Lối tao hình minh bạch, khúc triết này thấy phồ biến trên hầu hết các hình trang trí rồng— mây ở thời Lê luôn gặp ở các bia đá, nó khác với quan niệm thông thường ở thời Nguyễn là rồng
Trang 1'VÀI NHẬN XÉT VỀ
BO AN TRIỆN TRON KHAC HINH RONG — MAY IN TREN
BIA SACH BAI VIET SU’ KY TOAN THƯ (Nội các quan bản,
ỌN đấu trién tròn khắc bình rồng—mây in
trên bia bộ sách * Đại Việt Sử ký toàn
thư?, dưới góc độ mỹ thuật có thề đọc
được ở ngôn ngữ tạo hình những *từ? (hoa
tiết và chỉ tiết của hình tượng) đề rồi ghép
thành câu, hoặc ngược lại tử đại thề về chỉ
tiết, khả đi tìm được thời điềm ra đời của
nó
Trong đồ án hình trôn nhỏ, đường kính
chừng 4em, nghệ sĩ diễn tả rất rð một son rồng
chiếm chừng 2/3 hinh ở phía sau có đan xen
mấy cụm mây nhỏ, phần còn lại ở phía trước
nồi lên vài cụm mây nhỏ, nhưng đầy đủ cả
đám - và dải Rồng và mây xoẮn xuýt nhau,
nhưng tách bạch rõ ràng, không che lấp nhau,
dàn đều trên bề mặt hình, không gây tình trạng
_chỗ rậm rỉ và chỗ trống trếnh Tuy cô 1 — 2
dải mây vờn trên thân với tia kéo dài đề toát
ra cái ý rồng bay, toàn hình rồng vẫn rõ rằng,
chứ không phải ần hiện trong mây Lối tao
hình minh bạch, khúc triết này thấy phồ biến
trên hầu hết các hình trang trí rồng— mây ở
thời Lê (luôn gặp ở các bia đá), nó khác
với quan niệm thông thường ở thời Nguyễn
là rồng phải ần minh trong mây, chỉ hiện ra
từng khúc, và đo đó chỗ, thì quá rậm, chỗ thì
quá trống (điền hỉnh là hình rồng trên bộ Cửu
đỉnh ở Huế)
Con rồng trên bỉa sách DVSKTTF tuy trong
tư thế nghiêm chỉnh đầu ngôe cao, thân mình
uốn lượn đề vắt duôi lên trên, song đầu
to với sọ tròn và gần như trọc tóc, mũi thắt
lại với môi trên kéo dài như dải mây hay cụm
lửa nhiều tỉa râu cảm lại rủ xuống như một
nhành cây, cái taito quá cỡ,thân mập và khúc
uốn đuồn đuôn nhỏ dần thành đuôi tạo nên
một về bình dị đến hài hước, khiến ta liên
tưởng đến nhiều hình rồng trang trí ở bia đá
nửa sau thế kỷ XVII (như bia *Hậu phật bi»
ở chùa làng Lệ Mật — Hà Nội, năm Dương Đức
3—1674, bia *Hưng Khánh tự bi ® ở chùa thân
Phúc Tá—~Hải Hưng năm Chính Hòa 15 — 1691,
bia * Trùng tu thánh tư vị», năm Chính Hòa
10—1689, ở cả trang trí kiến trúc như ở đầu bầy
đình Thồ Tang — Vĩnh Phú, cuối thế kỷ 17 )
Trái lại nó rất khác với con rồng thời
CHU QUANG TRỨ
Nguyễn đường bệ, trần bẹt như không có sọ
mà lóc thì tua tổa mặt đữ đăn, thân dài và mảnh mai, đuôi thường cuộn xoắn tròn với thin léng quay quanh (như ở bia «Bản phủ bí ký» ở đền các vua Trần xã An Sinh-Quẳng Ninh, năm Mậu thìn đời Tự Đứe=1868, như ở nhiều bình hương đá thời Nguyễn ,
Qua những đồ án hình rồng Lê và rồng Nguyễn dẫn ra trên đây, có thề kề thêm ở nhiều đồ án những con vật khác nữa (như phượng, lân, ngựa ), luôn eó một loại mô-tip
hỗ trợ là hình mây Hình mây ở từng thời
có khác nhau |
Ở đồ án rồng-mây trên bìa sách ĐVSKTT
có hai lbại mây : Một loại vờn trên thân rồng _và loại kìa điềm vào những khoảng trống cạnh .rồng Loại mây thứ nhất có 2 cụm ám vào thân rồng ở chỗ mọe ra cặp chin trước và chỗ mọc ra cặp chân sau, đều gồm có nhiều đải tia bay lên, gắn hữu cơ với thân rồng như tắm lông mang ý nghĩa đôi cánh biều hiện rồng đang bay mà ta luôn gặp trêu những con rồng thời Lê đã đản ở trên (có niên đại nửa sau thế kỷ XVII Trái lại sang rồng thời Nguyễn thì dưỡng như không còn mày nữa, Loại mây này còn gặp trên một số con thú 4 chân như ở tượng các con nghệ, và rõ nhất
là trong nhiều hình «ngựa bay Ð* chạm trang
trí như ở hương án thờ sư Chuyết Chuyét, chia
Bút Tháp—Hà Bắc giữa thé k¥ XVII
Con loại mây thứ 2 ở những khoảng trống
quanh thân con rồng thì đích thực là mày,
vừa đề lấp khoảng trống, vừa đề biều hiện bầu trời Loại mày này được cấu tạo theo tửng cụm nhồ tách bạch riêng rẽ, độc lập với nhau nhưng đều theo miột nguyên tắc chung gồm vài cuộn xoắn liên kết nhau rồi bay ra một tua đuôi nheo, Ta cũng gặp loại mây này
trên nhiều trang tri thời Lê, chẳng hạn quanh
hình ngựa và lân ở cây hương đá chùa Linh Quang — Hải Phòng chạm năm 1719 và trên nhiều bia trước đó Trái lại, trên nhiều đồ án trang trí thời Nguyễn như ở bỉa hẳn sách ĐVSKTT thời Tự Đức, ở bìa đền Quan Thánh —
HA Nội khắc năm Thành Thái 5—1893 các
Trang 2714 Nghiên cứu lịch sb 36 5+6/88
cụm mây này có một đải như dải lụa lượn
vởn nối nhau thành mảng lớn Ở một số đồ
án rồng-mày kháe của thời Nguyễn như ở trên
bộ Cửu đỉnh — Huế, trên bát hương đá có
những cụm mây không nối nhau nhưng vẫn
từng đám ken dày đặc và thường, phả lên
thân rồng xôm xốp, nhưng khá tỉnh như đề
ngụy trang cho rồng
Con rồng # bia sách ĐVSKTT này là rồng
5 mồng, từ thời Lê và cả ở thời Nguyễn nữa,
thường được quan niệm là hình Ảnh tượng
trưng cho vua, không phồ biến hay gặp trên
những biện vật gấn với vua,
thề-nhừ đã phân tích ở trên—lại phóng túng,
bình dị; thậm chí hài hước gần gũi với nghệ
thuật đân gian, phù hợp với một trào lưu
nghệ thuật dân gian nở rộ ở các đình làng
vào thời Chinh Hòa (hay rộng hơn là cuối thể
kỷ XVI đầu XYVIII, Toàn đô án trình bày
dứt khoát, rõ ràng, đường nét và hình khối
to, khỏe, quen thuộc với mỹ thuật thời Lê ; trải
lại khác với đồ án rồng thời Nguyễn thường
song trên toản |
/
rậm rạp, uần khúc, lẫn rồng với mây, nét và hình đều ẻo lả
_ Tôm lại, bằng ngôn ngữ tạo hình, tuy đề tài rồng-mây quán xuyến nuốt tử thời Lý đến thời Nguyễn, ở hình khắc trên bìa sách ĐYSKTT này cỏ những chỉ tiết thấy khá sớm, $ong cơ bin trén sy tồng hợp toàn thằ, có thề đặt nó:
vào khoảng cuối thế kỷ XVII sang đầu thế
ky XVIII là hợp lý hơn cả
Có lẽ cũng cần nói thêm: Hai hính triện
tròn ở 23 bên tiong bìa có hình đăng đối nhau
và và chỉ tiết không hoàn toàn giống nhau, nên là 2 hỉnh khắc khác nhau nẫm trong bố cục chung của trang bìa nhằm trang trí, chứ không phải là 2 con dấu đóng sau mang tính pháp lý Nếu là con dấu thì liệu có cần phải
2 con ngược nhau không? và phải thật chính xác đề khó làm giả, cả việc đéng 2 eon dấu thật cân gần như đối xứng cũng Ít khả năng xây ra Nếu có nguyên bẵn thì việc xác mỉnh triện tròn này là đồ án trang trí hay con dấu pháp lý sẽ dễ dàng hơn
NHẬN XÉT VỀ NIÊN ĐẠI
(ltếp theo trang 93)
Ở quyền 21 tờ 5a, dòng 9 và tờ 15a, dòng 9,
bản Phạm Công Trứ, chúng tôi thấy có hai chữ
Hiệp 3â và Ty Z] mà bản NCQB chép đúng là
Hiệp và Ty, còn QTGTB (Bản kỷ quyền 18,
tờ 3a, dòng 7 và tờ 27b, đòng9) truyền nhau
khdc saithanh Tri 34 va khả Bj, (do dạng chữ
gan giống nhau) Điều đó có ý nghĩa gì? —
Hai chữ Hiệp và Ty thuộc loại nhân danh
(Hiệp là Hiệp quận công, Ty là ông họ Cao,
tên Ty) Theo nguyên lý văn bản học, người
làm sách đời sau sao chép sách đời trước, họ
có thề làm cho văn bản sau sai khác một số
chữ so với bản trước, Nếu câu chữ ở bản trước
có lỗi về ngữ pháp hoặc là câu văn có nghĩa
thì sự sai khác đó là do sửa chữa có ý thức
Nếu câu chữ ở bản trước không thuộc loại lỗi
ngữ pháp hay câu oàn có nghĩa thì đó là chép
sai do vo linh
Ở đây, sự sai khác là loại nhân danh, và
hình đạng chữ Hiệp Tới trị, Ty với Khả gần
giống nhau, nên đó không phải là sự sửa chữa
cố ý mà là sai do vô tình NCQB không sai,
chứng tổ nó gần với ban Phạm Công Trứ, nó
chép đúng bản có trước nóc Côn QTGTB chép
sại do vô tỉnh,
Sự kiện đó cũng chứng minh rằng QTGTB sao phỏng lại NCQB, do vô tỉnh làm sai chữ
đó, chứ không có lý do gì đề cho rằng NCQB sao phỏng lại QTGTB, và người làm sách N€-
QB đã tìm ra hai chữ sai đề đính chính lại
được Điều đó cũng có nghĩa là NCQB có trước
QTGTB
Tóm lạt : Nội các quan bẫn được in ra từ một hệ ván riêng, có trước bản Tây Sơn Các thông tin khác thì cho biết từ thời cuối Lê,
cụ thề là từ khi Lê Hi soạn ra bộ ĐVSKTT, đến khi có bản Tây Sơn, ta chỉ thấy chép có một lần khắc ván in bắn Lê Hi vào thời Chỉnh Hòa Vậy NCQB được in tử hệván Chính Hòa
là phải
Nếu trong hơn 1200 tờ sách của NCQB có một số tờ nào đó được in ra tử các tấm ván được kh&c muộn hơn về sau, vào đời Cảnh Hưng chẳng hạn (mà biên niên sử không ghi chép, vi coi đó là việc thường; việc tất nhiên, ván mòn thì khắc bồ sung vào ), thì những
tấm đó cãng có thề coi là thuộc hệ oản Chính Hòa Va vi pậu, toản bộ nột dung-NCQB căng
không phải tà sản phầm đời Nguyễn.