1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN KINH tế CHÍNH TRỊ mác LÊNIN đề tài hội nhập kinh tế quốc tế ở việt nam

19 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 107,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI MỞ ĐẦUThế kỉ XX đã qua với những dấu ấn kinh tế đầy ấn tượng của quá trình toàn cầu hoá lực lượng sản xuất ,quá trình này được biểu hiện rõ nét ở sự sát nhập của những công ty xuyên

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN VIỆN ĐÀO TẠO TIÊN TIẾN, CHẤT LƯỢNG CAO & POHE

TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC-LÊNIN

Đề tài: Hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam

Sinh viên thực hiện: Trần Lê Quỳnh Anh

Mã sinh viên: 11210767

Lớp: Kinh Doanh Quốc Tế CLC 63B

Giảng viên giảng dạy: Mai Lan Hương

Hà Nội, Tháng 3, Năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Thế kỉ XX đã qua với những dấu ấn kinh tế đầy ấn tượng của quá trình toàn cầu hoá lực lượng sản xuất ,quá trình này được biểu hiện rõ nét ở sự sát nhập của những công

ty xuyên quốc gia hàng đầu thế giới như Boing, Mecedess, Nissan và đặc biệt ở sự xuất hiện của các tổ chức kinh tế và thương mại mang tính khu vực,và toàn cầu như WTO, APEC, ASEAN, Dưới sức ép của toàn cầu hoá, nền kinh tế của mỗi quốc gia cũng có sự biến chuyển mạnh mẽ và nhanh chóng.Quá trình này mở ra những triển vọng to lớn của việc thúc đẩy tăng trưởng ở mỗi quốc gia ,nhưng đồng thời trên phương diện quản lý, cũng đặt ra những thách thức to lớn đối với các chính phủ.Với tiến trình hội nhập AFTA, APEC và WTO vào nền kinh tế thế giới hoàn toàn là quá trình cải cách thể chế toàn bộ nền kinh tế, xuất phát từ đòi hỏi của bản thân nền kinh

tế nội địa Cuộc cải cách này sẽ giúp cho Việt Nam huy động được các nguồn lực nội sinh, tăng cường sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên chính thị trường nội địa, tạo tiền đề cho cạnh tranh quốc tế Hội nhập vừa là cơ hội cũng vừa là thách thức, những trở ngại nảy sinh do bản thân tiến trình cải cách, cùng với sức ép của khủng hoảng kinh tế và tài chính khu vực, đang có ảnh hưởng ngày càng sâu rộng và đặt ra trách nhiệm nặng nề cho bộ máy quản lý Nhà Nước cũng như cho toàn thể chế

xã hội Do vậy, có thể nói rằng hiện nay Việt Nam thực sự đang ở trong thời điểm bước ngoặt của việc đánh giá lại toàn bộ các nguồn lực phát triển, và nhất là các quan điểm và định hướng phát triển đất nước sao cho phù hợp với sự phát triển chung của thế giới, mà trong đó hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam là yếu tố quan trọng để

thúc đẩy kinh tế phát triển Chính vì vậy, em xin chọn đề tài: “ Thực trạng hội nhập

kinh tế quốc tế của Việt Nam” Đây là một đề tài sâu rộng, mang tính thời sự, đã có

nhiều nhà kinh tế đề cập đến vấn đề này Bản thân em, 1 sinh viên năm nhất, khi tìm hiểu đề tài này cũng rất hứng thú và say mê Bởi kiến thức còn mặt hạn chế, nếu còn những sai sót, em kính mong cô giúp em hoàn thiện bài viết tốt hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

Chương I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1 KHÁI NIỆM HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Hội nhập quốc tế là quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia/vùng lãnh thổ với nhau thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, cơ chế, hoạt động hợp tác quốc

tế vì mục tiêu phát triển của bản thân mỗi quốc gia/vùng lãnh thổ đó và nhằm tạo thành sức mạnh tập thể giải quyết những vấn đề chung mà các bên cùng quan tâm Hội nhập quốc tế theo đúng nghĩa đầy đủ là hội nhập trên tất cả lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội

Về bản chất, hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế nhằm đạt được một mục tiêu hoặc lợi ích chung nào đó

2 CÁC LOẠI HÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

2.1 Hợp tác kinh tế song phương

Hợp tác kinh tế song phương có thể tồn tại dưới dạng một thoả thuận, một hiệp định kinh tế, thương mại, đầu tư hay hiệp định tránh đánh thuế hai lần, các thoả thuận thương mại tự do (FTAs) song phương…Loại hình hội nhập này thường hình thành rất sớm từ khi mỗi quốc gia có chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) được coi là cột mốc quan trọng đánh dấu sự thay đổi trong quá trình phát triển kinh tế đất nước Đại hội được ví là “Đại hội của sự đổi mới” Đại hội nhấn mạnh đến việc mở rộng giao lưu quốc tế để thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhằm phát triển kinh tế đất nước.

Tính đến hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 189 nước có 30 đối tác chiến lược, 13 đối tác toàn diện, ký kết 15 FTA ở cấp độ song phương và khu vực (trong đó đang thực thi 14 FTA, 1 FTA đã ký nhưng chưa có hiệu lực), và đang đàm phán 2 FTA Trong số đó, nổi bật nhất là 3 FTA thế hệ mới gồm Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại

Trang 5

tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len (UKVFTA); và 1 FTA có quy mô lớn nhất thế giới trong khuôn khổ ASEAN là Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP).

2.2 Hội nhập kinh tế khu vực

Xu hướng khu vực hóa xuất hiện từ khoảng những năm 50 của thế kỉ XX và phát triển cho đến ngày nay Hội nhập kinh tế khu vực phân thành các cấp độ từ thấp đến cao: Khu vực Mậu dịch tự do (FTA), Liên minh Hải quan (CU), Thị trường chung (CM), Liên minh Kinh tế và tiền tệ (EMU)

3 NỘI DUNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

3.1 Nguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế

Bất kì một quốc gia nào khi tham gia vào các tổ chức kinh tế trong khu vực cũng như trên thế giới đều phải tuân thủ theo những nguyên tắc của các tổ chức đó nói riêng và nguyên tắc của hội nhập kinh tế quốc tế nói chung

Sau đây là một số nguyên tắc cơ bản của hội nhập: Không phân biệt đối xử giữa các quốc gia; tiếp cận thị trường các nước, cạnh tranh công bằng, áp dụng các hành động khẩn cấp trong trường hợp cần thiết, dành ưu đãi cho các nước đang và chậm phát triển

3.2 Đặc trưng của hội nhập kinh tế quốc tế

– Là một hình thức phát triển tất yếu và cao nhất của phân công lao động quốc tế; – Là sự tham gia tự nguyện của mỗi quốc gia thành viên trên cơ sở những điều

khoản đã thỏa thuận trong hiệp định;

– Là sự phối hợp mang tính chất quốc gia giữa các nhà nước độc lập có chủ quyền; – Là giải pháp trung hòa cho hai xu hướng tự do hóa thương mại và bảo hộ thương mại;

– Là bước quá độ để thúc đẩy nền kinh tế thế giới theo hướng toàn cầu hóa góp phần

giảm bớt những cuộc xung đột cục bộ, giữ gìn hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới

3.3 Nội dung hội nhập ( chủ yếu là nội dung hội nhập WTO )

Trang 6

Nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế là mở cửa thị trường cho nhau, thực hiện thuận lợi hoá, tự do hoá thương mại và đầu tư:

Về thương mại hàng hoá: các nước cam kết bãi bỏ hàng rào phi thuế quan như

QUOTA, giấy phép xuất khẩu , biểu thuế nhập khẩu được giữ hiện hành và giảm dần theo lịch trình thoả thuận

Về thương mại dịch vụ, các nước mở cửa thị trường cho nhau với cả bốn phương

thức: cung cấp qua biên giới, sử dụng dịch vụ ngoài lãnh thổ, thông qua liên doanh, hiện diện

Về thị trường đầu tư: không áp dụng đối với đầu tư nước ngoài yêu cầu về tỉ lệ

nội địa hoá, cân bằng xuất nhập khẩu và hạn chế tiếp cận nguồn ngoại tệ, khuyến khích tự do hoá đầu tư

4 MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Mục tiêu:

Thực hiện tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, nhằm tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Quan điểm chỉ đạo:

Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa dạng hóa, đa phương hóa quan

hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế vì lợi ích quốc gia – dân tộc

là định hướng chiến lược lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, nhất là mối quan hệ giữa tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng

Trang 7

Hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế; hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế là

sự nghiệp của toàn dân; doanh nhân, doanh nghiệp, đội ngũ trí thức là lực lượng đi đầu Nhà nước cần tập trung khuyến khích, tạo điều kiện cho sự phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam, nâng cao trình độ phát triển của nền kinh tế

Bảo đảm đồng bộ giữa đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế Đẩy mạnh việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách; chủ động xử lý các vấn đề nảy sinh; giám sát chặt chẽ và quản lý hiệu quả quá trình thực hiện cam kết trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, nhất là trong những lĩnh vực, vấn đề liên quan đến ổn định chính trị – xã hội

Bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc

tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới Nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội; tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tiến trình hội nhập quốc tế Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị – xã hội, đặc biệt là công đoàn, phù hợp với yêu cầu của tình hình mới

Trang 8

Chương 2 THỰC TRẠNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

1 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Tư tưởng mở cửa đối ngoại, hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới của Đảng đã được thể hiện rõ nét trong các văn kiện ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà Song, trong hoàn cảnh của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, Việt Nam đã không thể thực hiện một cách đầy đủ công cuộc hội nhập quốc tế Sau khi thống nhất đất nước, qua các kỳ Đại hội IV của Đảng (1976), Đại hội VI của Đảng (1986), Đại hội VII của Đảng (1991) Đại hội VIII của Đảng (1996), Đại hội IX của Đảng (2001), Đại hội X của Đảng (2006), Đại hội XI của Đảng (2011), Đại hội XII của Đảng (2016) đã đánh dấu những bước phát triển mới trong chủ trương hội nhập quốc tế với chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, thể hiện tầm nhìn chiến lược toàn diện của Đảng

2 TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐỐI VỚI CÁC MẶT ĐỜI SỐNG KINH TẾ

Tác động tích cực

• Thúc đẩy xuất khẩu;

• Thu hút đầu tư nước ngoài;

• Tăng trưởng kinh tế, việc làm;

• Phát triển giáo dục, văn hóa, xã hội;

• Thay đổi hệ thống pháp lý một cách rõ

ràng, minh bạch hơn;

• Tái cấu trúc nền kinh tế;

• Hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu

vực, thế giới;

• Nâng cao vị thế của Việt Nam trên

trường quốc tế, thúc đẩy quan hệ với các đối tác

Tác động tiêu cực

• Nhập khẩu tăng mạnh;

• Chịu sức ép cạnh tranh lớn từ doanh nghiệp nước ngoài, dẫn đến nhiều ngành trong nước bị ảnh hưởng do tác động của việc mở cửa thị trường (sắt thép, dầu thực vật, các mặt hàng nông sản, các ngành dịch vụ…

• Không gian điều chỉnh chính sách bị thu hẹp;

• Thu ngân sách từ thuế nhập khẩu bị giảm;

Trang 9

• Tăng thu nhập bình quân đầu người kết mở cửa thị trường trong lĩnh vực

nông nghiệp;

• Tăng khoảng cách giàu nghèo;

• Ô nhiễm môi trường

3 NHỮNG THUẬN LỢI, THÁCH THỨC VIỆT NAM GẶP PHẢI KHI HỘI NHẬP KTQT

3.1 Thuận lợi

Vị trí địa lý thuận lợi

Bản chất kinh tế của vị trí địa lý là địa tô chênh lệch Vị trí địa lý thuận lợi sẽ cho phép thu được địa tô chênh lệch cao và ngược lại, vị trí địa lý không thuận lợi chỉ đem lại địa tô chênh lệch thấp Vị trí địa lý thuận lợi là lợi thế “so sánh” - là một yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế

Nước ta có một vị trí địa lý rất thuận lợi đó là:

- Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á, là nơi gặp gỡ của những luồng gió xuất phát từ các trung tâm lớn bao quanh tạo nên tự nhiên Việt Nam phong phú và đa dạng Điều này có tác động sâu sắc đến cơ cấu, quy mô và hướng phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam

- Việt Nam nằm ở rìa đông của bán đảo Đông Dương, trở thành một đầu mối giao thông quan trọng từ Ấn Độ Dương tới Thái Bình Dương Vị trí này cho phép nước ta có thể dễ dàng phát triển các kinh tế thương mại, văn hoá, khoa học kĩ thuật với các nước trong khu vực và trên thế giới

- Việt Nam nằm trong khu vực đang diễn ra các hoạt động kinh tế sôi động nhất thế giới Điều này tạo môi trường thuận lợi để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động phát triển kinh tế Việt Nam có điều kiện giao lưu với những thị trường sôi động, học hỏi được những kinh nghiệm quý báu của các “con rồng Châu Á”

Nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng

Trang 10

Việt Nam có nhiều loại tài nguyên thiên nhiên, trong đó có nhiều loại có giá trị kinh tế lớn nhưng chưa được khai thác hoặc khai thác ở mức độ thấp, sử dụng chưa hợp lý Đây là nguồn lực bên trong để phát triển kinh tế, đồng thời là đối tượng đầu tư của Tư Bản nước ngoài

Tài nguyên nhân văn phong phú

Bao gồm lực lượng lao động dồi dào và những hệ thống giá trị do con người tạo ra trong quá trình phát triển lịch sử của dân tộc Đây là đối tượng đầu tư phát triển rất quan trọng của Tư Bản nước ngoài

Những lợi thế trên đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam tiến vào

thế giới

3.2 Thách thức

Sức ép cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Thách thức lớn nhất và dễ nhận thấy nhất xuất phát từ một nước đang phát triển có trình độ kinh tế thấp, quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém và bất cập, doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân còn nhỏ bé, sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ nói riêng và của toàn bộ nền kinh tế nói chung còn nhiều hạn chế, hệ thống chính sách kinh tế, thương mại chưa hoàn chỉnh Cho nên, nước ta sẽ gặp khó khăn lớn trong cạnh tranh cả ở trong nước cả trên trường quốc tế ở 3 cấp độ: sản phẩm, doanh

nghiệp và quốc gia

– Sản phẩm: cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn cả trong và ngoài nước với nhiều đối thủ hơn, trên bình diện sâu hơn, rộng hơn

– Doanh nghiệp: đối mặt với nguy cơ rủi ro kinh tế, tình trạng phá sản doanh nghiệp luôn hiện hữu và trở nên rất tiềm tàng

– Quốc gia: Xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam do Diễn đàn Kinh

tế Thế giới (WEF), GCI 4.0 năm 2019 xếp hạng Việt Nam ở vị trí 67/141 quốc gia trên thế giới, và đứng ở vị trí 7/9 quốc gia ASEAN (Việt Nam vẫn chỉ đứng trên Lào

và Campuchia) Sự thăng hạng này cho thấy năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 của Việt Nam đã được đánh giá là cải thiện vượt trội so với những lần đánh giá trước đó

Trang 11

Sự phân phối lợi ích không đồng đều giữa các khu vực, các ngành, các vùng miền của đất nước khi Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Trên lĩnh vực xã hội, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong xu thế toàn cầu hoá đặt ra một thách thức nan giải đối với nước ta trong việc thực hiện chủ trương tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng

xã hội Một bộ phận dân cư được hưởng lợi ích ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá; nguy cơ thất nghiệp và sự phân hoá giàu nghèo sẽ tăng lên mạnh mẽ Sức ép toàn diện khi nước ta thực hiện các cam kết với WTO sẽ đè nặng lên khu vực nông nghiệp là nơi có tới gần 70% dân số và lực lượng lao động xã hội, đồng thời chúng ta còn sự hạn chế lớn về sức cạnh tranh của hàng hóa, về sự chưa phù hợp của nhiều chính sách… Trong tình hình như đã nêu, cơ cấu xã hội có thể biến động phức tạp và khó lường, làm cho sự phân tầng, phân hoá xã hội cũng trở thành yếu tố tiêu cực đối với bản thân sự phát triển của đất nước

Sự ràng buộc về các quy tắc kinh tế, thương mại, tài chính – tiền tệ, đầu

tư khi hội nhập quốc tế

Trong quá trình hội nhập quốc tế, nước ta phải chịu sự ràng buộc của các quy tắc kinh tế, thương mại, tài chính – tiền tệ, đầu tư… chủ yếu do các nước phát triển

áp đặt; phải chịu sức ép cạnh tranh bất bình đẳng và sự điều tiết vĩ mô bất hợp lý của các nước phát triển hàng đầu

Dựa vào sức mạnh kinh tế và mức đóng góp vốn khống chế ở các thiết chế tài chính, tiền tệ và thương mại quốc tế, các nước này đặt ra các “luật chơi” cho phần còn lại của thế giới khi tham gia IMF, WB, WTO… Tự do hoá thương mại và tự do hoá kinh tế, đáng lẽ phải là cái đích cần vươn tới, thì bị họ xác định như xuất phát điểm, như điều kiện tiên quyết đối với các nước đang phát triển trong tiến trình hội nhập quốc tế Trong hoàn cảnh này, sự cạnh tranh kinh tế quốc tế và sự điều tiết vĩ

mô nền kinh tế thế giới vẫn tiếp tục trở nên bất bình đẳng và bất hợp lý mà dĩ nhiên phần bất lợi lớn thuộc về tuyệt đại đa số các nước đang phát triển trong đó có nước ta

Ngày đăng: 29/05/2022, 16:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Luyện: “Việt Nam trên đường hội nhập kinh tế thế giới” (Tạp chí xây dựng số 6 - 2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam trên đường hội nhập kinh tế thế giới
3. Lênin: “Chủ nghĩa đế quốc – giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản toàn tập – tập 27” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa đế quốc – giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản toàn tập – tập 27
4. Nguyễn Thanh Mai: “Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập của Việt Nam trước thiên niên kỉ mới” (Thương mại số 7 - 2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập của Việt Nam trước thiên niên kỉ mới
5. Phạm Bình Mân: “Hội nhập kinh tế quốc tế: cơ hội và thánh thức” (Tạp chí công nghệ Việt Nam số 3 - 2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nhập kinh tế quốc tế: cơ hội và thánh thức
6. Phạm Thị Tuý: “Toàn cầu hoá và những tác động” (Nghiên cứu kinh tế số 290 – tháng 7/2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá và những tác động

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w