội tại của xã hội

tư bản, những mâu thuẫn đối kháng đẩy chủ nghĩa tư bản đến chỗ tất yếu bị diệt vong, xây dựng học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp

Lợi nhuận được xem như một cựa đối lập với tiền lương trong cơ chế phân phối thu

nhập tư bản chủ nghĩa C.Mác viết: “Giá cả sức lao động biểu hiện ra dưới hình thức

chuyển hóa là tiền công, nên ở cực đối lập, giá trị thặng dư biểu hiện ra dưới hình thức chuyển hóa là lợi nhuận” Trong doanh nghiệp tư bản chủ nghĩa, để theo đuổi

mục tiêu của lợi nhuận tiền trả cho việc thuê sức lao động có xu hướng giảm sút Mác

tóm tắt như sau: “Tiền công và lợi nhuận là tỷ lệ nghịch với nhau” Giá trị trao đổi tư

bản, tức là lợi nhuận tang lên theo tỷ lệ mà giá trị trao đổi của lao động tức là lao động

tiền công giảm xuống và ngược lại “Lợi nhuận tăng lên theo mức độ mà tiền lương

giảm xuống và giảm xuống theo mức độ tiền công tăng lên” Và “lợi nhuận tăng lên không phải vì tiền công đã sụt xuống vì lợi nhuận tăng lên”.

Tóm lại, hầu hết các nhà lý luận khi xây dựng học thuyết kinh tế của mình đều cố gắng vạch rõ bản chất, nguồn gốc của lợi nhuận của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Tiền lương, lợi nhuận, lợi tức, địa tô được xem là những vấn đề trọng yếu của các lý thuyết kinh tế

2 Thực tiễn ở Việt Nam về lợi nhuận, lợi tức và địa tô

Trước năm 1986 nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế chỉ huy, nhà nước kiểm soát hầu hết các phương tiện sản xuất Để đảm bảo cho điều đó thực hiện được nhà nước cần phải kiểm soát giá cả, tiền lương, sự phân phối hàng hóa hóa dịch vụ sao cho doanh nghiệp nhà nước có thể đạt được lợi nhuận độc quyền Phần lớn lợi nhuận độc quyền

đó được chuyển vào ngân sách nhà nước Về phía các nhà doanh nghiệp, người lao động cống hiến sức lao động của họ vào việc tạo ra lợi nhuận mà chỉ được hưởng một

Trang 8

nhuận không dựa trên các nhân tố kích thích được xác định thông qua thị trường mà dựa trên hệ thống định mức đánh giá công lao của cá nhân tương ứng với vị trí của nó

Do đó, nền kinh tế gặp phải những khó khan

Cuộc cải cách kinh tế năm 1986 đã đem lại một số thành tựu đáng khích lệ Tính năng động của nền kinh tế thị trường đã phát triển mạnh, nền kinh tế xã hội phát triển đời sống nhân dân được nâng cao, xóa bỏ sự trì trệ của cơ chế cũ phát huy được nội lực, kiềm chế đẩy lùi lạm phát Lợi nhuận là mục đích của nền kinh tế thị trường Nền kinh

tế nước ta cũng nhằm mục đích lợi nhuận nhưng không theo đuổi lợi nhuận thông thường Xuất phát từ đặc điểm nước ta là nước xã hội chủ nghĩa nên theo đuổi lợi nhuận ở nước ta phải đảm bảo nhiệm vụ: sản xuất kinh doanh phải có lãi, kết hợp giải quyết với những vấn đề về kinh tế xã hội, đời sống nhân dân

3. Liên hệ đề tài “Giả sử mình là chủ doanh nghiệp sản xuất, nhưng phải vay vốn

để kinh doanh, lại phải thuê mặt bằng để làm nhà xưởng, vậy người chủ doanh nghiệp sản xuất phải có trách nhiệm gì với người lao động của mình? Với người cho vay vốn và với người cho thuê mặt bằng để làm nhà xưởng?”

Ngày nay, các chủ sở hữu doanh nghiệp vừa và nhỏ có xu hướng tìm kiếm các dịch vụ

hỗ trợ tài chính, chẳng hạn như vay vốn nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh doanh Các khoản vay sẽ giúp hỗ trợ các nhu cầu về vốn một cách nhanh chóng, cho phép các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiết kiệm thời gian, tiếp cận nhiều cơ hội mới và phát huy lợi thế cạnh tranh trên thị trường

Quan trọng hơn cả, chủ doanh nghiệp cần phải hiểu rõ các quy trình đăng ký khoản vay của ngân hàng, để từ đó có sự chuẩn bị thật kĩ lưỡng khi tìm kiếm các nguồn hỗ trợ tài chính và gia tăng cơ hội thành công

Việc đầu tiên và không kém phần quan trọng khi đăng ký vay vốn, là doanh nghiệp phải hiểu rõ về mục đích cho khoản vay đang mong muốn Tùy nhu cầu của doanh nghiệp, tất cả mục đích vay vốn cần được liệt kê rõ ràng, chi tiết ví dụ như cần vốn để thu mua tài sản cố định, hay mở rộng kinh doanh, hoặc đơn giản để giải quyết vấn đề thu mua nguyên vật liệu và sản xuất hàng hóa Theo đó doanh nghiệp cần chuẩn bị một

kế hoạch kinh doanh chi tiết kèm theo những giấy tờ liên quan, chiến lược tăng trưởng hay kế hoạch phát triển doanh nghiệp cụ thể sẽ giúp chứng minh cho ngân hàng hiểu rõ mục đích vay vốn của doanh nghiệp

Khi xét duyệt hồ sơ vay, ngân hàng cũng sẽ xem xét những nguồn tài sản hiện hữu để xác định xem doanh nghiệp có đủ khả năng trả nợ cho khoản vay được yêu cầu hay không Họ cũng cân nhắc đến việc yêu cầu thêm thông tin về dòng tiền để hỗ trợ cho các khoản chi phí và cam kết trả nợ của doanh nghiệp Dòng tiền thu vào càng mạnh càng chứng minh doanh nghiệp có đủ khả năng chi trả đúng hạn và có khả năng quản

Trang 9

lí các chi phí phát sinh ngoài dự kiến Điều này sẽ giúp xây dựng lòng tin của người phê duyệt khoản vay dành cho doanh nghiệp

Các ngân hàng cũng cần xác định tình hình tài chính của doanh nghiệp Hãy luôn chuẩn bị sẵn báo cáo tài chính kịp thời để giúp doanh nghiệp tránh tình trạng vội vàng vào phút cuối khi cần chuẩn bị tài liệu cho đơn xin vay vốn của mình Các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tham khảo sử dụng các công cụ kế toán trực tuyến để tối ưu quy trình báo cáo tài chính

Nguồn tài sản thế chấp sẽ giúp chứng minh cho ngân hàng thấy rằng doanh nghiệp có thể đảm bảo cho việc chi trả các khoản vay khi có bất kì sự cố nào xảy ra Các nguồn tài sản thế chấp thông dụng bao gồm bất động sản hay trang thiết bị Ngoài ra, các hàng hóa đang lưu kho hay hóa đơn thương mại chưa thanh toán cũng có thể dùng làm tài sản thế chấp

Các sản phẩm vay thế chấp thuộc loại này bao gồm vay mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển thương mại hoặc vay đầu tư tài sản cố định Tuy nhiên, cần lưu ý rằng yêu cầu tài sản thế chấp sẽ thay đổi tùy thuộc từng loại sản phẩm vay mà doanh nghiệp đăng ký Ngoài ra, các ngân hàng hiện cũng có các chương trình vay tín chấp dành cho các doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến Loại hình vay này giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ giảm thiểu rủi ro và rào cản khi thâm nhập thị trường, quản

lý dòng tiền linh hoạt và nhanh chóng nhằm thúc đẩy phát triển doanh nghiệp

Sử dụng vốn vay từ ngân hàng là một lựa chọn hiệu quả giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ vượt qua các giới hạn về nguồn lực và thúc đẩy tăng trưởng kinh doanh Muốn vay vốn thành công, các doanh nghiệp nên nghiên cứu và chuẩn bị thật kỹ hồ sơ; đảm bảo tuân thủ đúng quy trình và tiêu chí mà ngân hàng yêu cầu

Trách nhiệm của chủ doanh nghiệp với người lao động

Để doanh nghiệp phát triển bền vững, coi trọng người lao động là vấn đề được chủ các doanh nghiệp hết sức quan tâm Trong đó, việc chăm lo phúc lợi cho người lao động là vấn đề không thể thiếu

Trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động và cải thiện điều kiện lao động cho người lao động

- Việc xây dựng mới hoặc mở rộng, cải tạo cơ sở để sản xuất, sử dụng, bảo quản, lưu giữ và tàng trữ các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động phải có luận chứng về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với nơi làm việc của người lao động và môi trường xung quanh theo quy định của pháp luật

Trang 10

Danh mục các loại máy, thiết bị , vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động do Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành

- Việc sản xuất, sử dụng, bảo quản, vận chuyển các loại máy, thiết bị, vật tư, năng lượng, điện, húa chất, thuốc bảo vệ thực vật, việc thay đổi công nghệ, nhập khẩu công nghệ mới phải được thực hiện theo tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động Các loại máy, thiết bị, vật tư, các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động, vệ sinh lao động phải được đăng ký và kiểm định theo quy định của Chính phủ

- Người sử dụng lao động phải bảo đảm nơi làm việc đạt tiêu chuẩn về không gian, độ thoáng, độ sáng, đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép về bụi, hơi, khí độc, phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung và các yếu tố có hại khác Các yếu tố đó phải được định kỳ kiểm tra đo lường

- Người sử dụng lao động phải định kỳ kiểm tra, tu sửa máy, thiết bị, nhà xưởng, kho tàng theo tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động;

- Người sử dụng lao động phải có đủ các phương tiện che chắn các bộ phận dễ gây nguy hiểm của máy, thiết bị trong doanh nghiệp; nơi làm việc, nơi đặt máy, thiết bị, nơi

có yếu tố nguy hiểm, độc hại trong doanh nghiệp, phải bố trí đề phòng sự cố, có bảng chỉ dẫn về an toàn lao động, vệ sinh lao động đặt ở vị trí mà mọi người dễ thấy, dễ đọc;

- Trong trường hợp nơi làm việc, máy thiết bị có nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, người sử dụng lao động phải thực hiện ngay những biện pháp khắc phục hoặc phải ra lệnh ngừng hoạt động tại nơi làm việc và đối với máy, thiết bị đó cho tới khi nguy cơ được khắc phục;

- Nơi làm việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại, dễ gây tai nạn lao động phải đuợc người

sử dụng lao động trang bị phương tiện kỹ thuật, y tế và trang bị bảo hộ lao động thích hợp để bảo đảm ứng cứu kịp thời khi xảy ra sự cố, tai nạn lao động;

- Người sử dụng lao động phải bảo đảm các phương tiện bảo vệ cá nhân đạt tiêu chuẩn chất lượng và quy cách theo quy định của pháp luật;

- Khi tuyển dụng và sắp xếp lao động, người sử dụng lao động phải căn cứ vào tiêu chuẩn sức khoẻ quy định cho từng loại việc, tổ chức huấn luyện, hướng dẫn, thông báo cho người lao động về những quy định, biện pháp an toàn, vệ sinh và những khả năng tai nạn cần đề phòng trong công việc của từng người lao động;

- Người lao động làm việc ở nơi có yếu tố gây nhiễm độc, nhiễm trùng, khi hết giờ làm việc phải được người sử dụng lao động bảo đảm các biện pháp khử độc, khử trùng, vệ sinh cá nhân;

Ngày đăng: 29/05/2022, 18:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w