Chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết mở, không ngừng được đổi mới, được phát triển trong dòng trí tuệ của nhân loại ...8 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỰ VẬN DỤNG CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊ NIN TR
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO ĐẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-
-TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊ NIN VÀ ỨNG DỤNG
TRONG ĐỜI SỐNG SINH VIÊN
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Trung Hiếu
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO ĐẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-
-TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Đề tài:
SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC LÊ NIN VÀ ỨNG DỤNG
TRONG ĐỜI SỐNG SINH VIÊN
Người hướng dẫn khoa học : Lê Ngọc Thông
Hà Nội, tháng 01 năm 2021
Trang 3Do kiến thức thực tế chưa nhiều, nên bài tiểu luận của em khó tránh khỏinhững sai xót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của Quý thầy và các bạn
để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn!
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC MÁC -LÊNIN 2
1.1 Những điều kiện lịch sử và các tiền đề của sự ra đời triết học Mác - Lenin 2
1.1.1 Điều kiện lịch sử 2
1.1.2 Tiền đề lý luận 3
1.1.4.Các bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác – Lênin 5
1.1.5.Sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trong các giai đoạn lịch sử 5 1.2.Những nội dung chủ yếu thể hiện bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin 6
1.2.1 Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống lý luận khoa học 6
1.2.2 Chủ nghĩa Mác - Lênin là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan khoa học và phương pháp luận mácxít 7
1.2.3 Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người với việc xác định rõ con đường, lực lượng, phương thức để đạt mục tiêu đó 8
1.2.4 Chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết mở, không ngừng được đổi mới, được phát triển trong dòng trí tuệ của nhân loại 8
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỰ VẬN DỤNG CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊ NIN TRONG ĐỜI SỐNG SINH VIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 9
2.1 Một số kết quả đạt được qua học tập Triết học Mác - Lênin với phát triển năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên Việt Nam 9
2.2 Một số hạn chế qua học tập Triết học Mác – Lênin với phát triển năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên Việt Nam hiện nay. 11
2.3 Nguyên nhân hạn chế qua học tập Triết học Mác - Lênin với phát triển năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên 13
2.3.1.Nguyên nhân khách quan 13
2.3.2.Nguyên nhân chủ quan 15
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN CHO SINH VIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY 17
Trang 53.1.Thay đổi nhận thức của sinh viên về vị trí, vai trò, ý nghĩa nghiên cứu, học tập Triết
học Mác - Lênin 17
3.2.Phát huy vai trò tích cực của sinh viên trong học tập Triết học Mác - Lênin 17
KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
Lịch sử Triết học là một phần học trong chương trình môn Triết học Mác - Lênin ở các trường Đại học và Cao đẳng giúp người học nắm được quá trình hình thành phân tích những khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật của tư duy triết học nhân loại, đồng thời nhận thấy rõ sự ra đời của phát triển của triết học Mác - Lênin là một tất yếu hợp quy luật chứ không phải là một trào lưu biệt lập nằm ngoài dòng chảy của văn minh nhân loại.
Triết học ra đời và phát triển cho đến nay đã có lịch sử gần 3000 năm Sự pháttriển những tư tưởng triết học của nhân loại là một quá trình không đơn giản Cuộc đấutranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, và gắn với nó là cuộc đấu tr anhgiữa các phương pháp nhận thức hiện thực – phương pháp biện chứng và phươngpháp siêu hình - tuy là cái trục xuyên suốt lịch sử triết học, làm nên cái “logic nội tạikhách quan” của sự phát triển, song lịch sử diễn biến của nó lại hết sức phức tạp
Triết học Mác là một hệ thống triết học khoa học và cách mạng, chính vì vậy
nó đã trở thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học của giai cấp côngnhân và nhân loại tiến bộ trong thời đại mới Triết học Mác đã kế thừa những tinhhoa, từ đó đưa ra những nguyên lý khoa học giúp con người nhân thức đúng và cảitạo thế giới Sự ra đời triết học Mác tạo nên sự biến đổi có ý nghĩa cách mạng tronglịch sử phát triển triết học của nhân loại C.Mác và Ph.Ăngghen đã kế thừa mộtcách có phê phán những thành tựu tư duy nhân loại, sáng tạo nên chủ nghĩa duyvật triết học triệt để, không điều hoà với chủ nghĩa duy tâm và phép siêu hình
Để xây triết học duy vật biện chứng, Mác đã phải cải cả chủ nghĩa duy vật cũ và cả phép biện chứng duy tâm của Hêghen Đó là một cuộc cách mạng thật sự trong học thuyết
về xã hội, một trong những yếu tố chủ yếu của bước ngoặt cách mạng mà Mác và Ăngghen đã thực hiện trong triết học Vì vậy em nghiên cứu vấn đề “Sự ra đời của triết học Mác - Lê nin và ứng dụng trong đời sống sinh viên.” cho bài tiểu luận của mình.
Do kinh nghiệm và kiến thức của bản thân chưa có nhiều, nên dù em đã cố gắng tìm tòi với tinh thần trách nhiệm, song do mới tiếp xúc với triết học, kiến thức còn nhiều hạn chế chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong thầy chủ nhiệm bộ môn cùng các bạn đọc góp ý bổ sung để em có thể hoàn thiện thêm kiến thức của mình.
Trang 7CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SỰ RA ĐỜI CỦA TRIẾT HỌC
MÁC - LÊNIN1.1 Những điều kiện lịch sử và các tiền đề của sự ra đời triết học Mác - Lenin
1.1.1 Điều kiện lịch sử
Nhìn chung, có ba nguồn gốc ra đời của triết học là điều kiện kinh tế - xã hội,
tiền đề lý luận và tiền đề khoa học tự nhiên Đối với triết học Mác thì nguồn gốc rađời biểu hiện thành các điều kiện sau:
- Sự củng cố và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện cách mạng công nghiệp
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX do tác động của cuộc cách mạng trong côngnghiệp làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ Phương thức sản xuất tư bảnchủ nghĩa được củng cố vững chắc và trở thành xu thế phát triển của nền sản xuất xãhội Nước Anh đã hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp và trở thành cường quốccông nghiệp Ở Pháp, cuộc cách mạng công nghiệp đang đi vào giai đoạn hoàn thành
Sự phát triển của lực lượng sản xuất làm cho quan hệ sản xuất tư bản đượccủng cố tạo ra cơ sở kinh tế để cho xã hội tư bản phát triển kèm theo đó mâu thuẫn
xã hội càng thêm gay gắt và bộc lộ ngày càng rõ rệt; sự phân hóa giàu nghèo tănglên, bất công xã hội tăng Những xung đột giữa giai cấp vô sản với tư sản đã pháttriển thành những cuộc đấu tranh giai cấp
- Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử
Giai cấp vô sản và giai cấp tư sản ra đời và lớn lên cùng với sự hình thành
và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Khi chế độ tư bản chủnghĩa được xác lập, giai cấp tư sản trở thành giai cấp thống trị xã hội, giai cấp vôsản trở thành bị trị thì mâu thuẫn giữa vô sản với tư sản vốn mang tính đối khángphát triển trở thành những cuộc đấu tranh giai cấp Cuộc khởi nghĩa của thợ dệt ởthành phố Liông (Pháp) năm 1831 tuy bị đàn áp nhưng lại bùng nổ tiếp vào năm
1834 Ở Anh có phong trào Hiến chương vào cuối những năm 30 của thế kỷ XIX, làphong trào cách mạng to lớn có tính chất quần chúng và có hình thức chính trị.Nước Đức nổi lên phong trào đấu tranh của thợ dệt ở Xilêdi đã mang tính giai cấp
Trong hoàn cảnh lịch sử đó, giai cấp tư sản không còn đóng vai trò là giai cấp cách mạng Ở Anh, Pháp giai cấp tư sản tuy nắm quyền thống trị, lại hoảng sợ trước cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản nên không còn là vị trí tiên phong trong quá trình cải tạo dân chủ
Trang 8như trước Còn giai cấp tư sản Đức đang lớn lên trong lòng xã hội phong kiến, vốn đãkhiếp sợ bạo lực cách mạng khi nhìn vào tấm gương Cách mạng tư sản Pháp 1789,nay lại thêm sợ hãi trước sự phát triển của phong trào công nhân Đức Vì vậy, giai cấp
vô sản xuất hiện trên vũ đài lịch sử với sứ mệnh xoá bỏ xã hội tư bản và trở thành lựclượng tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ và tiến bộ xã hội
Như vậy, thực tiễn xã hội, nhất là thực tiễn của phong trào đấu tranh của giaicấp vô sản đòi hỏi phải được soi sáng bởi một hệ thống lý luận, một học thuyết triếthọc mới Học thuyết đó phải xuất hiện để định hướng phong trào đấu tranh nhanhchóng đạt được thắng lợi
Sự xuất hiện của giai cấp vô sản trên vũ đài lịch sử và phong trào đấu tranh của họ
đã tạo ra nguồn tư liệu quý báu về thực tiễn xã hội để Các Mác và Ph Ăngghen xây dựng nên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Nó trở thành thế giới quan
và phương pháp luận cách mạng của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ
và xây dựng xã hội mới Nước Đức trở thành quê hương của chủ nghĩa Mác.
1.1.2 Tiền đề lý luận
Để xây dựng học thuyết của mình ngang tầm với trí tuệ nhân loại, Các Mác
và Ph.Ăngghen đã kế thừa những thành tựu trong lịch sử tư tưởng nhân loại Triếthọc Đức với hai nhà triết học tiêu biểu Hêghen và Phoiơbắc là nguồn gốc trực tiếpcủa triết học Mác
Các Mác và Ph.Ăngghen đã từng là những người theo học triết học Hêghen và nghiên cứu triết học Phoiơbắc Qua đó, hai ông đã nhận thấy: Tuy học thuyết triết học của Hêghen mang quan điểm của chủ nghĩa duy tâm nhưng chứa đựng cái "hạt nhân hợp lý" của phép biện chứng Còn học thuyết triết học Phoiơbắc tuy còn mang nặng quan niệm siêu hình nhưng nội dung lại thấm nhuần quan điểm duy vật Các Mác và Ph.Ăngghen đã
kế thừa "hạt nhân hợp lý" của Hêghen và cải tạo, lột bỏ cái vỏ thần bí để xây dựng nên lý luận mới của phép biện chứng Hai ông đã kế thừa chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc, khắc phục tính siêu hình và những hạn chế lịch sử khác của nó để xây dựng nên lý luận mới của chủ nghĩa duy vật Từ đó tạo ra cơ sở để hai ông xây dựng nên học thuyết triết học mới, trong đó chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng thống nhất một cách hữu cơ.
Việc kế thừa và cải tạo kinh tế chính trị học với những đại biểu xuất sắc làA.Smít và Đ.Ricácđô không những là nguồn gốc để xây dựng học thuyết kinh tế màcòn là tiền đề lý luận để hình thành quan điểm triết học
Trang 9Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp với những đại biểu nổi tiếng như XanhXimông và S.Phuriê là một trong ba nguồn gốc lý luận của triết học Mác Các Mác
và Ph.Ăng ghen đã kế thừa những quan điểm tiến bộ của chủ nghĩa xã hội khôngtưởng Pháp (quan điểm về vai trò của nền sản xuất trong xã hội, quan điểm về sởhữu v.v ) và khắc phục tính không tưởng thiếu điều kiện lịch sử cụ thể của nó đểxây dựng những quan điểm duy vật lịch sử
Vì vậy, khi tìm hiểu nguồn gốc lý luận của triết học Mác cần tìm hiểu khôngchỉ trong triết học Đức mà trong cả chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp và kinh tếchính trị học Anh
1.1.3 Tiền đề khoa học tự nhiên
Giữa triết học với khoa học nói chung và khoa học tự nhiên nói riêng có mốiquan hệ khăng khít Sự phát triển của tư duy triết học phải dựa trên cơ sở tri thức
do các khoa học cụ thể đem lại Vì thế, mỗi khi trong khoa học có những phát minhmang tính chất vạch thời đại thì tạo ra sự thay đổi của triết học
Trong những năm đầu của thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên phát triển mạnh vớinhiều phát minh quan trọng: Định luật bảo toàn biến hóa năng lượng; Thuyết tế bào;Thuyết tiến hóa Những phát minh khoa học đó đã vạch ra mối liên hệ thống nhất giữanhững sự vật, giữa các hình thức vận động khác nhau trong tính thống nhất vật chấtcủa thế giới, vạch ra tính biện chứng của sự vận động và phát triển Đồng thời đã làmbộc lộ rõ tính hạn chế và sự bất lực của phương pháp tư duy siêu hình và của tư tưởngbiện chứng cổ đại cũng như phép biện chứng của Hêghen Từ đó đặt ra một yêu cầutrong tư duy nhân loại cần phải xây dựng một phương pháp tư duy mới thật sự khoahọc Với những phát minh của mình, khoa học đã cung cấp những tri thức để Các Mác
và Ph.Ăng ghen khái quát xây dựng phép biện chứng duy vật
Tóm lại, khi sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vậtlịch sử, triết học Mác đã góp phần vạch ra những qui luật vận động chung nhất củagiới tự nhiên, xã hội và tư duy con người Nhờ khắc phục được những thiếu sót cơbản của triết học duy vật cũ mà triết học Mác đã trang bị cho giai cấp vô sản vàquần chúng lao động công cụ khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới
Sự xuất hiện triết học Mác là bước chuyển cách mạng trong lịch sử triết học, nó không phải là một sản phẩm ngẫu nhiên mà là một hiện tượng hợp qui luật Triết học Mác
là kết quả nảy sinh tất yếu từ những tiền đề kinh tế - xã hội, từ sự kế thừa có chọn lọc
Trang 10những di sản văn hóa và khoa học của nhân loại, từ kinh nghiệm thực tiễn đấutranh cách mạng của giai cấp vô sản Triết học Mác thực sự là thế giới quan khoahọc, là phương pháp luận cách mạng của giai cấp vô sản.
1.1.4.Các bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác – Lênin
Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết khoa học gồm ba bộ phận thống nhấthữu cơ không thể tách rời nhau:
- Triết học Mác - Lênin là khoa học về những quy luật phổ biến chung nhấtcủa sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người; trang bị cho conngười thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật đúng đắn
để nhận thức và cải tạo thế giới
- Kinh tế chính trị học Mác - Lênin nghiên cứu quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (tức là nghiên cứu quan hệ sản xuất) và trong trao đổi, tiêu dùng; nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với quy luật giá trị thặng dư, chỉ rõ bản chất, những quy luật kinh tế chủ yếu của sự hình thành, phát triển và đưa phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa tới chỗ diệt vong; chỉ ra những quy luật phát triển của quan hệ sản xuất mới, con đường xây dựng một xã hội không có áp bức bất công, vì tự do, ấm no, hạnh phúc cho mọi người - xã hội cộng sản chủ nghĩa, giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội.
- Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những quy luật chuyển biến xã hội tư bản chủ nghĩa lên xã hội xã hội chủ nghĩa và phương hướng xây dựng xã hội mới; chứng minh rằng, chủ nghĩa tư bản càng phát triển càng tạo ra những tiền đề vật chất đầy đủ cho sự ra đời xã hội mới - xã hội cộng sản chủ nghĩa Lực lượng xã hội thực hiện sự chuyển biến đó chính là giai cấp
vô sản và nhân dân lao động; chỉ ra sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân là lật
đổ chủ nghĩa tư bản xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa - không còn người áp bức người, không còn người nô dịch người; nghiên cứu những vấn đề chính trị - xã hội có tính quy luật trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa như vấn đề tôn giáo và chính sách tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
1.1.5.Sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trong các giai đoạn lịch sử
Thời kỳ trước “đổi mới, cải cách, cải tổ”: Các nhà lý luận của chủ nghĩa xã hội, đứng đầu là các nhà lý luận Xô Viết đã có những đóng góp quan trọng trong việc phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin trên tất cả ba bộ phận triết học; kinh tế - chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học Họ đã cụ thể hóa và làm giàu thêm những nguyên lý của chủ nghĩa
Trang 11Mác - Lênin bằng thực tiễn đấu tranh giải phóng giành độc lập dân tộc và xây dựng chủnghĩa xã hội hiện thực ở một loạt nước xã hội chủ nghĩa Đồng thời, họ cũng đã kiênquyết đấu tranh bác bỏ những sự xuyên tạc, vu khống ác ý đối với chủ nghĩa Mác -Lênin Tuy nhiên, sự vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin ở các nước xã hộichủ nghĩa nói chung, ở Liên Xô nói riêng trước đổi mới, cải cách, cải tổ ít nhiều đã bịgiáo điều Chính vì vậy, mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực trước đổi mới, cải cách, cải
tổ có những biểu hiện giáo điều, xơ cứng, bảo thủ, chậm đổi mới
Thời kỳ “đổi mới, cải cách, mở cửa”: Trong thời kỳ đổi mới, cải cách, mở cửa, Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng Cộng sản Trung Quốc, cùng một số Đảng Cộng sản khác đã vận dụng, bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn mỗi nước Trên cơ sở nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam với 8 đặc trưng, trong đó đặc trưng “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” vừa là đặc trưng thứ nhất vừa là mục tiêu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam Trung Quốc đã xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc Chủ nghĩa
xã hội vẫn tiếp tục được xây dựng ở Cu Ba, Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn tồn tại và phát triển, vẫn là thế giới quan, phương pháp luận khoa học của hàng triệu triệu con người tiến bộ trên trái đất.
1.2.Những nội dung chủ yếu thể hiện bản chất khoa học và cách mạng của chủ
nghĩa Mác – Lênin
1.2.1 Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống lý luận khoa học
Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống lý luận khoa học thống nhất của ba
bộ phận cấu thành không thể tách rời là Triết học Mác - Lênin; Kinh tế chính trị họcMác - Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa học
Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Triết học Mác - Lênin chỉ ra rằng, lựclượng sản xuất theo quy luật khách quan tự thân luôn vận động phát triển và đếnmột giai đoạn nhất định sẽ mâu thuẫn gay gắt với quan hệ sản xuất hiện có, mâuthuẫn này được giải quyết sẽ làm cho phương thức sản xuất mới ra đời, kéo theo
nó là một xã hội mới, một hình thái kinh tế - xã hội mới được ra đời từ trong lòng xãhội cũ, hình thái kinh tế - xã hội cũ Quá trình này diễn ra một cách lịch sử - tựnhiên Từ trong lòng chế độ tư bản chủ nghĩa sẽ hình thành những điều kiện, tiền
đề vật chất cho sự ra đời của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
Trang 12Học thuyết giá trị thặng dư của Kinh tế chính trị học Mác - Lênin chỉ rõ sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là mục đích và quy luật vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Chính mâu thuẫn giữa tính xã hội hóa cao của lực lượng sản xuất tư bản chủ nghĩa mâu thuẫn với tính chất tư bản tư nhân chủ nghĩa của sự chiếm hữu tư liệu sản xuất
là nguyên nhân của mọi mâu thuẫn trong lòng phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Mâu thuẫn này biểu hiện về mặt xã hội thành mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân - giai cấp tiến bộ, đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ với giai cấp tư sản - giai cấp đại diện cho giai cấp bảo thủ, phản tiến bộ Mâu thuẫn này chỉ được giải quyết thông qua cách mạng xã hội do giai cấp công nhân thực hiện Giai cấp công nhân có vai trò lôi cuốn các tầng lớp lao động khác vào cuộc đấu tranh đập tan xã hội cũ, xây dựng xã hội mới không còn người bóc lột người mà Chủ nghĩa xã hội khoa học đã phân tích chỉ ra.
Chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống lý luận khoa học là còn bởi lẽ, các nhàsáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã kế thừa toàn bộ tinh hoa trong lịch sử tư duy củanhân loại Chủ nghĩa Mác - Lênin còn có căn cứ cơ sở, tiền đề khoa học; có giai cấp vôsản và thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp này và các phương pháp khoa học,khách quan trong nhận thức tự nhiên, xã hội và tư duy của con người
1.2.2 Chủ nghĩa Mác - Lênin là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan
khoa học và phương pháp luận mácxít
Trước khi chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời, thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng khoa học luôn tách rời nhau Trong lịch sử tư tưởng của nhân loại cũng có một số nhà tư tưởng có sự thống nhất giữa thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng khoa học Tuy nhiên, sự thống nhất này còn ở trình độ thấp Hơn nữa, cả thế giới quan khoa học, cả phương pháp luận biện chứng khoa học đều còn ở trình độ thô sơ.
Trong chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa duy vật thống nhất hữu cơ với phépbiện chứng Đồng thời, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng đều được C.Mác vàPh.Ăngghen phát triển lên một trình độ mới về chất hơn hẳn so với trước đó Do đó,
sự thống nhất thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng khoa họcmácxít là một đặc trưng không thể thiếu của chủ nghĩa Mác - Lênin
Trang 131.2.3 Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết giải phóng xã hội, giải phóng giai
cấp, giải phóng con người với việc xác định rõ con đường, lực lượng, phương thức
để đạt mục tiêu đó
Chủ nghĩa Mác - Lênin xuất phát từ con người hiện thực và cũng nhằm mụcđích giải phóng con người Chủ nghĩa Mác - Lênin không có mục tiêu nào khác làgiải phóng con người khỏi mọi hình thức nô dịch, áp bức, bóc lột Nhưng để giảiphóng con người, trước hết phải giải phóng giai cấp công nhân rồi tiến tới giảiphóng nhân loại, giải phóng xã hội Con đường giải phóng này là con đường đấutranh cách mạng đập tan nhà nước tư sản bóc lột, xây dựng một nhà nước mới -nhà nước xã hội chủ nghĩa và sau này là cộng sản chủ nghĩa - mà ở đó không cònbất kỳ sự nô dịch, áp bức, bóc lột con người nào Muốn vậy, giai cấp công nhânphải đoàn kết, tập hợp giai cấp nông dân và những người lao động khác dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản để thực hiện cuộc đấu tranh cách mạng này
Thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại đã chứng tỏ ý nghĩa nhân văn tolớn của mục tiêu giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người củachủ nghĩa Mác - Lênin Cả về phương diện lý luận, cả về phương diện thực tiễnđều chứng tỏ, chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa nhân đạo nhất
1.2.4 Chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết mở, không ngừng được đổi
mới, được phát triển trong dòng trí tuệ của nhân loại
Về bản chất, chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết phát triển, là hệ thống
mở, luôn được bổ sung, phát triển Ngay từ năm 1887, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Lýluận của chúng tôi không phải là một giáo điều, mà là sự giải thích quá trình pháttriển, quá trình này bao hàm trong bản thân nó một loạt những giai đoạn kế tiếpnhau” V.I.Lênin sau này cũng đã không ít lần nhắc lại lời Ph.Ăngghen và khẳngđịnh lại luận điểm kinh điển ấy của chủ nghĩa Mác
C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin không bao giờ tự coi lý luận của các ông là “bất khả xâm phạm”, là hệ thống khép kín, là chân lý tuyệt đích cuối cùng Trái lại, các ông luôn đòi hỏi những người cộng sản phải biết vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, truyền thống văn hóa của mỗi nước Sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh của cách mạng Việt Nam bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như các Đảng cộng sản và phong trào công nhân quốc tế cũng cho thấy bản chất vốn có của chủ nghĩa Mác -
Trang 14Lênin là sáng tạo và phát triển Chính nhờ có sáng tạo mà chủ nghĩa Mác - Lêninđược phát triển, chính phát triển lại là điều kiện cho những người mác-xít vận dụngsáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG SỰ VẬN DỤNG CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊ NIN
TRONG ĐỜI SỐNG SINH VIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Một số kết quả đạt được qua học tập Triết học Mác - Lênin với phát triển năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên Việt Nam
- Sinh viên nắm vững được các nguyên tắc tư duy biện chứng cơ bản
Khảo sát nhận thức của sinh viên về vai trò của Triết học Mác - Lênin trong pháttriển năng lực tư duy biện chứng Kết quả khảo sát thu được: 61,5% xác nhận đã vậndụng thường xuyên các nguyên tắc của tư duy biện chứng vào nghiên cứu khoa học;65,5% đánh giá nắm vững tư duy biện chứng giúp kết quả học tập tốt hơn; 56,5% nắmvững nguyên tắc khách quan để nhận thức quy luật vận động, biến đổi, phát triển
Kết quả khảo sát cũng cho thấy, 59,5% sinh viên vận dụng sáng tạo nguyên tắckhách quan trong học tập, nghiên cứu khoa học, rèn luyện thực tiễn; 60,5% đánh giácao việc nắm vững nguyên tắc của tư duy biện chứng duy vật vào học tập, nghiên cứukhoa học và vận dụng sáng tạo nội dung các phạm trù của phép biện chứng duy vậtvào nhận thức và cải tạo thực tiễn cao hơn so với trước khi học; 63,5% vận dụngthường xuyên các nguyên tắc Triết học vào cuộc sống và học tập; 62,5% cho rằng cácnguyên tắc của phép biện chứng giúp khắc phục sai lầm của tư duy siêu hình, bệnhchủ quan, duy ý chí; 66,5% nắm vững nguyên tắc toàn diện, có khả năng rèn luyện tưduy biện chứng, khắc phục hạn chế về tính máy móc
- Năng lực nhận thức và vận dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của sinh viên ngày càng đầy đủ hơn
Khảo sát nhận thức của sinh viên về vai trò của Triết học Mác - Lênin với phát triển năng lực tư duy biện chứng Kết quả khảo sát: 57% cho rằng Triết học và các môn khoa học Mác - Lênin có vai trò quan trọng trong nâng cao năng lực tư duy biện chứng; 55,5% cho rằng các cặp phạm trù triết học là rất cần thiết để rèn luyện năng lực tư duy biện chứng; 67% đánh giá quy luật của phép biện chứng là rất quan trọng, có tác dụng gợi mở, chỉ đạo, định hướng trong nghiên cứu và giải quyết hiệu quả vấn đề cụ thể qua từng môn học chuyên ngành; 71% cho rằng quan điểm lý luận, nguyên tắc, phương pháp luận