1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Câu 1:cho biết Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa phương đông thế nào để hình thành nên tư tưởng của người? Câu 2: Hãy phân tích những nguyên tắc đoàn kết quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh. Liên hệ với quá trình hội nhập quốc tế của Việt

11 151 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 40,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1:cho biết Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa phương đông thế nào để hình thành nên tư tưởng của người? Câu 2: Hãy phân tích những nguyên tắc đoàn kết quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh. Liên hệ với quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay Tinh hoa văn hoá, tư tưởng phương Đông kết tinh trong ba học thuyết lớn Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo. Đó là những học thuyết có ảnh hưởng sâu rộng ở phương Đông, và ở Việt Nam trước đây. Hồ Chí Minh còn xuất thân trong một gia đình Nho giáo có truyền thống hiếu học nên từ nhỏ đã có cơ hội tiếp xúc với văn hóa phương Đông. Vì thế, các học thuyết về Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo và chủ nghĩa “Tam dân” của Tôn Trung Sơn là một trong những cơ sở khách quan hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh. Nho giáo: Nho giáo (còn gọi là Đạo Nho hay Đạo Khổng) là một hệ thống triết học chính trị do Khổng Tử đề xướng. Từ thời niên thiếu, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã có am tường về Nho giáo. Theo Vũ Ngọc Khánh: “Tuổi thơ ấu của Hồ Chí Minh đã được tiếp thu Nho giáo một cách chân truyền, tiếp thu sự giáo dục đạo đức Nho giáo một cách trọn vẹn… như nhiều thế hệ học sinh khác trước thế kỷ XX. Nhưng Bác học Nho giáo một cách sáng tạo”. Ngay từ năm 1923, tức là trong thời gian thực hiện sứ mạng truyền bá chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam, khi trả lời một nhà báo Liên Xô, Người đã khẳng định: “Khổng giáo không phải là tôn giáo, mà là thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử” và đưa ra quan niệm về “thế giới đại đồng”. Đó là minh chứng cho sự tiếp thu một cách sáng tạo của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh phân tích: Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học. Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những điều hiểu biết quý báu của các đời trước để lại”. Lênin dạy chúng ta như vậy. Phân tích của Hồ Chí Minh về Nho giáo cho thấy Người tiếp thu một các có chọn lọc học thuyết của Khổng Tử, nhìn ra được những mặt hạn chế hoặc lỗi thời của hệ tư tưởng cũ nhưng vẫn kế thừa các tinh hoa của nó dựa trên nền tảng là chủ nghĩa Mác – Lênin. Cụ thể, Hồ Chí Minh phát hiện ra một giá trị quan trọng của đạo Khổng là đạo đức học, từ đó người chú ý kế thừa và đổi mới tư tưởng dùng nhân trị, đức trị để quản lý xã hội. Kế thừa và phát triển quan niệm của Nho giáo về việc xây dựng một xã hội lý tưởng trong đó công bằng, bác ái, nhân, nghĩa, trí, dũng, tín, liêm được coi trọng để có thể đi đến một thế giới đại đồng với hòa bình, không có chiến tranh, các dân tộc có quan hệ hữu nghị và hợp tác. Thay vì những tư tưởng phong kiến cũ cho rằng bậc vua chúa là nhất và nhân dân phải phục vụ vua thì các quan điểm của Hồ Chí Minh như chủ trương “lấy dân làm gốc” cũng là kế thừa từ Nho giáo. Người từng nhắc đến lời của Mạnh Tử: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Dân là trọng hơn cả, xã tắc đứng đằng sau, vua còn nhẹ hơn) và cho rằng “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân… Trong xã hội không gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”. Ngay trong quá trình chỉ đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, cần phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sự tham gia của nhân dân trong quá trình ban hành và thực hiện quyết định, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước. Đặc biệt, Hồ Chí Minh chú ý kế thừa, đổi mới, phát triển tinh thần trọng đạo đức của Nho giáo trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của con người; trong công tác xây dựng Đảng về đạo đức. Phật giáo: Phật giáo là một tôn giáo lớn bao gồm một loạt các truyền thống, tín ngưỡng và phương pháp tu luyện dựa trên lời dạy của Thích Ca Mâu Ni. Với tư cách là một triết thuyết về giác ngộ và cứu khổ cứu nạn cũng như vị nhân sinh, Phật giáo hướng con người đến những điều tốt đẹp. Phật giáo du nhập vào nước ta từ lâu, vì thế mà từ lúc sinh ra, Hồ Chí Minh cũng đã tiếp cận với Phật giáo. Đối với Hồ Chí Minh, yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Từ quan điểm đó, Người luôn ý thức rằng làm thế nào cho mọi người được có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Người nói: Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Hồ Chí Minh chú ý kế thừa, phát triển tư tưởng từ bi, vị tha, yêu thương con người, khuyến khích làm việc thiện, chống lại điều ác; đề cao quyền bình đẳng của con người và chân lý; khuyên con người sống hòa đồng, gắn bó với đất nước của Đạo Phật. Người chỉ rõ nhiệm vụ: “Đồng bào Phật giáo cả nước, từ Bắc đến Nam, đều cố gắng thực hiện lời Phật dạy, luôn sống, làm việc với tinh thần “Đem lại lợi ich và vui sướng cho mọi người, quên mình vì người khác”. Điều đó là phù hợp với lối sống xã hội chủ nghĩa “vì mình vì mọi người, mọi người vì mình”. Vẫn là kế thừa và vận dụng sáng tạo, Hồ Chí Minh không để Đạo Phật tách xa khỏi chính trị mà coi Phật giáo là một điểm tựa vững chắc cho quần chúng nhân dân, họ sẽ tạo thành khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đấu tranh giải phóng dân tộc, đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho con người. Tại Hội thảo Quốc tế 1990, Người đã phát biểu: “Phật giáo Việt Nam với dân tộc như bóng với hình, tuy hai mà một...” Bác cách mạng hóa và vận dụng sáng tạo những giáo lý nhà Phật trong những cuộc đấu tranh cứu nước. Trong thư gửi Hội Phật tử năm 1947, Người viết: “Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn, Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma. Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ. Là Chủ tịch nước đương thời, Hồ Chí Minh luôn dành nhiều thời gian đi thăm nhiều chùa, nhiều cơ sở Phật giáo, tiếp xúc với nhiều tăng ni, phật tử, đồng thời có những chủ trương, sắc lệnh bảo tồn các cổ tích, di sản văn hóa nhà Phật như bảo tồn một nét đẹp của nước nhà. Lão giáo: Cùng tồn tại với Nho giáo và Phật giáo dưới thời Nguyễn, Lão giáo là một trong những cơ sở tinh thần của nền văn hóa Việt Nam. Học thuyết cơ bản của Lão giáo là học thuyết “Vô vi”, về “Đạo” và về “Đức” được khởi xướng bởi Lão Tử. Hồ Chí Minh chú ý kế thừa, phát triển tư tưởng của Lão Tử, khuyên con người nên sống gắn bó với thiên nhiên, hoà đồng với thiên nhiên, hơn nữa phải biết bảo vệ môi trường sống. Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân ta trồng cây, tổ chức Tết trồng cây để bảo vệ môi trường sinh thái cho chính cuộc sống của con người. Những tư tưởng và tình yêu thiên nhiên trong Lão giáo được Hồ Chí Minh gắn với lòng yêu nước. Tình yêu những cái tầm thường nhất xung quanh, từ nhành cây ngọn cỏ chính là bắt nguồn của tình yêu nước. Ở cương vị Chủ tịch nước, Người vẫn luôn sống giản dị, ở một ngôi nhà sàn nhỏ bằng gỗ với vườn cây, ao cá. Người luôn thấu hiểu, đồng cảm với những khó khăn vất vả của nhân dân. Trong cả những tác phẩm văn thơ, tình yêu thiên nhiên của người cũng được thể hiện rõ nét. Hồ Chí Minh chú ý kế thừa phát triển tư tưởng thoát mọi ràng buộc của vòng danh lợi trong Lão giáo. Người khuyên cán bộ, đảng viên ít lòng tham muốn về vật chất; thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; hành động theo đạo lý với ý nghĩa là hành động đúng với quy luật tự nhiên, xã hội. Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn: Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc là niềm mong mỏi khôn nguôi của Người. Tư tưởng của Tôn Trung Sơn in đậm dấu ấn trong tư tưởng của Hồ Chí Minh nhưng người không phỏng theo hoàn toàn mà phát triển sáng tạo các quan điểm về dân tộc, dân quyền, dân sinh của Tôn Trung Sơn trong cách mạng dân chủ tư sản thành tư tưởng đấu tranh cho Độc lập Tự do Hạnh phúc của con người và dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản vì theo như lời Người nói, học thuyết Tam dân có “nhưỡng điều thích hợp với điều kiện của nước ta”. Điều này cũng đồng nhất với quan điểm “lấy dân làm gốc” mà Người luôn nhắc đến. Như vậy, đối với văn hóa phương Đông, bằng những hiểu biết uyên bác của mình, Hồ Chí Minh biết chắt lọc những gì tinh túy nhất trong các học thuyết triết học, trong tư tưởng của Khổng tử, Lão tử,… tiếp thu những mặt tích cực và vận dụng sáng tạo bào bối cảnh đất nước dựa trên lời dạy của Lênin: “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những điều hiểu biết quý áu của đời trước để lại”. Câu 2: Các nguyên tắc đoàn kết quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh 1. Đoàn kết trên cơ sở thống nhất mục tiêu và lợi ích; có lý, có tình. Tìm ra được điểm tương đồng về mục tiêu và lợi ích giữa các dân tộc là vấn đề tiên quyết trong công tác tập hợp lực lượng. Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện ra sự tương đồng này nhờ đặt cách mạng Việt Nam vào bối cảnh chung của thời đại và tìm ra nghĩa vụ của Việt Nam đối với sự nghiệp tiến bộ chung của nhân loại. Đối với phong trảo cộng sản và công nhân quốc tế, Hồ Chí Minh giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thực hiện đoàn kết thống nhất trên nền tảng của chủ nghĩa Mác Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình. Hồ Chí Minh đã dành cả một đời để đấu tranh cho sự nghiệp củng cố khối đại đoàn kết thống nhất giữa các dân tộc trên thế giới, minh chứng cụ thể tử quá trình hoạt động cách mạng của Người. Hô Chí Minh chỉ ra rằng, để thực hiện đoàn kết thống nhất trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế thì đoàn kết giữa các Đảng “là điều kiện quan trọng nhất để đảm bảo cho phong trào cộng sản và công nhân toàn thắng trong cuộc đấu tranh vĩ đại cho tương lai tươi sáng của toàn thể loài người” dựa trên cơ sở nguyên tắc của quốc tế vô sản “Có lý” ở đây là tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của nghĩa Mác – Lênin xuất phát từ lợi ích chung của cách mạng thế giới. “Có tình” là sự đồng cảm và tôn trọng lẫn nhau dựa trên tinh thần cùng chung lý tưởng và mục tiêu đấu tranh cho lợi ích chung nhưng đồng thời lợi ích và mục tiêu riêng của mỗi quốc gia phải được tôn trọng, miễn là không ảnh hướng xấu đến lợi ích chung. Như vậy, “có lý, có tình” vừa thể hiện tính nguyên tắc, vừa thể hiện nội dung của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Tính ứng dụng của quan điểm này không chỉ đúng trong bối cảnh quốc tế mà còn đúng trong lòng xã hội nhân dân lao động nước nhà. Đối với các dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh giương cao ngọn cờ độc lập, tự do và quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Kế thừa nhưng tinh hoa văn hóa nhân loại và tiếp thu các học thuyết, tư tưởng, cụ thể là khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”, độc lập, tự do là tư tưởng nhất quán được Hồ Chí Minh cho là lẽ phải không thể chối cãi. Lịch sử đã chứng minh được khát vọng của Người khi dành cả đời chăm lo cho dân tộc, không những vậy còn đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc khác dựa trên tinh thần: “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. Nguyên tắc của Người nêu rõ: Dân tộc Việt Nam tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự quyết của tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới, đồng thời mong muốn các quốc gia, dân tộc trên thế giới quan hệ hợp tác, hữu nghị với Việt Nam trên cơ sở những nguyên tắc đó. Đối với các lực lượng tiến bộ trên thế giới, Hồ Chí Minh giương cao ngọn cờ hòa bình và công lý. Giương cao ngọn cờ hòa bình là tư tưởng đấu tranh bất di bất dịch của Hồ Chủ tịch. Nền hòa bình được nhắc tới là “nền hòa bình chân chính trên cơ sở công bình và lý tưởng dân chủ”, nghĩa là không có sự đàn áp, lệ thuộc của dân tộc này lên dân tộc khác, đó là nền hòa bình thực sự trong độc lập, tự do. 2. Đoàn kết trên cơ sở độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường Đoàn kết quốc tế là tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các lực lượng quốc tế nhằm tăng thêm nội lực chứ không phải ỷ lại vào sự ủng hộ, giúp đỡ ấy. Để đoàn kết quốc tế tốt phải có nội lực tốt. Nội lực là nhân tố quyết định, còn nguồn lực ngoại sinh chỉ có thể phát huy tác dụng thông qua nguồn lực nội sinh. Nội lực là sức mạnh bên trong, là sức mạnh của dân tộc. Ngoại lực là sức mạnh bên ngoài của thời đại. Trong đấu tranh, Hồ Chí Minh luôn nêu cao khẩu hiệu: “Tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính”, “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”. Còn trong quan hệ quốc tế, Người nhấn mạnh phải có thực lực, thực lực là cái chiêng, ngoại giao là tiếng chiêng, cái chiêng có to thì tiếng chiêng mới lớn, nghĩa là thực lực tốt thì quan hệ mới bền chặt, vững mạnh. Muốn tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế, Đảng phải có đường lối độc lập, tự chủ và đúng đắn. Theo Hồ Chí Minh, “độc lập” có nghĩa là tự mình điều khiển lấy mọi công việc, không có sự can thiệp nước ngoài vào. Mọi sự giúp đỡ đến từ bên ngoài chỉ là tranh thủ còn cái cốt yếu vẫn là độc lập tự chủ. “Các Đảng dù lớn dù nhỏ đều độc lập và bình đẳng, đồng thời đoàn kết nhất trí giúp đỡ lẫn nhau”. Lịch sử đã chứng minh các quan điểm của Hồ Chủ tịch là đúng đắn, điển hình là trong hai cuộc đấu tranh chống Pháp và Mỹ, vận dụng sáng tạo các đường lối độc lập tự chủ, lợi ích nhân dân và tranh thủ được sự ủng hộ từ phong trào nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam để giành thắng lợi.

Trang 1

Trang 1/8

Họ tên SV/HV: Phạm Lệ Chi - Mã LHP: 2212HCMI0111

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI HỌC KỲ II NĂM HỌC 2021 – 2022

(Phần dành cho sinh viên/ học viên)

Bài thi học phần: Tư tưởng Hồ Chí Minh

Mã số đề thi: 17

Ngày thi: 18/05/2022 Tổng số trang: 08

Số báo danh: 07 Lớp: 2212HCMI0111

Họ và tên: Phạm Lệ Chi Điểm kết luận:

GV chấm thi 1: …….………

GV chấm thi 2: …….………

BÀI LÀM Câu 1:

Tinh hoa văn hoá, tư tưởng phương Đông kết tinh trong ba học thuyết lớn Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo Đó là những học thuyết có ảnh hưởng sâu rộng ở phương Đông, và ở Việt Nam trước đây Hồ Chí Minh còn xuất thân trong một gia đình Nho giáo có truyền thống hiếu học nên từ nhỏ đã có cơ hội tiếp xúc với văn hóa phương Đông Vì thế, các học thuyết về Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo và chủ nghĩa “Tam dân” của Tôn Trung Sơn là một trong những cơ sở khách quan hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh

- Nho giáo:

Nho giáo (còn gọi là Đạo Nho hay Đạo Khổng) là một hệ thống triết học chính trị do Khổng Tử

đề xướng Từ thời niên thiếu, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã có am tường về Nho giáo Theo Vũ Ngọc Khánh: “Tuổi thơ ấu của Hồ Chí Minh đã được tiếp thu Nho giáo một cách chân truyền, tiếp thu sự giáo dục đạo đức Nho giáo một cách trọn vẹn… như nhiều thế hệ học sinh khác trước thế kỷ XX Nhưng Bác học Nho giáo một cách sáng tạo” Ngay từ năm 1923, tức là trong thời gian thực hiện sứ mạng truyền bá chủ nghĩa Cộng sản vào Việt Nam, khi trả lời một nhà báo Liên Xô, Người đã khẳng định: “Khổng giáo không phải là tôn giáo, mà là thứ khoa học về kinh nghiệm đạo đức và phép ứng xử” và đưa ra quan niệm về “thế giới đại đồng” Đó là minh chứng cho sự tiếp thu một cách sáng tạo của Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh phân tích: "Tuy Khổng Tử là phong kiến và tuy trong học thuyết của Khổng Tử

có nhiều điều không đúng song những điều hay trong đó thì chúng ta nên học "Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những điều hiểu biết quý báu của các đời trước

để lại” Lênin dạy chúng ta như vậy"

Trang 2

Phân tích của Hồ Chí Minh về Nho giáo cho thấy Người tiếp thu một các có chọn lọc học thuyết của Khổng Tử, nhìn ra được những mặt hạn chế hoặc lỗi thời của hệ tư tưởng cũ nhưng vẫn kế

thừa các tinh hoa của nó dựa trên nền tảng là chủ nghĩa Mác – Lê-nin Cụ thể, Hồ Chí Minh

phát hiện ra một giá trị quan trọng của đạo Khổng là đạo đức học, từ đó người chú ý kế thừa

và đổi mới tư tưởng dùng nhân trị, đức trị để quản lý xã hội Kế thừa và phát triển quan niệm của Nho giáo về việc xây dựng một xã hội lý tưởng trong đó công bằng, bác ái, nhân, nghĩa, trí, dũng, tín, liêm được coi trọng để có thể đi đến một thế giới đại đồng với hòa bình, không có chiến tranh, các dân tộc có quan hệ hữu nghị và hợp tác.

Thay vì những tư tưởng phong kiến cũ cho rằng bậc vua chúa là nhất và nhân dân phải phục vụ vua thì các quan điểm của Hồ Chí Minh như chủ trương “lấy dân làm gốc” cũng là kế thừa từ Nho giáo Người từng nhắc đến lời của Mạnh Tử: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Dân là trọng hơn cả, xã tắc đứng đằng sau, vua còn nhẹ hơn) và cho rằng “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân… Trong xã hội không gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân” Ngay trong quá trình chỉ đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, cần phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sự tham gia của nhân dân trong quá trình ban hành và thực hiện quyết định, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước

Đặc biệt, Hồ Chí Minh chú ý kế thừa, đổi mới, phát triển tinh thần trọng đạo đức của Nho giáo trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của con người; trong công tác xây dựng Đảng về đạo đức

- Phật giáo:

Phật giáo là một tôn giáo lớn bao gồm một loạt các truyền thống, tín ngưỡng và phương pháp tu luyện dựa trên lời dạy của Thích Ca Mâu Ni Với tư cách là một triết thuyết về giác ngộ và cứu khổ cứu nạn cũng như vị nhân sinh, Phật giáo hướng con người đến những điều tốt đẹp Phật giáo du nhập vào nước ta từ lâu, vì thế mà từ lúc sinh ra, Hồ Chí Minh cũng đã tiếp cận với Phật giáo Đối với Hồ Chí Minh, yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất Từ quan điểm đó, Người luôn ý thức rằng làm thế nào cho mọi người được có cuộc sống ấm no, hạnh phúc Người nói: "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành"

Hồ Chí Minh chú ý kế thừa, phát triển tư tưởng từ bi, vị tha, yêu thương con người, khuyến khích làm việc thiện, chống lại điều ác; đề cao quyền bình đẳng của con người và chân lý; khuyên con người sống hòa đồng, gắn bó với đất nước của Đạo Phật Người chỉ rõ nhiệm vụ:

“Đồng bào Phật giáo cả nước, từ Bắc đến Nam, đều cố gắng thực hiện lời Phật dạy, luôn sống, làm việc với tinh thần “Đem lại lợi ich và vui sướng cho mọi người, quên mình vì người khác” Điều đó là phù hợp với lối sống xã hội chủ nghĩa “vì mình vì mọi người, mọi người vì mình”.

Trang 3

Vẫn là kế thừa và vận dụng sáng tạo, Hồ Chí Minh không để Đạo Phật tách xa khỏi chính trị mà coi Phật giáo là một điểm tựa vững chắc cho quần chúng nhân dân, họ sẽ tạo thành khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đấu tranh giải phóng dân tộc, đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho con người Tại Hội thảo Quốc tế 1990, Người đã phát biểu: “Phật giáo Việt Nam với dân tộc như bóng với hình, tuy hai mà một ” Bác cách mạng hóa và vận dụng sáng tạo những giáo lý nhà Phật trong những cuộc đấu tranh cứu nước Trong thư gửi Hội Phật tử năm 1947, Người viết: “Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn, Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ"

Là Chủ tịch nước đương thời, Hồ Chí Minh luôn dành nhiều thời gian đi thăm nhiều chùa, nhiều

cơ sở Phật giáo, tiếp xúc với nhiều tăng ni, phật tử, đồng thời có những chủ trương, sắc lệnh bảo tồn các cổ tích, di sản văn hóa nhà Phật như bảo tồn một nét đẹp của nước nhà

- Lão giáo:

Cùng tồn tại với Nho giáo và Phật giáo dưới thời Nguyễn, Lão giáo là một trong những cơ sở tinh thần của nền văn hóa Việt Nam Học thuyết cơ bản của Lão giáo là học thuyết “Vô vi”, về

“Đạo” và về “Đức” được khởi xướng bởi Lão Tử

Hồ Chí Minh chú ý kế thừa, phát triển tư tưởng của Lão Tử, khuyên con người nên sống gắn bó với thiên nhiên, hoà đồng với thiên nhiên, hơn nữa phải biết bảo vệ môi trường sống Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân ta trồng cây, tổ chức "Tết trồng cây" để bảo vệ môi trường sinh thái cho chính cuộc sống của con người Những tư tưởng và tình yêu thiên nhiên trong Lão giáo được

Hồ Chí Minh gắn với lòng yêu nước Tình yêu những cái tầm thường nhất xung quanh, từ nhành cây ngọn cỏ chính là bắt nguồn của tình yêu nước Ở cương vị Chủ tịch nước, Người vẫn luôn sống giản dị, ở một ngôi nhà sàn nhỏ bằng gỗ với vườn cây, ao cá Người luôn thấu hiểu, đồng cảm với những khó khăn vất vả của nhân dân Trong cả những tác phẩm văn thơ, tình yêu thiên nhiên của người cũng được thể hiện rõ nét

Hồ Chí Minh chú ý kế thừa phát triển tư tưởng thoát mọi ràng buộc của vòng danh lợi trong Lão giáo Người khuyên cán bộ, đảng viên ít lòng tham muốn về vật chất; thực hiện cần kiệm

liêm chính, chí công vô tư; hành động theo đạo lý với ý nghĩa là hành động đúng với quy luật tự nhiên, xã hội

- Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn: Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân

sinh hạnh phúc

Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc là niềm mong mỏi khôn nguôi của Người

Tư tưởng của Tôn Trung Sơn in đậm dấu ấn trong tư tưởng của Hồ Chí Minh nhưng người

Trang 4

không phỏng theo hoàn toàn mà phát triển sáng tạo các quan điểm về dân tộc, dân quyền, dân sinh của Tôn Trung Sơn trong cách mạng dân chủ tư sản thành tư tưởng đấu tranh cho Độc lập

-Tự do - Hạnh phúc của con người và dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản vì theo như lời Người nói, học thuyết Tam dân có “nhưỡng điều thích hợp với điều kiện của nước ta” Điều này cũng đồng nhất với quan điểm “lấy dân làm gốc” mà Người luôn nhắc đến

Như vậy, đối với văn hóa phương Đông, bằng những hiểu biết uyên bác của mình, Hồ Chí Minh biết chắt lọc những gì tinh túy nhất trong các học thuyết triết học, trong tư tưởng của Khổng tử, Lão tử,… tiếp thu những mặt tích cực và vận dụng sáng tạo bào bối cảnh đất nước dựa trên lời dạy của Lê-nin: “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những điều hiểu biết quý áu của đời trước để lại”

Câu 2:

Các nguyên tắc đoàn kết quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh

1 Đoàn kết trên cơ sở thống nhất mục tiêu và lợi ích; có lý, có tình.

Tìm ra được điểm tương đồng về mục tiêu và lợi ích giữa các dân tộc là vấn đề tiên quyết trong công tác tập hợp lực lượng Hồ Chí Minh đã sớm phát hiện ra sự tương đồng này nhờ đặt cách mạng Việt Nam vào bối cảnh chung của thời đại và tìm ra nghĩa vụ của Việt Nam đối với sự nghiệp tiến bộ chung của nhân loại

- Đối với phong trảo cộng sản và công nhân quốc tế, Hồ Chí Minh giương cao ngọn

cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thực hiện đoàn kết thống nhất trên nền tảng của chủ nghĩa Mác- Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình.

Hồ Chí Minh đã dành cả một đời để đấu tranh cho sự nghiệp củng cố khối đại đoàn kết thống nhất giữa các dân tộc trên thế giới, minh chứng cụ thể tử quá trình hoạt động cách mạng của Người Hô Chí Minh chỉ ra rằng, để thực hiện đoàn kết thống nhất trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế thì đoàn kết giữa các Đảng “là điều kiện quan trọng nhất để đảm bảo cho phong trào cộng sản và công nhân toàn thắng trong cuộc đấu tranh vĩ đại cho tương lai tươi sáng của toàn thể loài người” dựa trên cơ sở nguyên tắc của quốc tế vô sản

“Có lý” ở đây là tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của nghĩa Mác – Lê-nin xuất phát từ lợi ích chung của cách mạng thế giới

“Có tình” là sự đồng cảm và tôn trọng lẫn nhau dựa trên tinh thần cùng chung lý tưởng và mục tiêu đấu tranh cho lợi ích chung nhưng đồng thời lợi ích và mục tiêu riêng của mỗi quốc gia phải được tôn trọng, miễn là không ảnh hướng xấu đến lợi ích chung

Trang 5

Như vậy, “có lý, có tình” vừa thể hiện tính nguyên tắc, vừa thể hiện nội dung của chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh Tính ứng dụng của quan điểm này không chỉ đúng trong bối cảnh quốc tế mà còn đúng trong lòng xã hội nhân dân lao động nước nhà

- Đối với các dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh giương cao ngọn cờ độc lập, tự do

và quyền bình đẳng giữa các dân tộc.

Kế thừa nhưng tinh hoa văn hóa nhân loại và tiếp thu các học thuyết, tư tưởng, cụ thể là khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”, độc lập, tự do là tư tưởng nhất quán được Hồ Chí Minh cho

là lẽ phải không thể chối cãi Lịch sử đã chứng minh được khát vọng của Người khi dành cả đời chăm lo cho dân tộc, không những vậy còn đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc khác dựa trên tinh thần: “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”

Nguyên tắc của Người nêu rõ: Dân tộc Việt Nam tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự quyết của tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới, đồng thời mong muốn các quốc gia, dân tộc trên thế giới quan hệ hợp tác, hữu nghị với Việt Nam trên cơ sở những nguyên tắc đó

- Đối với các lực lượng tiến bộ trên thế giới, Hồ Chí Minh - giương cao ngọn cờ hòa bình và công lý.

Giương cao ngọn cờ hòa bình là tư tưởng đấu tranh bất di bất dịch của Hồ Chủ tịch Nền hòa bình được nhắc tới là “nền hòa bình chân chính trên cơ sở công bình và lý tưởng dân chủ”, nghĩa là không có sự đàn áp, lệ thuộc của dân tộc này lên dân tộc khác, đó là nền hòa bình thực

sự trong độc lập, tự do

2 Đoàn kết trên cơ sở độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường

Đoàn kết quốc tế là tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các lực lượng quốc tế nhằm tăng thêm nội lực chứ không phải ỷ lại vào sự ủng hộ, giúp đỡ ấy

- Để đoàn kết quốc tế tốt phải có nội lực tốt Nội lực là nhân tố quyết định, còn nguồn lực ngoại sinh chỉ có thể phát huy tác dụng thông qua nguồn lực nội sinh.

Nội lực là sức mạnh bên trong, là sức mạnh của dân tộc Ngoại lực là sức mạnh bên ngoài của thời đại Trong đấu tranh, Hồ Chí Minh luôn nêu cao khẩu hiệu: “Tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính”, “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã” Còn trong quan hệ quốc tế, Người nhấn mạnh phải có thực lực, thực lực là cái chiêng, ngoại giao là tiếng chiêng, cái chiêng có to thì tiếng chiêng mới lớn, nghĩa là thực lực tốt thì quan hệ mới bền chặt, vững mạnh

- Muốn tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế, Đảng phải có đường lối độc lập, tự chủ và

đúng đắn.

Trang 6

Theo Hồ Chí Minh, “độc lập” có nghĩa là tự mình điều khiển lấy mọi công việc, không có sự can thiệp nước ngoài vào Mọi sự giúp đỡ đến từ bên ngoài chỉ là tranh thủ còn cái cốt yếu vẫn

là độc lập tự chủ “Các Đảng dù lớn dù nhỏ đều độc lập và bình đẳng, đồng thời đoàn kết nhất trí giúp đỡ lẫn nhau” Lịch sử đã chứng minh các quan điểm của Hồ Chủ tịch là đúng đắn, điển hình là trong hai cuộc đấu tranh chống Pháp và Mỹ, vận dụng sáng tạo các đường lối độc lập tự chủ, lợi ích nhân dân và tranh thủ được sự ủng hộ từ phong trào nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam để giành thắng lợi

Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

Đảng và nhà nước đang làm tốt công tác vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lê-nin và tư tưởng

Hồ Chí Minh vào con đường hội nhập quốc tế trong thời kỳ mới

Nguyên tắc đoàn kết trên cơ sở độc lập, tự lực tự cường đòi hỏi Đảng cầm quyền phải thật sự trong sạch vững mạnh, cán bộ đảng viên thật sự vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân; một chế độ do nhân dân là chủ và làm chủ; một nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; một hệ thống chính trị có hiệu quả và hiệu lực thực tế

Nguyên tắc đoàn kết trên cơ sở có lý có tình đòi hỏi Đảng và nhà nước phải chủ động xác định

rõ các bước hội nhập đoàn kết quốc tế trong thời kỳ đổi mới, toàn cầu hóa hiện nay, thực hiện chính sách mở cửa, giao lưu, hợp tác, đa phương hóa, đa dạng hóa, củng cố khối đoàn kết với mọi lực lượng tiến bộ trên thế giới vì mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và phát triển Trong khuôn khổ Đại hội lần thứ XIII của Đảng, nước ta tiếp tục xác định còn đường đối ngoại của Đảng là kế thừa và phát triển toàn diện đường lối ngoại giao trong thời kỳ đổi mới bằng vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh và phát huy truyền thống, bản sắc ngoại giao hòa hiếu, giàu tính nhân văn của dân tộc, đường lối đối ngoại của Đảng Trên cơ sở kế thừa, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII tiếp tục phát triển và hoàn thiện đường lối đối ngoại của Đảng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước Trên cơ sở đánh giá, Đại hội XIII tiếp tục kế thừa những nội dung xuyên suốt đường lối đối ngoại của Đảng ta thời

kỳ đổi mới, đồng thời phát triển và bổ sung nhiều nội dung mới để đối ngoại đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới

1 Về đánh giá, dự báo tình hình thế giới, Đại hội XIII kế thừa những nhận định có tình lâu dài, đồng thời cập nhật tình hình thế giới

2 Về mục tiêu đối ngoại, Đại hội XIII khẳng định "bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc" nhưng không được vị kỷ Bên cạnh đó, Đại hội XIII bổ sung bảo đảm an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng, xã hội trật tự, kỷ cương cũng là những lợi ích quan trọng của quốc gia- dân tộc

3 Về vị trí, vai trò và nhiệm vụ của đối ngoại: "Tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình,

ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và

uy tín của đất nước"

Trang 7

4 Triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng là định hướng bao trùm của đối ngoại trong giai đoạn phát triển mới của đất nước

5 Để đối ngoại phát huy vai trò tiên phong và hoàn thành tốt các định hướng, nhiệm vụ nói trên, Đại hội XIII đề ra chủ trương “xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân” Chủ trương mới này phản ánh sự trưởng thành của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, đồng thời cũng là một yêu cầu mới vừa mang tính chiến lược, lâu dài, vừa mang tính cấp thiết đối với đối ngoại và ngành ngoại giao trong bối cảnh mới

Chủ trương hội nhập quốc tế qua các kỳ Đại hội Đảng lần thứ đã nhận định làm rõ ít nhiều đã mang đến những thành tựu cho nước nhà Đầu tiên là Việt Nam đã và đang là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và khu vực, mở rộng quan hệ ngoại giao với nhiều nước trên thế giới Thứ hai là hội nhập quốc tế mở ra thị trường phát triển mới cho Việt Nam, từ một nước nghèo, lạc hậu trong khủng hoảng kinh tế - xã hội trở thành nước có thu nhập trung bình; từ một nước nhận viện trợ là chủ yếu thành đối tác hợp tác phát triển,… Thứ ba là Việt Nam đã tiếp thu được khoa học, công nghệ mới và cách quản lý tiên tiến trên nhiều lĩnh vực, qua đó góp phần tăng năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động sản xuất, kinh doanh

Vẫn trên cơ sở vận dụng và kế thừa chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng và nhà nước vẫn nỗ lực trong công tác hội nhập và đoàn kết quốc tế dựa vào các nguyên tắc đoàn kết quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh:

- Hội nhập quốc tế là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước

- Hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực

- Hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa -

xã hội

- Hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh; kiên định lợi ích quốc gia, dân tộc; chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu; không tham gia vào các tập hợp lực lượng, các liên minh của bên này chống bên kia

- Nghiêm chỉnh tuân thủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia, đi đôi với chủ động, tích cực xây dựng và tận dụng hiệu quả các quy tắc, luật lệ quốc tế, tham gia các hoạt động của cộng đồng khu vực và quốc tế; chủ động đề xuất sáng kiến, cơ chế hợp tác trên nguyên tắc cùng có lợi; củng cố và nâng cao vai trò trong cộng đồng khu vực và quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới

Trang 8

Bên cạnh đó, đại đoàn kết dân tộc là yếu tố nội sinh có ý nghĩa quyết định Đại đoàn kết dân tộc nhằm tạo lực và thế để vươn ra bên ngoài và mở cửa hội nhập là cho lực và thế ngày càng tăng thêm Thực hiện đại đoàn kết dân tộc kết hợp với đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại sẽ là ngon nguồn tạo nên sức mạnh vô địch của cách mạng Việt Nam theo

tư tưởng Hồ Chí Minh

-Hết-ĐỀ BÀI

Câu 1:cho biết Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển

tinh hoa văn hóa phương đông thế nào để hình

thành nên tư tưởng của người?

Câu 2: Hãy phân tích những nguyên tắc đoàn kết

quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh Liên hệ với

quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

ĐỀ BÀI

Câu 1:cho biết Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển

tinh hoa văn hóa phương đông thế nào để hình

thành nên tư tưởng của người?

Câu 2: Hãy phân tích những nguyên tắc đoàn kết

quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh Liên hệ với

quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

ĐỀ BÀI

Câu 1:cho biết Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển

tinh hoa văn hóa phương đông thế nào để hình

thành nên tư tưởng của người?

Câu 2: Hãy phân tích những nguyên tắc đoàn kết

quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh Liên hệ với

quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

ĐỀ BÀI

Câu 1:cho biết Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển

tinh hoa văn hóa phương đông thế nào để hình

thành nên tư tưởng của người?

Câu 2: Hãy phân tích những nguyên tắc đoàn kết

quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh Liên hệ với

quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

Trang 9

ĐỀ BÀI

Câu 1:cho biết Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa phương đông thế nào để hình thành nên tư tưởng của người?

Câu 2: Hãy phân tích những nguyên tắc đoàn kết quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh Liên hệ với quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

ĐỀ BÀI

Câu 1:cho biết Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa phương đông thế nào để hình thành nên tư tưởng của người?

Câu 2: Hãy phân tích những nguyên tắc đoàn kết quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh Liên hệ với quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

ĐỀ BÀI

Câu 1:cho biết Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa phương đông thế nào để hình thành nên tư tưởng của người?

Câu 2: Hãy phân tích những nguyên tắc đoàn kết quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh Liên hệ với quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

ĐỀ BÀI

Câu 1:cho biết Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa phương đông thế nào để hình thành nên tư tưởng của người?

Câu 2: Hãy phân tích những nguyên tắc đoàn kết quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh Liên hệ với quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

ĐỀ BÀI

Câu 1:cho biết Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa phương đông thế nào để hình thành nên tư tưởng của người?

Câu 2: Hãy phân tích những nguyên tắc đoàn kết quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh Liên hệ với quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

Trang 10

ĐỀ BÀI

Câu 1:cho biết Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa phương đông thế nào để hình thành nên tư tưởng của người?

Câu 2: Hãy phân tích những nguyên tắc đoàn kết quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh Liên hệ với quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

ĐỀ BÀI

Câu 1:cho biết Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa phương đông thế nào để hình thành nên tư tưởng của người?

Câu 2: Hãy phân tích những nguyên tắc đoàn kết quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh Liên hệ với quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

ĐỀ BÀI

Câu 1:cho biết Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa phương đông thế nào để hình thành nên tư tưởng của người?

Câu 2: Hãy phân tích những nguyên tắc đoàn kết quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh Liên hệ với quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

ĐỀ BÀI

Câu 1:cho biết Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa phương đông thế nào để hình thành nên tư tưởng của người?

Câu 2: Hãy phân tích những nguyên tắc đoàn kết quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh Liên hệ với quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

ĐỀ BÀI

Câu 1:cho biết Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa phương đông thế nào để hình thành nên tư tưởng của người?

Câu 2: Hãy phân tích những nguyên tắc đoàn kết quốc tế theo quan điểm Hồ Chí Minh Liên hệ với quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay

Ngày đăng: 29/05/2022, 16:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w