Về chất liệu gỗ dùng làm ván khắc: Theo sách “Đại Nam nhất théng chi’ thi gỗ dùng làm ván khắc in là gỗ lồng mật nha đồng mộc, thớ gỗ trắng, sáng như ngà vơi còn gọi là gỗ mức” Theo Châu
Trang 1VAI NET VE NGHE KHAC IN VAKY THUAT BAO QUAN MOC BAN TRIEU NGUYEN
I Vài nét về nghề khắc in Mộc bản ở Việt
Nam
Vào thế kỉ XV xuất hiện một làng nghề
chuyên khắc ván in cho triều đình và nhu cầu xã
hội, đó là làng Hồng Lục và Liễu Tràng thuộc
huyện Gia Phúc, nay là xã Tân Hưng, huyện
Gia Lộc — Hải Dương Người có công gây dựng
nghề in ở đây là Thám hoa Lương Như Hộc
Ông được tôn vinh là tổ sự nghề in của làng”?
Hồng Lục và Liễu Tràng là 2 làng nghề khắc
ván ín nỗi tiếng ở Việt Nam dưới thời phong
kiến Nghề in ở Hồng Lục, Liễu Tràng đã phục
vụ đắc lực cho sự nghiệp chính trị, văn hóa,
giáo dục của đất nước Tiêu biểu là bộ Đại Việt
Sử ký toàn thư được khắc in vào cuối thế kỉ
xvii
Đến thời Nguyễn, nghề in phát triển mạnh
hơn Các nhà in đều khẳng định danh tiếng của
mình trên các án bản Năm 1811, Lạc Thiện
Đường khắc in sách Truyên Kì Tân Phả của
Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm Năm 1815, Tích
Thiện Đường khắc in Chu dịch quốc âm ca của
Đặng Thái Phương Hải Học Đường do Trấn
thủ Hải Dương là An Quang hau Tran Céng
Hiến chủ trương, khắc in 12 quyền của bộ Từng
Thư Danh thi hợp tuyễn, trong đó có Bạch Van
Am Thi tập” của Nguyễn Bỉnh Khiêm, quyền 5;
Lập Trai Thi tập của Phạm Quý Thích, quyển 8;
Tỉnh sà kỷ hành của Phan Huy Ích, quyền 9
Càng về sau, các “đường” xuất hiện càng nhiều
để khắc in sách như: Úc Văn đường, Hội Văn
đường, Tân Tác đường, Quảng Văn đường,
Hữu Văn đường, Đồng Văn đường, Thịnh Mỹ
đường, Phúc Văn đường, Quan Văn đường,
Chiêu Văn đường, Liễu Văn đường v.v
Việc in và phát hành sách thời kì này có xu
hướng thương mại hóa Điều này phù hợp với
14
ThS Phạm Thị Huệ - Nguyễn Huy Khuyến Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV
quy luật, có tác động tích cực nhất định đối với đời sống văn hóa nước nhà
Truyện Kiêu của Nguyễn Du lần đầu tiên do Phạm Quý Thích khắc ván in đã mau chóng trở
thành bản cực hiếm ngay dưới thời Minh Mệnh?)
Đây là thời kỳ nở rộ các ấn bản truyện thơ Nôm như Tống Trân — Cúc Hoa, Phạm Tải — Ngọc Hoa, Phuong Hoa .V.v
Vao thoi diém nay, cac “dudéng” da cung
cấp nhiều thợ giỏi vào kinh đô Huế để khắc in
các ấn bản của triều đỉnh
Ngoài dân gian có một số ấn bản của tư
nhân được khắc in tương đối tốt như Ức Trai di tập do Dương Bá Cung đích thân trông nom việc khắc in
Quốc sử quán, với tư cách là một cơ quan trước tác cấp nhà nước, kể từ khi bắt đầu hoạt động đã cho biên soạn và khắc in một loạt các công trình đồ sộ có giá trị cao còn lưu lại ngày nay như:
1 — Đại Nam liệt truyện ®
2 — Đại Nam thục Iuc®
3— Minh Mạng chính yếu?
4 - Khâm Định Việt sử thông giám cương muc®
5 ~ Đại Nam nhất thống chi (thoi Tự Đức)®
6 ~ Đông Khánh Khải Định chính yêu"?
7 - Đại Nam nhất thống chí (thời Duy Tân),®
8 ~ Quốc triều sử toát yếu Các sách do Quốc sử quán khắc in gồm:
1 ~ Khâm Định Đại Nam hội điễn sự lệ"?
2 ~ Ngự chế văn (Minh Mạng) “3
3~— Ngự chế thí (Minh Mạng) °®
4 - Ngự đề đồ hội thi tập (của vua Thiệu
Try?
5 ~ Ngự chế thí (Thiệu Tri) !9
Trang 2
6 — Ngự chế văn (Thiệu Trị)
7 ~ Ngự chế thi (Tự Đức)
8~ Ngự chế văn (Tự Đức) ứ?
Tính đến đầu thế kỷ XX, số lượng sách do
Quốc sử quán khắc in lên tới 68 bộ”? Tinh
trung bình mỗi công trình dày từ 1.000 đến
10.000 trang chữ Hán Tại Việt Nam, trước thé
kỷ XIX, có lẽ không có một cơ quan trước tác
nảo biên soạn và khắc in một khối lượng công
trình lớn như vậy
Qua thực tế lịch sử cho thấy các thế hệ sử
thần triều Nguyễn đã để lại cho hậu thế nhiều
thông tin bổ ích về nhân văn Việt Nam
Viện Sử học Việt Nam, đã có lý khi nhận
định về bộ sử Đại Nam thục lục "là bộ sách lịch
sử có nhiều tài liệu tốt cho công tác nghiên cứu
sử học, văn học, triết học, kinh tế, chính trị học,
luật học, quân sự, văn hóa, tư tưởng của xã
hội Việt Nam từ năm 1558 đến năm 1888” “9
Và một số nhà nghiên cứu đã cho rằng: chỉ
cần đọc hai bộ chính sử của Quốc sử quán triều
Nguyễn là Khâm Định Việt sử thông giám
cương mục và Đại Nam thực lục "tà sẽ có một
biểu nhất lãm tổng quát về lịch trinh diễn tiến
của Việt sử từ thuở sơ khai đến đời vua Đồng
Khánh"
II Kỹ thuật khắc in Mộc bản
Vấn đè kỹ thuật khắc in Mộc bản hiện nay
đang có nhiều ý kiến khác nhau, cần được
nghiên cứu tìm hiểu thêm
Hiện tại Mộc bản triều Nguyễn tại Trung tâm
Luu trữ Quốc gia IV có khoảng 35.000 tấm
Trong đó có nhiều bộ sách, chữ được khắc trên
Mộc bản rất nhỏ, diện tích 04cm? #%_ Như
chúng ta đã biết, chữ Hán - Nôm là chữ khối
vuông, gom m nhiều nét, có những chữ lên tới hơn
30 nét "2, tất cả đều được khắc đầy đủ trên một
diện tích nhỏ như vậy Điều đó cho thầy kỹ thuật
khắc in đã đạt tới trình độ điêu luyện và tỉnh xảo
như thế nào
Về chất liệu gỗ dùng làm ván khắc: Theo
sách “Đại Nam nhất théng chi’ thi gỗ dùng làm
ván khắc in là gỗ lồng mật (nha đồng mộc), thớ
gỗ trắng, sáng như ngà vơi (còn gọi là gỗ
mức)”
Theo Châu bản triều Nguyễn, vào thời Tự
Đức, sử quán tấu trình về việc khắc in các sách
Ngự chế thí sơ tập, Đại Nam thực lục chính biên
đệ tam kỷ có viết: "Nay kiễm thấy bản mẫu cuốn
thực lục gồm 1.900 trang, cần dùng 995 tắm gỗ thị”
Cũng vào thời Tự Đức, khi đã xuất hiện bản
in chữ bằng thiếc thì việc sử dụng Mộc bản để khắc in vẫn được coi trọng Trong Châu bản
triều Nguyễn có ghi: Khi khắc in sách Ngự chế Việt sử Tỗng Vịnh tập, & quyển thủ có tên sách,
xung quanh vẽ rồng mây, sức cho thợ khắc ván
in bìa sách và lời đề tựa bằng mực đỏ, chúng thần trộm nghĩ, lời đề tựa nếu dùng bản in chữ
bằng thiếc thì chữ in bằng mực đỏ nhỏ bé, e
rằng không được rõ lắm Xin cho Nội các sức cho viết tờ nhan đề, giao cho sử quán tư cho lĩnh gỗ thị giao cho thợ khắc ván, in bằng mực
đỏ mới được rõ ràng, trang nha”
Cũng trong Châu bản triều Nguyễn, vào thời vua Thành Thái, Quốc sử quán tâu: Ngày tháng
9 năm ngoái, quản thần tuân theo các điều cung
lục và phiến chuẩn của bộ Lễ tuân lệ đem hai bộ
sách Tự Đúc Thánh chế và Luận Ngữ thích nghĩa ca, Tự học giải nghĩa châm chước nghĩ viết thử mỗi bộ hai trang giấy tiền trình lên chờ
chỉ, vâng được châu điểm Nay Quán thần tuân
phụng kiểm báo rằng hiện các sách trên đã viết xong, xin kính cân tiền lãm, chờ giao ra Lại tuân
viết bản riêng và cho Quán thần đem gỗ thị cho
khắc in Sau khi khắc xong cần in ấn bao nhiêu
bộ sẽ lại phụng nghĩ xin”Ô,
Như vậy có thể nói rằng dưới thời Nguyễn,
gỗ thị được sử dụng nhiều để khắc ván in các
sách của triều đình
Tuy nhiên trên thực tế, Mộc bản triều
Nguyễn hiện đang được bảo quản tại Trung tâm
Lưu trữ Quốc gia IV, gỗ dùng để làm ván khắc
in có thể không phải chỉ có gỗ thị, mà còn có những loại gỗ khác Vấn đề xác định các chủng loại gỗ dùng làm ván khắc in cần phải được nghiên cứu đầy đủ để có cơ sở khoa học cho việc bảo quản khối tài liệu quý hiếm này
Ngoài kỹ thuật khắc in, chat liệu gỗ, việc sử dụng mực in cũng là một vẫn đề cần quan tâm Qua tài liệu Mộc bản, cho thấy hầu hết các sách của Triều đình khắc in thường dùng mực nho để in Riêng những trang bìa, những bài dụ, bài tựa của những bộ sách lớn được in bằng mực son
Hai loại mực này có thể có tác dụng kéo dài
tuổi thọ của Mộc bản Qua khảo sát và nghiên cứu thực tế Mộc bản đang bảo quản tại Trung
15
Trang 3
tâm Lưu trữ Quốc gia ÌV cho thầy trên một tắm
Mộc bản, phần có mực phủ lên thì gỗ không bị
mục, Ít bị hủy hoại hơn so với phần gỗ không có
mực
Vân đề này cần được nghiên cứu tiếp để
tìm ra biện pháp bảo quản hữu hiệu đối với Mộc
bản
III Kỹ thuật bảo quản tài liệu Mộc bản
Việc bảo quản Mộc bản dưới thời Nguyễn
được các nhà vua đặc biệt quan tâm: đã cho
xây dựng Quốc sử quán đề biên soạn các sách
sử và bảo quản các ván khắc in những bộ sách
chính văn, chính sử của triều đình Sách Đại
Nam thục lục chơ biết: “Vua dụ bầy tôi rằng: nhà
nước ta mở mang đến nay, các Thánh nối nhau
200 năm Kịp Thế Tổ Cao Hoàng đề ta trung
hưng thống nhất đất nước, trong khoảng ấy, sự
tích công nghiệp nếu không có sử sách thì lây gì
để dạy bảo lâu dài về sau Thần muốn lập sử
quán, sai các nho thần biên soạn Quốc sử thực
lục để nêu công đức về kiến, đốc, cơ, cần làm
phép cho đời sau cũng chẳng là phải sao”
Năm Minh Mạng thứ nhất (1820) Quốc sử
quán được dựng xong để biên soạn quốc sử
Năm Tự Đức thứ 2 (1849) dựng thêm Tàng bản
đường ở phía sau sử quán để chứa Mộc bản
Điều này cho thấy triều Nguyễn rất quan tâm đến việc bảo quản tài liệu Mộc bản, hạn chế đén mức thắp nhất tác hại của môi trường đối với tài liệu Tuy nhiên do khí hậu nước ta là khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa, độ ẩm trung bình hàng năm cao trên 80%, đó là điều kiện rất thuận lợi cho nắm mốc phát triển trên gỗ Và vào mùa khô hanh, nhiệt độ cao làm ho Mộc bản dễ bị nứt Trên thực tế cho thấy Mộc bản thường bị nứt theo thớ gỗ
Để khắc phục tinh trạng đó, người xưa đã biết sử dụng một phương pháp rất có hiệu quả
Đó là, trên hai đầu tắm Mộc bản, người ta đã
cưa một đường rãnh cắt đứt liên kết giữa hai
mặt của tâm Mộc bản, sau đó dùng thanh nêm bằng tre già để nêm chặt vào rãnh đó Việc làm
này giữ cho Mộc bản hạn chế bị nứt vỡ, hoặc trong trường hợp bị nứt cũng không thể vỡ rời thành hai mảnh Bởi thanh nêm bằng tre đã có
định hai nửa của tắm Mộc bản Trên thực tế, những tấm Mộc bản có nêm tre ít khi bị nứt Đặc điểm này thấy rõ nhất trong bộ ván khắc sách Đại Nam thực lục chính biên, Ngự chê Việt sử lỖng vịnh tập và một số bộ sách quan trọng khác do Quốc sử quán biên soạn
‘ (Xem tiép trang 20)
Số 3, 4, 5: Mộc bản có thanh nêm tre cô định, không bị nứt
16
Trang 4
5 Bai hoc tăng cường công
tac kiém tra, thanh tra - góp
phần thực hiện tốt chức năng
quản lý nhà nước về văn thư,
lưu trữ
Thiệt hại của những vụ việc
nói trên là hậu quả của việc vi
phạm Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia
trong việc bảo quản an toàn, tiêu
huỷ tài liệu Đoàn thanh tra đã làm
việc với lãnh đạo Văn phòng
HĐND vả UBND thành phố để chỉ
ra những sai phạm của hai đơn vị
đã để xảy ra việc vụ đáng tiếc,
những bất cập, lỏng lẻo trong
quản lý, sự chỉ đạo thiếu kiên
quyết triệt để trong công tác văn
thư, lưu trữ trên địa bàn thành
phố, đưa ra các biện pháp để
khắc phục hậu quả và việc thực
hiện tốt hơn các quy định của Nhà
nước về công tác văn thư, lưu trữ
trong thời gian tới
Ngay khi 02 sự việc đáng tiếc
trên xảy ra, Thanh tra Cục Văn
thư và Lưu trữ nhà nước đã kịp
thời nắm bắt thong tin, xin phép va
được sự đồng ý của Cục tiền
hành thanh tra đột xuất về công
tác văn thư, lưu trữ tại địa
phương Qua đó, đưa ra những
kiến nghị giúp địa phương khắc
phục hậu quả, rút kinh nghiệm để
làm tốt công tác văn thư, lưu trữ
trên địa bàn thiết nghĩ Cục Văn
thư và Lưu trữ nhà nước la don vị
quản lý nhà nước về văn thư, lưu
trữ cần tăng cường hơn nữa việc
thực hiện các cuộc thanh tra
chuyên ngành về tĩnh vực văn
thư, lưu trữ theo chế độ thanh tra
thường xuyên tại các Bộ, ngành
và địa phương Qua đó kịp thời
chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ cho
các cơ quan, đơn vị và các địa
phương trong cả nước, đặc biệt là
những thành phố lớn như thành
phố Hồ Chí Minh /
VAI NET VE NGHE
(Tiép theo trang 16) Tóm lại, Mộc bản triều Nguyễn là di sản quý, hiếm của dân tộc Việt Nam nói riêng và của nhân loại nói chung Ngoài giá trị
về mặt nội dung, mỗi tắm Mộc bản còn là một tác phẩm nghệ thuật (lời nhận xét của Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Đỗ Quang Trung khi đến thăm kho Mộc bản vào ngày 17/01/2007)
Chính vi giá trị nhiều mặt như vậy nên để bảo quản an toàn
và kéo dài tuôi thọ cho khối tài liệu Mộc bản triều Nguyễn, van
dé dat ra la phải được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của lãnh đạo các cấp và phải có sự phối hợp nghiên cứu của nhiều ngành khoa học nhằm tìm ra điều kiện, tiêu chuẩn tối ưu, thích ứng bảo quản khối tài liệu quý hiếm này
Chú thích:
(1) Lương Như Hộc đậu đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ tam danh (Thám hoa), khoa Nhâm Tuất niên hiệu Bảo Đại thứ 3 (1442) đời Lê Thái Tông Hai lần được
cử đi sử nhà Minh Làm quan đến chức Đô ngự sử, được vệ trí sĩ, thọ 82 tuổi
Ông có công dạy nghề khắc ván in cho dân làng Hỗng Lục — Liễu Tràng Sau
(2) Địa chỉ: www haiduong gov.vn
Bản khắc “Đại Việt sử ký toàn thu” hiện bảo quân tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV— Đà Lạt, ký hiệu H 31
(3) Bản khắc "Danh thị hợp tuyên" và "Bạch Vân Am thi tập” hiện bảo quản tại Trung tâm Luu trữ Quốc gia IV~ Đà Lạt, ký hiệu H 1, H 10
(4) Một số vấn đề văn bản học Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Nxb
KHXH, Hà Nội, 1983, tr.63
(5), (6), (7), (8), (9), (10, (11), (12), (13), (14, (15) (16), (f7): Mộc bản các
bộ sách trên hiện lưu trũ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV- Đà Lạt (18) Tuyển tập những bài nghiên cứu về tiêu Nguyễn, Tạp chí Nghiên cứu
và phát triển, Trung tâm Bảo tôn Di tích Cô đô Huế, Huế, 2002, t.218
(19) Lời giới thiệu bản dich "Đại Nam thục lục” tập 1(tiễn biên), Nxb Sử học,
Hà Nội, 1962, tr8
(20) Trương Búu Lâm, Lời giới thiệu bản dịch Khâm Định Việt sử thông
giám cương mục, quyền (hủ, Bộ Quốc gia Giáo dục xuất ban, Sai Gon, 1960,
trlll— V
(21) Những chữ Hán nhỏ này chủ yêu được khắc ín trong bộ sách Tự học
giải nghĩa ca của vua Tự Đúc, hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV
~ Đà Lạt, ký hiệu H 135
(22) Những chữ Hán ~ Nôm có nhiễu nói này chủ yêu được khắc ín trong
bộ sách Tự học giải nghĩa ca của vua Tự Đúc, hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quéc gia IV — Đà Lạt, ký hiệu H 135
(23) Quốc sử quán tiêu Nguyễn, Đại Nam nhất thông chí, Nxb Thuận Hoa, 2006, tr 423
(24) Châu bản triều Nguyễn hiện bảo quản lại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia
I, số ký hiệu: quyên 310, số thứ tự 010, tờ số 030
(28) Châu bản triều Nguyễn hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia
¡, số ký hiệu: quyền 275, số thứ tự 056, lờ số133
(26) Châu bản tiểu Nguyễn hiện bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia
¡, số ký hiệu: quyền 032, số thứ tự 093, tờ số 203
(27) Quốc sử quán, Đại Nam thục lục chính biến đệ nhị kỷ, Nxb Giáo dục,
Hà Nội, 2004, tr 66
no
ee igen