TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA: KINH TẾ VÀ QUẢN LÍ NGUỒN NHÂN LỰC - ---BÀI TẬP LỚN MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN Đề 1: Lí luận về sản xuất hàng hóa và vận dụng trong phát triển
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA: KINH TẾ VÀ QUẢN LÍ NGUỒN NHÂN LỰC
-
-BÀI TẬP LỚN MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN
Đề 1: Lí luận về sản xuất hàng hóa và vận dụng trong phát triển kinh tế
thị trường ở Việt Nam hiện nay
Họ tên: Hoàng Minh Quyên
Mã sinh viên: 11203323 Lớp: Kinh tế chính trị Mác-Lênin_17
Trang 2Mục Lục
A Lời nói đầu 1
B Nội Dung: 2
I Lý lu n ậvềề s nả xuấất hàng hoá. 2 1 Khái niệm sản xuất hàng hoá 2
2 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá 2
3 Sơ lược về lịch sử phát triển của sản xuất hàng hoá .4
4 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá 4
II Thực trạng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam: 6
1 Thực trạng: 6
2.Đánh giá thực trạng : 9
III Gi i phápả phát tri n ểnềền kinh tềấ thị trường Việt Nam: 12 C Tài liệu tham khảo 16
Trang 3A Lời nói đầu.
Tháng 12/1986 tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ
VI Đảng và Nhà nước đã ra quyết định quan trọng về việc đổi mới nền kinh tế, chuyển
từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp lên nền kinh tế sản xuất hàng hóa nhiều thành phần
Từ đó, nền sản xuất hàng hóa đã trở thành nền tảng, động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước Góp phần giúp nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập với sự đi lên không ngừng của khu vực và thế giới, đạt được nhiều thành tựu quan trọng Tuy nhiên quá trình này vẫn xuất hiện nhiều hạn chế, thiếu xót trong khi triển khai thực hiện Bởi vậy cần có quá trình không ngừng tìm tòi, sửa đổi và cải cách để hoàn thiện sản xuất hàng hóa nói riêng và quá trình phát triển kinh tế nói chung
Hơn bao giờ hết, đây là thời điểm vàng để Đảng và Nhà nước đưa ra những quyết định, điều chỉnh sáng suốt để đưa nền kinh tế đi lên Để đưa ra được những ý kiến chỉ đạo sáng suốt nhất, cần có một cơ sở lý luận làm kim chỉ nam dẫn đường Lý luận đó không thể nào xa rời chủ nghĩa Mác – Lênin Từ sự tâm đắc với đề tài và mong muốn được tìm tòi, học hỏi , tiếp thu nhiều kiến thức từ môn Kinh tế chính trị, em quyết định chọn đề
bài : “ Lý luận về sản xuất hàng hóa và vận dụng trong phát triển kinh tế thị trường ở
Việt Nam hiện nay.”
Với kiến thức và kinh nghiệm bản thân còn hạn chế, em tự thầy mình còn nhiều thiếu xót, rất mong nhận được sự đánh giá, nhận xét và đóng góp ý kiến của thầy để bài viết của em được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4B Nội Dung:
I Lý luận về sản xuất hàng hoá.
1 Khái niệm sản xuất hàng hoá.
Theo C.Mác sản xuất hàng hoá là kiểu tổ chức hoạt động kinh tế mà ở đó, những người sản xuất ra sản phẩm nhằm mục đích trao đổi, mua bán
Kinh tế hàng hoá là mô hình kinh tế mà trong đó hầu hết các quan hệ kinh tế được thực hiện trên thị trường dưới hình thái hàng hoá và dịch vụ, vận động theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước Kinh tế hàng hoá cũng chính là sản xuất hàng hoá được hiểu theo nghĩa rộng (bao gồm cả quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá)
2 Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá
Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế: sản xuất tự cấp, tự túc (kinh tế tự nhiên) và sản xuất hàng hoá
Sản xuất tự cấp, tự túc thường lạc hậu, trì trệ, thiếu động lực phát triển do quá trình sản xuất chỉ gồm hai khâu chính là sản xuất và tiêu dùng, sản phẩm sản xuất ra chỉ để thoả mãn nhu cầu của chính người sản xuất ra nó
Tuy nhiên xã hội ngày càng phát triển, phân công lao động ngày càng mở rộng thì dần dần xuất hiện trao đổi hàng hoá Khi trao đổi hàng hoá trở thành nhu cầu, mục đích thường xuyên của sản xuất thì sản xuất hàng hoá ra đời Sản xuất hàng hoá không xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của xã hội loài người Sản xuất hàng hoá ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, xoá bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội
Sản xuất hàng hoá có thể hình thành và phát triển khi có đủ hai điều kiện sau: phân công lao động xã hội; sự tách biệt về mặt kinh tế của các chủ thể sản xuất
Trang 52.1 Phân công lao động xã hội
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội thành các ngành, nghề khác nhau Phân công lao động xã hội tạo ra sự chuyên môn hóa lao động, do đó dẫn đên chuyên môn hóa sản xuất Do phân công lao động xã hội nên mỗi người sản xuất chỉ tạo
ra một hoặc một vài loại sản phẩm nhất định Song cuộc sống của mỗi người lại cần đến rất nhiều loại sản phẩm khác nhau Để thỏa mãn nhu cầu, đòi hòi họ phải có mối liên hệ phụ thuộc vào nhau, phải trao đổi sản phẩm cho nhau
Tuy nhiên, phân công lao động xã hội mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại C.Mác viết: "Trong công xã Ấn Độ thời cổ đại, lao động
đã có sự phân công xã hội, nhưng các sản phẩm lao động không trở thành hàng hóa Chỉ có sản phẩm của nhũng lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là những hàng hóa" Vì vậy, muốn sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại phải có điều kiện thứ hai
2.2 Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất.
Sự tách biệt này do các quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, mà khởi thủy là chế độ tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, đã xác định người sở hữu tư liệu sản xuất là người sở hữu sản phẩm lao động
Như vậy, chính quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã làm cho những người sản xuất độc lập, đối lập với nhau, nhưng họ lại nằm trong hệ thống phân công lao động
xã hội nên họ phụ thuộc lẫn nhau về sản xuất và tiêu dùng Trong điều kiện ấy người này muốn tiêu dùng sản phẩm cùa người khác phải thông qua việc mua – bán hàng hóa, tức là phải trao đổi dưới những hình thái hàng hóa Sản xuất hàng hóa chỉ ra đời khi có đồng thời hai điều kiện nói trên, nếu thiếu một trong hai điều kiện ấy thì không có sản xuất hàng hóa và sản phẩm lao động không mang hình thái hàng hóa
Trong lịch sử, sự tách biệt này do chế độ tư hữu về tư hữu tư liệu sản xuất quy định Trong chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của mỗi cá nhân và kết quả là sản phẩm làm ra thuộc quyền sở hữu của họ
Trang 63 Sơ lược về lịch sử phát triển của sản xuất hàng hoá.
Sản xuất hàng hoá ra đời từ sản xuất tự cấp, tự túc và thay thế nó trong quá trình lịch sử lâu dài Ở các xã hội trước chủ nghĩa tư bản, sản xuất hàng hoá là sản xuất giản đơn đã tạo ra khả năng phát triển lực lượng sản xuất, thiết lập các mối liên hệ kinh tế giữa các đơn vị kinh tế trước đó vốn tách biệt nhau Quan hệ hàng hoá phát triển nhanh chóng ở thời kỳ chế độ phong kiến tan rã và thúc đẩy quá trình đó diễn ra mạnh mẽ hơn
Hình thức điển hình nhất, cao nhất, phổ biến nhất của sản xuất hàng hoá là sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa Dưới chủ nghĩa tư bản, quan hệ hàng hoá thâm nhập vào mọi chức năng và trở thành tế bào của nền sản xuất xã hội Nó mang đặc điểm dựa trên
sự tách rời tư liệu sản xuất với sức lao động, trên cơ sở bóc lột sức lao động làm thuê dưới hình thức chiếm đoạt giá trị thặng dư
Sản xuất hàng hoá tiếp tục tồn tại và phát triển dưới chế độ chủ nghĩa xã hội Đặc điểm của sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa là nó không dựa trên cơ sở chế độ của người bóc lột người và nó nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của mọi thành viên
xã hội trên sơ sở sản xuất kinh doanh
4 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá
Sản xuất hàng hóa có những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, sản xuất hàng hóa là sản xuất để trao đổi, mua bán:
Trong lịch sử loài người tồn tại hai kiểu tổ chức kinh tế khác nhau là sản xuất tự cung,
tự cấp và sản xuất hàng hóa Sản xuất tự cung, tự cấp là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính bản thân người sản xuất như sản xuất của người dân trong thời kỳ công xã nguyên thủy, sản xuất của những người nông dân gia trưởng dưới chế độ phong kiến…
Trang 7Ngược lại, sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất
ra để bán chứ không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó, tức là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán
Thứ hai, lao động của người sản xuất hàng hóa vừa mang tính tư nhân, vừa mang tính
xã hội:
Lao động của người sản xuất hàng hóa mang tính chất xã hội vì sản phẩm làm ra để cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của người khác trong xã hội
Nhưng với sự tách biệt tương đối về kinh tế, thì lao động của người sản xuất hàng hóa đồng thời lại mang tính chất tư nhân, vì việc sản xuất cái gì, như thế nào là công việc riêng, mang tính độc lập của mỗi người
Tính chất tư nhân đó có thể phù hợp hoặc không phù hợp với tính chất xã hội Đó chính
là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hóa Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội là cơ sở, mầm mống của khủng hoảng trong nền kinh tế hàng hóa
4.2 Ưu thế của nền sản xuất hàng hoá
Một là, thúc đẩy sự phân công lao động xã hội, làm cho sự chuyên môn hoá ngày càng
tăng, mối liên hệ giữa các ngành, các vùng ngày càng mở rộng và sâu sắc Từ đó phá vỡ tính tự cấp tự túc, bảo thủ, trì trệ, lạc hậu của mỗi ngành, mỗi địa phương làm năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng, nhu cầu xã hội được đáp ứng đầy đủ hơn
Hai là, tính tách biệt về kinh tế đòi hỏi người sản xuất hàng hoá phải năng động trong
sản xuất – kinh doanh để sản xuất và tiêu thụ hàng hoá Muốn vậy họ phải ra sức cải
tiến kĩ thuật, hợp lý hoá sản xuất, nâng cao chất lượng, cải tiến quy trình, mẫu mã hàng hoá… Từ đó làm tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Trang 8Ba là, sản xuất hàng hoá quy mô lớn có ưu thế hơn so với sản xuất tự cấp tự túc về quy
mô, trình độ kỹ thuật, công nghệ, về khả năng thoả mãn nhu cầu Vì vậy, sản xuất hàng hoá quy mô lớn là hình thức tổ chức kinh tế xã hội hiện đại phù hợp với xu thế thời đại ngày nay
Bốn là, sản xuất hàng hoá là mô hình kinh tế mở, thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hoá,
tạo điều kiện cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của xã hội
Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực ở trên, sản xuất hàng hoá còn tồn tại những hạn chế như phân hoá giàu - nghèo giữa những người sản xuất hàng hoá, tiềm ẩn những khả năng khủng hoảng kinh tế - xã hội, phá hoại môi trường sinh thái
II Thực trạng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam:
1 Thực trạng:
Nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam là
“nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam” Từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến Đại hội Đảng lần thứ XII, thể chế KTTT định hướng XHCN ngày càng được hoàn thiện và được chứng minh tính đúng đắn Sau hơn 30 năm đổi mới, nền KTTT định hướng XHCN đã hình thành, phát triển, đến nay đã có những yếu tố của một nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế và bảo đảm định hướng XHCN. Dưới đây là một số chỉ số phản ánh thực trạng nền kinh tế thị trường Việt Nam trong những năm gần đây:
(1) Chỉ số tự do kinh tế.
Chỉ số tự do kinh tế của Việt Nam tăng liên tục trong mấy năm qua Năm 2018 là 53,1 điểm, năm 2019 lên 55,3 điểm, năm 2020 lên 58,8 điểm và năm 2021 lên 61,7 điểm Theo bảng xếp hạng do Quỹ Di sản (Heritage Foundation) của Mỹ vừa công bố, năm
2021 là lần đầu tiên nền kinh tế Việt Nam bước vào nhóm các nền kinh tế có “tự do
Trang 9trung bình” (Moderately Free), tăng 2,9 và thăng 15 bậc so với 2020, từ nhóm được xem hầu như không có tự do về kinh tế.Theo bảng xếp hạng này, Việt Nam đứng thứ 17/40 nền kinh tế ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và điểm tổng thể của Việt Nam cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới
(2) Chỉ số kinh doanh thuận lợi.
Báo cáo Môi trường Kinh doanh 2019 đánh giá chỉ số EDBI của Việt Nam tăng 1,59 điểm (đạt 68,36/100 điểm, xếp hạng 69/190 nền kinh tế) nhưng lại tụt 01 hạng so với năm 2018 (xếp hạng 68/190)
Điểm số và thứ hạng của Việt Nam cao hơn mức trung bình của khu vực Đông Á-Thái Bình Dương Trong khu vực ASEAN, Việt Nam xếp sau Xinh-ga-po (hạng 2/190), Ma-lai-xi-a (hạng 15/190), Thái Lan (hạng 27/190), Bru-nây (hạng 55/190)
(3) Tỷ trọng của FDI so với GDP.
Dữ liệu của Bộ Kế hoạch và đầu tư cho thấy, FDI hiện đóng góp khoảng 20% GDP và
là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư phát triển với tỉ trọng khoảng 23,7% trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, 58% tổng vốn đầu tư FDI tập trung vào lĩnh vực chế biến, chế tạo, tạo ra trên 50% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước, kim ngạch xuất khẩu của khu vực này cũng chiếm tỉ trọng lớn nhất trong xuất khẩu cả nước Đây cũng
là khu vực tạo việc làm cho gần 4 triệu việc làm trực tiếp và khoảng 5 triệu việc làm gián tiếp
(4) Hệ số GINI.
Hệ số GINI (theo thu nhập) của Việt Nam năm 2020 là 0,375 thấp hơn GINI giai đoạn 2014-2018 ở mức 0,4 nhưng vẫn ở mức bất bình đẳng trung bình Mức độ bất bình đẳng
ở nông thôn cao hơn thành thị Hai vùng có tỷ lệ nghèo cao là Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên cũng là hai vùng có hệ số GINI cao nhất, vùng có hệ số GINI thấp nhất là Đông Nam Bộ
Trang 10(5) Độ mở cửa của thị trường.
Năm 2020, tổng giá trị xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ bằng 187,5% GDP Mức thuế trung bình được áp dụng là 2,7% và 80 biện pháp phi thuế quan đang có hiệu lực Khu vực tài chính tiếp tục phát triển và việc cho vay theo chỉ đạo của các ngân hàng thương mại nhà nước đã được thu hẹp trong những năm gần đây
(6) Quy mô Chính phủ.
Mức độ tham gia của Chính phủ tới nền kinh tế tại Việt Nam ở mức vừa phải Trong
đó, mức thuế thu nhập cá nhân cao nhất là 35% và mức thuế thu nhập doanh nghiệp cao nhất là 22% Các loại thuế khác bao gồm thuế giá trị gia tăng và thuế tài sản Tổng gánh nặng thuế tương đương 18,6% tổng thu nhập trong nước Chi tiêu của Chính phủ đã lên tới 28,3% sản lượng (GDP) của quốc gia trong 3 năm qua (tính đến năm 2018) và thâm hụt ngân sách trung bình là 4,7% GDP Nợ công tương đương 57,5% GDP
(7) GDP.
Năm 2020, quy mô nền kinh tế nước ta đạt hơn 343 tỷ USD, vượt Singapre (337,5 tỷ USD) và Malaysia (336,3 tỷ USD), đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền kinh tế lớn thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á (sau Indoneisa 1.088,8 tỷ USD; Thái Lan 509,2 tỷ USD và Philipin 367,4 tỷ USD)
(8) Tổng giá trị xuất nhập khẩu.
Theo số liệu thống kê sơ bộ mới nhất của Tổng cục Hải quan, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong kỳ 2 tháng 6 năm 2021 đạt 28,78 tỷ USD, tăng 10,9% (tương ứng tăng 2,82 tỷ USD) so với kết quả thực hiện trong nửa đầu tháng
6-2021 Kết quả đạt được trong nửa cuối tháng 6-2021 đã đưa tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước trong 6 tháng đầu năm 2021 đạt 317,66 tỷ USD, tăng 32,5% (tương ứng tăng gần 78 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2020
Trang 112.Đánh giá thực trạng :
2.1 Những kết quả, thành tựu đạt được:
Đánh giá lại kết quả của việc vận dụng nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta trên các mặt kinh tế – xã hội có thể thấy một số thành tựu đáng kể
Tốc độ tăng trưởng:
GDP năm 2020 tăng 2,91% (Quý I tăng 3,68%; quý II tăng 0,39%; quý III tăng 2,69%; quý IV tăng 4,48%), tuy là mức tăng thấp nhất của các năm trong giai đoạn 2011-2020 nhưng trong bối cảnh COVID thì đây là thành công lớn của Việt Nam với mức tăng trưởng năm 2020 thuộc nhóm cao nhất thế giới
Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,68%, đóng góp 13,5% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,98%, đóng góp 53%; khu vực dịch vụ tăng 2,34%, đóng góp 33,5%
Chất lượng tăng trưởng kinh tế:
Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2020 ước tính đạt 117,9 triệu đồng/lao động Theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 5,4% do trình độ của người lao động ngày càng được nâng cao (tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ năm 2020 đạt 24,1%, cao hơn mức 22,8% của năm 2019)
Cơ cấu nền kinh tế vẫn có sự dịch chuyển:
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,85%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,72%; khu vực dịch vụ chiếm 41,63%
Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,8% (Cơ cấu tương ứng của năm 2019 là: 13,96%; 34,49%; 41,64%; 9,91%)
Sản xuất công nghiệp: