1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luật giao dịch điện tử - những vấn đề đặt ra đối với công tác văn thư, lưu trữ

3 2 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 168,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù, khi chưa ban hành văn bản quy phạm pháp luật nêu trên, trong lý luận và thực tiễn cơng tác lưu trữ và quản tý cơng tác văn thư đã nhận thức được, tài liệu điện từ được coi là mộ

Trang 1

Nghiên cứu - Trao đổi Số 4/2007

LUẬT GIAO DỊCH ĐIỆN TỪ - NHỮNG VÁN ĐÈ ĐẶT RA ĐĨI VỚI CƠNG TÁC VĂN THƯ, LƯU TRỮ

gày 29/11/2005,

N Quốc hội đã thơng

qua Luật giao dịch

điện tử số 51/2005/QH11

Đây là một văn bản Luật

quy định những vấn đề rất

mới, liên quan tới việc giao

dịch điện tử giữa các cơ

quan, tổ chức Để cụ thể

hố những quy định này,

ngày 15/2/2007, Chính phủ

đã ban hành Nghị định số

26/2007/NĐ-CP Quy định

chi tiết thi hành Luật Giao

dịeh điện tử về chữ ký số và

dịch vụ chứng thực chữ ký

số Việc ban hành hai văn

bản này đặt ra một số vấn

đề liên quan tới cơng tác

văn thư; lưu trữ mà ở bài

viết này, tơi xin được phân

tích nĩ dưới gĩc độ của một

người nghiên cứu

I Những tồn tại trong

cơng tác văn thư, lưu trữ

cĩ liên quan đến Luật giao

dịch điện tử

Mặc dù, khi chưa ban

hành văn bản quy phạm

pháp luật nêu trên, trong lý

luận và thực tiễn cơng tác

lưu trữ và quản tý cơng tác

văn thư đã nhận thức được,

tài liệu điện từ được coi là

một đối tượng cần nghiên

cứu, song cho đến nay

chưa cĩ những lý giải chính

thức thể nào là tài liệu điện

tử, cũng như chưa cĩ

những quy định của Nhà

Nguyễn Hồng Duy Trường Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ, Cơng chức ngành GTVT

nước để bảo đảm giá trị pháp lý, độ tin cậy cho những loại tài liệu này Với việc ra đời hai văn bản nêu trên đã đặt ra cho cơng tác văn thư, lưu trữ những vấn

đề sau:

1 Phương tiện giao

dịch giữa các cơ quan, tơ chức sẽ cĩ nhiều thay đỗi:

Trước đây, phương tiện

giao dịch phố biên của các

cơ quan chủ yếu vẫn là văn bản (trên vật mang tin bằng giấy) Tuy nhiên, với sự phát triển của cơng nghệ

thơng tin thì hoạt động giao -

dịch giữa các cơ quan đã

cĩ nhiều thay đổi, gắn liền với việc đưa những ứng

dụng tin học vào thực tiễn

Luật đã quy định “giao dịch điện tử là giao dịch bằng

phương tiện điện tử” và giao

dịch này được thể hiện dưới dạng các thơng điệp đữ liệu

"là thơng tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tủ” Như vậy, cĩ

thể thấy pháp luật cũng đã

coi việc giao dịch này tương

tự như phương thức phổ biến hiện nay đĩ là bằng

văn bản, song với những

đặc thù của nĩ, quy trình nghiệp vụ để xử lý những thơng tin này sẽ khác rất nhiều so với các loại tài liệu phổ biến hiện nay Chính vì

vậy nếu so sánh với

2phương thức giao dịch bằng

văn bản thì cĩ thể nĩi pháp luật đã thừa nhận giao dịch

điện tử cĩ giá trị tương tự

nếu thộ mãn các yêu cầu được pháp luật quy định Cụ

thể là, Điều 12 của Nghị

định nêu trên ghi rõ “thơng điệp dữ liệu cĩ giá trị như văn bản Trường hợp pháp luật yêu câu thơng tin phải

được thể hiện bằng văn bản

thì thơng điệp dữ liệu được xem là đáp ứng yêu câu này nếu thơng tin chứa trong thơng điệp dữ liệu đĩ

cĩ thể truy cập và sử dụng

` đề tham chiếu khi cần thiết

Từ sự phân tích trên, về mặt hình thức, một thơng điệp

dữ liệu sẽ tương ứng với

một văn bản thơng thường

và cĩ đầy đủ giá trị pháp lý bảo đảm, bởi vì, Điều 11

của Nghị định đã quy định

“thơng tín trong thơng điệp

dữ liệu khơng bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì thơng tin

đĩ được thể hiện dưới dạng

thơng điệp dữ liệu” Như

vậy, trong cơng tác văn thư,

định nghĩa về văn bản cũng

cần phải cĩ sự bổ sung, mở rộng hơn

2 Thơng điệp dữ liệu -

đối tượng nghiên cứu của

Lưu trữ học

o những đặc thù riêng của nĩ, trong lưu trữ học,

11

Trang 2

_ Nghiên cứu - Trao đổi

cho đến nay chưa đề cập

một cách chỉ tiết đối với loại

tài liệu điện tử Mặc dù vậy,

pháp luật giao dịch điện tử

đã khẳng định cụ thể là

“trường hợp pháp luật yêu

câu chứng từ, hỗ sơ hoặc

thông tin phải được luu trữ

thì chứng từ, hỗ sơ hoặc

thông tin đó có thê được lưu

trữ dưới dạng thông điệp dữ

liệu " ( Điều 15) Mặt khác,

các thông điệp dữ liệu này

được pháp luật bảo đảm vệ

độ tin cậy của nó Điều 13

có ghi “Thông điệp dữ liệu

có giá trị như bản gốc” hay

trong Điều 14 cũng đã coi

“Thông điệp có giá trị làm

chứng cứ giá trị chứng cứ

của thông điệp dữ liệu được

xác định căn cứ vào độ tín

cậy của cách thúc khởi tạo,

lưu trữ hoặc truyền gửi

thông điệp dữ liệu; cách

thúc bảo đâm và duy trì tính

toàn vẹn của thông điệp dữ

liệu; cách thúc xác định

người khởi tạo và các yếu tó

phù hợp khác” Như vậy,

thông điệp điện tử là đối

tượng nghiên cứu của Lưu

trữ học Vấn đề đặt ra ở đây

là cần phải nghiên cứu đề ra

những phương pháp nghiệp

vụ lưu trữ khác biệt so với

các phương pháp nghiệp vụ

lưu trữ đối với những loại tàF

liệu truyền thống như tài liệu

hành chính, khoa học kỹ

thuật

3 Chữ ký điện tử - yếu

tố quan trọng trong việc

xác minh độ tin cậy và

bảo mật thông tin

Một vấn đề cơ bản mà

lâu nay chúng ta vẫn bàn

tới, đó là những khó khăn

trong việc xác minh yếu tố

12

nào để thé hiện giá trị pháp

lý, độ tin cậy và việc bảo mật của tài liệu điện tử Rõ ràng, đối với tài liệu điện tử, quy trình soạn thảo, ban

hành và chuyển giao chúng

là khác biệt Việc kiểm soát quá trình đó cần thiết phải

có biện pháp, thủ tục mà trong Luật nêu trên có nhắn mạnh, đó chính là chữ ký -

điện tử Chữ ký điện tử còn

là một khái niệm tương đối mới, bởi thực tế giao dịch giữa các cơ quan bằng máy tính điện tử nhìn chung còn hạn chế Tuy nhiên, trong một tương lai không ì Xa, nêu

chúng ta tiến tới một nên

hành chính phát triển, hay

mô hình chính phủ điện tử, thì đây sẽ là một yếu tố mang tính mắu chốt không

chỉ cho thực tiễn, mà còn

cho cả lý luận Điều 21 trong

Luật có ghi “Chữ ký điện tử

được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh

hoặc các hình thúc khác

bằng phương tiện điện tử, gắn liên hoặc kết hợp một cách logic với thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận

người ký thông điệp dữ liệu

và xác nhận sự chấp thuận - của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký” Như vậy có thể

thấy, chữ ký điện tử chính là dấu hiệu để nhận biết tính

pháp lý của một thông điệp

dữ liệu, xác nhận trách nhiệm của người ký cũng như của cơ quan ban hành

Căn cứ vào đó sẽ đảm bảo tính chính xác của thông tin

và là cơ sở để tiền hành các biện pháp giải quyết khi có những vấn đề xảy ra Ở

Số 4/2007 đây, cần bàn thêm về giá trị pháp lý của chữ ký điện tử Điều 24 có, ghỉ “Trong trường hợp pháp luật quy

định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đó đối với một

thông điệp dữ liệu được xem

là đáp ứng nêu chữ ký điện

tử được sử dụng dé ky thông điệp dữ liệu ” hay

“Trong trường hợp pháp luật

quy định văn bản cần được đóng dấu của cơ quan, td chức thì yêu cầu đó đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nêu thông điệp dữ liệu đó được ký bởi chữ ký điện tử của cơ quan,

lỗ chức đáp ứng các diéu kiện quy định tại khoản 1 điều 22 của Luật này và chữ

ký điện tử có chứng thục”

Do vai trò quan trọng như

vậy nên Luật quy định rất

chặt chẽ về những điều én

để đảm bảo an toàn đối với

chữ ký điện tử cũng như

nghĩa vụ của các bên ký và

tiếp nhận nó Hơn nữa, để

quy định rõ hơn về thẩm quyền quản lý các chữ ký điện tử này, Luật và Nghị

định đã thể hiện chỉ tiết

trách nhiệm của các dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử Điều 3, Nghị định có ghi:

“Dịch vụ chứng thực chữ ký

số là một loại hình dịch vụ

chứng thục chữ ký điện tủ,

đo tỗ chức cung cấp dịch vụ

chứng thực chữ ký số cấp

Dịch vụ chúng thực chữ ký

số bao gôm: Tạo cặp khoá

bao gôm khoá công khai và khoá bí mật cho thuê bao,

Cấp, gia hạn, tạm dừng,

phục hỗi và thu hồi chứng thư số của thuê bao; Duy trì

(Xem tiếp trang 15 )

Trang 3

Thực tiễn - Kinh nghiệm

'†0/2006/CT-TTg ngày 23/3/2006 của Thủ

tướng Chính phủ về giảm bớt văn bản,

giấy tờ hành chính trong các hoạt động

của cơ quan hành chính nhà nước, đặc

biệt, phát động phong trào thi dua sang

tạo xây dựng mô hình mới về văn thư, lưu

trữ; xây dựng tiêu chuẩn văn hoá, chắm

điểm thi đua trong cán bộ, công chức văn

thư, lưu trữ

- Tăng cường đầu tư nguồn lực mọi

mặt cho công tác nghiên cứu, ứng dụng

công nghệ thông tin, đặc biệt là các phần

mềm Quản lý văn bản và Hồ sơ công việc

cho các đơn vị trực thuộc Bộ; chuyển giao

phần mềm giao lưu trực tuyến, phần mềm

cấp giấy phép các loại cho Sở Tài nguyên

và Môi trường các tỉnh, thành phố trong

cả nước theo kế hoạch; hướng dẫn và hỗ

trợ cán bộ các đơn vị trong chuyển đổi

văn bản từ phông chữ ABC sang phông

chữ Unicode và sử dụng bộ mã tiếng Việt

Unicode để bảo đảm thống nhất và đồng

bộ dữ liệu trong soạn thảo, trao đổi thông

tin quản lý, điều hành, tìm kiếm, khai thác

vấn bản phục vụ công tác chuyên môn

nghiệp vụ, công tác quản lý điều hành của

Bộ và các đơn vị thuộc Bộ

- Lập kế hoạch kiểm tra công tác văn

thư, lưu trữ của một số đơn vị trực thuộc

Bộ; tập huấn toàn ngành công tác văn

thư, lưu trữ cho đội ngũ cán bộ, công

chức làm công tác văn thư, lưu trữ; tăng

cường rà soát, kiểm tra văn bản trước khi

ban hành; đẩy mạnh việc thực hiện cơ

chế “một cửa”, cải cách hành chính trong

quản lý văn bản của Bộ theo Quy chế làm

việc và Quy chế công tác văn thư, lưu trữ;

nâng cao trình độ của cán bộ, công chức

trong việc quản lý văn bản trên máy tính,

khai thác, tìm kiêm và cập nhật văn bản

trên mạng; xây dựng hệ thống tư liệu

ngành Tài nguyên và Môi trường phục vụ

nhu cầu tìm kiêm, tra cứu của người dân,

- của tổ chức với mục tiêu góp phần vào

việc quản lý, khai thác, sử dụng các

nguồn tài nguyên ngày cảng hợp lý và

hiệu quả, phát triển bền vững kinh tế - xã

hội đi đôi với bảo vệ môi trường

Số 4/2007

LUẬT GIAO DỊCH

(Tiếp theo trang 12 )

trực tuyến cơ sở dữ liệu về chứng thư số, Những dịch vụ khác có liên quan theo quy định” Như vậy, các dịch vụ này sẽ có trách nhiệm trong việc cấp và xác minh tính chính xác, hiệu lực của chữ ký điện tử thông qua việc cấp các chứng thư số: “Chứng thư số được tạo ra trong

thời gian chứng thư số có hiệu lực và kiểm tra

được bằng khoá gông khai ghi trên chứng thư só

có hiệu lực đó” Những quy định trên đây được ban hành để bảo đảm độ an toàn trong việc sử dung chữ ký điện tử khi thực hiện các giao dịch

điện tử

II Đề xuất một số giải pháp:

Từ góc độ của một người nghiên cứu, chúng,

tôi thấy rằng, luật giao dịch điện tử đã đặt ra cho

ngành lưu trữ chúng ta những vấn đề mới liên quan nhiều tới lý luận và thực tiễn cần phải tiến

1- Xây dựng hoàn chỉnh những lý luận liên

quan tới khái niệm về tài liệu điện tử, những đặc

điểm và đặc thù riêng của nó Đây chính là cơ

sở để chúng ta có thê thực hiện những bước đi

cần thiết trong thực tiễn và để làm được điều này cần có sự nghiên cứu, nghiêm túc từ phía các nhà khoa học và các cơ quan có thẩm

quyền

2- Cần nghiên cứu để xác lập vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ chuyên môn trong việc thực hiện những biện pháp liên quan tới xây dựng dữ liệu, chuyển giao, tiếp nhận và

xử lý đối với những thông tin trong các tài liệu

3- Cần xây dựng những tiêu chuẩn để xác

minh độ tin cậy, giá trị của những tài liệu điện tử

khi đưa vào lưu trữ cũng như quy trình liên quan

tới việc tổ chức, bảo vệ an toàn và khai thác sử

dụng những tài liệu đó

4- Cần nghiên cứu để đề ra nguyên tắc quản

lý tài liệu điện tử sao cho phù hợp và thực sự có hiệu quả

Với những đề xuất trên, trách nhiệm của các

cơ quan, tổ chức là cần giải quyết kịp thời và hiệu quả những vấn đề đặt ra để góp phần hoàn thiện về mặt lý luận và thực tiễn của công tác

lưu trữ nói chung cũng như quy trình quản lý tài

liệu điện tử và lưu trữ điện tử nói riêng /

15

Ngày đăng: 29/05/2022, 07:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w