Mặt khác, trên góc độ doanh nghiệp, huy động vốn bằng phát hành trái phiếungoài điểm lợi giống như sử dụng các công cụ nợ là tạo ra lá chắn thuế từ lãi vay, từ đó làmtăng tỷ suất lợi nhu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
BÀI THẢO LUẬN NHÓM Môn: Tài chính doanh nghiệp 1
Đề tài: “Thị trường trái phiếu”
Mai Ngọc Anh - 11200173
Hà Thanh Phương - 11203157 Phạm Minh Đức - 11200868 Nguyễn Văn Nam - 11202679 Phạm Quang Sáng - 11203431 Đinh Hương Giang - 11201065
Trần Thị Thanh Hiền – 11205263
Trang 2Hà Nội, tháng 4 năm 2022
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Tên viết Tên đầy đủ bằng tiếng Việt Tên đầy đủ bằng tiếng Anh tắt
NSNN Ngân sách nhà nước
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
PPP Đầu tư theo hình thức đối tác Public - Private Partnership
công tưSGDCK Sở giao dịch chứng khoán
Trang 3VBMA Hiệp hội thị trường trái phiếu The Vietnam Bond Market
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG 1
1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRÁI PHIẾU VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU Ở VIỆT NAM 1
1.1 Khái niệm về Trái phiếu và Thị trường trái phiếu 1
1.2 Điều kiện phát triển một thị trường trái phiếu ở Việt Nam 1
1.3 Điều kiện và thủ tục để DN phát hành trái phiếu 6
2 TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 9
2.1 Thực trạng huy động vốn từ phát hành trái phiếu của doanh nghiệp tại việt nam 9
2.2 Phân tích các ví dụ 20
2.3 Những khó khăn khi huy động vốn từ phát hành trái phiếu 31
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com
Trang 5MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam từ trước tới nay, các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư chủ yếu đượcđưa vào phục vụ nhu cầu đầu tư của nền kinh tế, gián tiếp thông qua hệ thống ngân hàng.Chính ngân hàng cũng là nguồn cung cấp vốn chủ yếu cho các doanh nghiệp, điều này đã trởnên hết sức quen thuộc và nguồn vốn này được coi là nguồn vốn truyền thống Để hạn chế sựphụ thuộc vào các ngân hàng, giảm thiểu rủi ro cho các hoạt động tín dụng của ngân hàng,cần phát triển thị trường vốn trong nước, tìm ra những nguồn tài trợ vốn có thể thay thế làđiều hết sức quan trọng Việc phát triển thị trường TPDN sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triểncủa thị trường vốn, đồng thời sẽ tạo thêm một kênh huy động vốn cho nền kinh tế và cácdoanh nghiệp Mặt khác, trên góc độ doanh nghiệp, huy động vốn bằng phát hành trái phiếungoài điểm lợi giống như sử dụng các công cụ nợ là tạo ra lá chắn thuế từ lãi vay, từ đó làmtăng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE); cũng đem lại điểm lợi hơn so với vay dàihạn ngân hàng, các doanh nghiệp có thể huy động lượng vốn dài hạn với khối lượng lớn hơn,các hình thức huy động đa dạng hơn thu hút được nhiều đối tượng đầu tư, tăng cường quảng
bá hình ảnh của doanh nghiệp Thị trường chứng khoán Việt Nam đã hình thành và phát triểnqua 15 năm, tuy nhiên, thị trường trái phiếu chưa thực sự phát triển
Vì vậy, chúng em chọn đề tài: “Thị trường trái phiếu” để có thể nghiên cứu kĩ hơn về
thực trạng thị trường trái phiếu ở Việt Nam hiện nay và qua đó chúng em có thể rút ra các nhân tố tác động đến thị trường trái phiếu cũng như các đề xuất các biện phát nhằm phát triển thị trường trái phiếu trong thời kì kinh tế mở và phát triển một cách đồng bộ ở Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu đề tài chắc chắn còn nhiều thiếu sót, chúng em kinhmong sự góp ý chân thành từ thầy và các bạn đọc để đề tài nghiên cứu được hoàn thiệnhơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 6NỘI DUNG
PHIẾU Ở VIỆT NAM
Trái phiếu là một chứng chỉ vay nợ phản ánh quan hệ giữa người đi vay (chủ thể
phát hành trái phiếu) với người cho vay (chủ sở hữu trái phiếu); trong đó chủ thể phát hành trái phiếu cam kết trả cho người chủ sở hữu trái phiếu một số tiền nhất định, vào những khoảng thời gian nhất định, và phải trả lại tiền gốc khi khoản tiền vay đến hạn
Thị trường trái phiếu là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán trái phiếu giữa
các nhà đầu tư, tổ chức phát hành hoặc trung gian môi giới Đây là nơi các tổ chức phát hành công cụ nợ – trái phiếu – để thực hiện việc huy động vốn cho hoạt động của mình
Thị trường trái phiếu doanh nghiệp là nơi huy động vốn cho doanh nghiệp dùng
trong mục đích kinh doanh, mở rộng quy mô và phát triển đầu tư Theo đó, thị trường này có thể được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp
+ Thị trường sơ cấp: Giao dịch với các chứng khoán mới phát hành, tạo vốn quan trọng cho tổ chức phát hành
+ Thị trường thứ cấp: Nơi xảy ra các giao dịch trao đổi mua bán những chứng khoán
đã được phát hành trên thị trường sơ cấp
Chính phủ trong bối cảnh hội nhập tài chính Sự phát triển của thị trường TPCP chịu tác động của nhiều nhân tố Một vài nghiên cứu trước đây như nghiên cứu trong FS Series 12 của Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (2010), nghiên cứu của
Bhattacharya (2011), Eichengreen và cộng sự (2004), Thotho (2014), Adelegan và cộng sự (2009), Claessens, Klingebiel và Schmukler (2003), … đã đưa ra một số nhân tố có ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường trái phiếu Chính phủ bao gồm quy mô nền kinh tế, sự tín nhiệm của Chính phủ với tư cách tổ chức phát hành, điều kiện vĩ mô, đặc điểm khu vực tài chính, khuôn khổ pháp lý và tính minh bạch của thịtrường
Trong bối cảnh hội nhập tài chính, sự phát triển của thị trường TPCP chịu tác độngnhất định của yếu tố hội nhập HNTC đem lại nhiều lợi ích nhưng cũng không ít rủi
ro cho thị trường tài chính nói chung và thị trường TPCP nói riêng Thực tế cho thấy
nhiều quốc gia nhận được lợi ích lớn từ hội nhập tài chính, đồng thời có khả
Trang 7năng hạn chế đến mức thấp nhất các tác động tiêu cực của các cú sốc bên ngoài tớinền kinh tế nhưng cũng có những quốc gia chịu tác động nhiều hơn từ các cuộckhủng hoảng hay các cú sốc kinh tế từ bên ngoài khi thực hiện hội nhập Để có thểtận dụng được những lợi ích mà HNTC đem lại, các quốc gia cần đạt được một sốđiều kiện ngưỡng chính mà nhiều nghiên cứu trước đây chỉ ra như mức độ phát triểnkinh tế quốc gia, sự phát triển của khu vực tài chính, chất lượng thể chế và chínhsách vĩ mô của chính phủ, và hội nhập thương mại Phát triển thị trường TPCP dướitác động của HNTC cần tận dụng được những lợi ích mà HNTC đem lại và hạn chếbớt rủi ro Do đó, một số nhân tố tác động đến sự phát triển của thị trường TPCPtrong bối cảnh HNTC bao gồm:
1.2.1 Quy mô nền kinh tế
Quy mô nền kinh tế được cho là có ý nghĩa đối với sự phát triển của thị trường trái phiếu Chính phủ Các nền kinh tế nhỏ không đủ khả năng để tạo ra một thị trường trái phiếu Chính phủ trong nước lớn và ổn định do vấn đề về quy mô Claessens, Klingebiel và Schmukler (2003) cũng chứng minh rằng quy mô nền kinh tế càng lớn
có xu hướng tạo ra một thị trường TPCP lớn Nền kinh tế quy mô nhỏ cũng khó có thể cung cấp đầy đủ các điều kiện cho sự phát triển của thị trường TPCP bao gồm cả
cơ sở hạ tầng (World bank và IMF, 2001) Khối lượng phát hành TPCP trên thị trường trong nước có thể quá nhỏ để thu hút các tổ chức đầu tư và các NĐT nước ngoài tiềm năng Bên cạnh đó, trong một thị trường nhỏ, mức độ thanh khoản kém, giá trái phiếu thường chịu tác động mạnh bởi người mua và người bán tham gia và rút lui khỏi thị trường do số lượng NĐT tham gia thị trường hạn chế Một thị trường nhỏ sẽ không hấp dẫn những NĐT lớn, tổ chức đầu tư chuyên
Bên cạnh đó, một nền kinh tế nhỏ có thể sẽ không khai thác được lợi ích mà HNTC mang lại mà lại gánh chịu rủi ro nhiều hơn Theo một nghiên cứu được đưa ra năm
2011 , HNTC đem lại lợi ích lớn cho các quốc gia giàu có hoặc trung bình hơn là cácquốc gia đang phát triển
1.2.2 Điều kiện vĩ mô
Môi trường vĩ mô có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của thị trường TPCP trongđiều kiện hội nhập tài chính Nhiều nghiên cứu trước đây như nghiên cứu củaEdison (2002) và nghiên cứu của Kose và cộng sự (2011) đã đánh giá vai trò củachính sách tiền tệ và chính sách tài khoá đối với hiệu quả của hội nhập tài chính Tự
do hoá tài khoản vốn sẽ thành công hơn nếu có sự hỗ trợ của chính sách tiền tệ,chính sách tài khoá và chính sách tỷ giá tốt Chính sách yếu kém, không tương thích
có thể gây tăng nguy cơ khủng hoảng Bên cạnh đó, rủi ro lây lan từ các cuộc khủng
hoảng bên ngoài cũng đặt ra yêu cầu mỗi quốc gia cần theo đuổi chính sách
Trang 8vĩ mô thận trọng và ổn định cùng với chính sách quản lý nợ và dự trữ tài sản nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực từ HNTC.
Điều kiện vĩ mô còn tác động trực tiếp đến thị trường TPCP Một khuôn khổ chính sách vĩ mô gồm chính sách tài khóa thận trọng và bền vững, chính sách tiền tệ ổn định có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của thị trường, làm giảm phần bù rủi
ro mà NĐT yêu cầu, từ đó chi phí huy động vốn của Chính phủ trong trung và dài hạn Mức độ cân bằng ngân sách sẽ tác động trực tiếp đến nhu cầu phát hành TPCP
và từ đó ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường Không phải hầu hết các quốc gia đều có nhu cầu phát triển thị trường TPCP với mục tiêu huy động vốn bởi ngân sách không trải qua thời kỳ thâm hụt Tuy nhiên, nếu một quốc gia bị đánh giá là không có khả năng quản lý các khoản chi tiêu hay thu nhập từ thuế, hoặc một kế hoạch vay nợ không rõ ràng, minh bạch, và bền vững thì NĐT sẽ nhận thấy rủi ro lớn và lãi suất TPCP sẽ tăng Ngoài ra, sự không chắc chắn về điều kiện vĩ mô trong tương lai, đặc biệt là lạm phát, sẽ ngăn cản việc mở rộng đường cong lãi suất vượt rangoài khu vực ngắn hạn Tỷ lệ lạm phát có quan hệ ngược chiều với sự phát triển của thị trường trái phiếu vì lạm phát cao dẫn đến xói mòn lợi nhuận đầu tư trái phiếukhi lãi suất thị trường tăng và giá trái phiếu giảm Để phát triển thị trường trong dài hạn đòi hỏi một mức lạm phát ổn định hoặc việc mở rộng đường cong lãi suất trong điều kiện lạm phát liên tục yêu cầu phải phát hành trái phiếu gắn với lạm phát hoặc trái phiếu có lãi suất thả nổi
Tỷ giá hối đoái và tài khoản vốn có tác động đến thị trường TPCP trong bối cảnh hộinhập tài chính, đặc biệt là khả năng thu hút NĐT nước ngoài Các NĐT nước ngoài xem xét lợi suất TPCP trong nước so với quốc tế, cân nhắc rủi ro tỷ giá và cả rủi ro thanh toán của các quốc gia khác nhau Trong trường hợp chế độ tỷ giá ổn định, thị trường TP phát triển mạnh do các NĐT nước ngoài nhận thấy rủi ro thấp và tăng cường đầu tư Nếu tỷ giá biến động sẽ không khuyến khích sự phát triển của thị trường trái phiếu
Sự phối hợp giữa chính sách tài khoá và tiền tệ rất quan trọng Một chính sách tiền tệhiệu quả kết hợp chính sách quản lý nợ tốt sẽ tạo ra một thị trường phát triển hơn Chính sách tiền tệ với mục đích làm tăng thanh khoản có thể không khuyến khích hoạt động quản lý thanh khoản chủ động bằng cách tham gia vào thị trường liên ngân hàng và thị trường mua bán lại của các ngân hàng thương mại Tương tự, việc thiết kế các công cụ tiền tệ tạo các điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho các ngân hàng đạt được nguồn vốn từ ngân hàng trung ương, hoặc nếu ngân hàng trung ương cung cấp các công cụ sẵn sàng với mức lãi suất hấp dẫn để phân phối các nguồn vốn cho các NHTM thì các NHTM sẽ không có động lực để giao dịch với nhau, từ đó làm giảm thanh khoản của thị trường TPCP
Trang 91.2.3 Sự tín nhiệm của Chính phủ với tư cách là tổ chức phát hành
Chính phủ cần đạt được mức độ tín nhiệm tốt khi phát hành TPCP Một trong những điều mà NĐT thường quan tâm khi đầu tư TPCP là liệu chính phủ có thể thanh toán các khoản nợ mà không cần điều chỉnh chính sách tài khoá một cách đáng kể Một chính sách tài khóa thận trọng sẽ giảm thiểu những lo ngại về tính bền vững của nợ Vấn đề quản lý nợ công tác động trực tiếp đến sự phát triển của thị trường TPCP Quản lý nợ không hiệu quả, không có chiến lược dài hạn và tuân theo quy luật thị trường, các công cụ và quy trình hoạt động không phù hợp sẽ cản trở sự phát triển của thị trường Sự thống trị về tài chính và thiếu kỷ luật tài khoá là những điểm yếu
đe dọa sự phát triển của thị trường TPCP Nhiều nghiên cứu trước đây cũng nhấn mạnh vai trò của chất lượng thể chế, chất lượng quản trị công, mức độ minh bạch của Chính phủ có thể ảnh hưởng đến sự phân bổ nguồn vốn, từ đó ảnh hưởng đến tácđộng mà HNTC mang lại
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu nhắc đến rủi ro chính trị như một yếu tố ảnh hưởngđến sự phát triển của thị trường TPCP trong bối cảnh HNTC Rủi ro chính trị có thểxuất phát từ chiến tranh, các mâu thuẫn trong và ngoài nước, tranh chấp lãnh thổ,cuộc cách mạng dẫn đến thay đổi chính phủ và các cuộc tấn công khủng bố, các yếu
tố xã hội bao gồm sự khác biệt ý thức hệ, phân phối thu nhập không bình đẳng, cácxung đột tôn giáo Nếu NĐT mua một sản phẩm tài chính của Chính phủ, NĐT sẽđối mặt với rủi ro chính trị Thực tế, rủi ro chính trị liên quan đến khả năng và sựsẵn lòng của Chính phủ để trả nợ, đồng thời có liên quan đến khả năng Chính phủ cókiểm soát tỷ giá, ngoại hối, kiểm soát vốn, áp các khoản thuế bổ sung Tầm quantrọng của rủi ro chính trị trong việc phát triển thị trường TPCP được nhấn mạnh, đặcbiệt trong thời gian gần đây Ví dụ cuộc khủng hoảng đồng euro, và cuộc tranh luậntháng 10 năm 2013 giữa Đảng cộng hòa và Đảng dân chủ về trần nợ công của Mỹ.Trong cuộc khủng hoảng đồng euro, thị trường chứng khoán và lợi suất trái phiếuChâu Âu biến động mạnh theo việc liệu Hy Lạp có rời khu vực đồng tiền chungChâu Âu và liệu Ý và Tây Ban Nha có cần sự cứu trợ của các nước khác trong khuvực không Những thay đổi trong chính phủ Hy Lạp, Ý và Tây Ban Nha là cần thiết
để lấy lại lòng tin từ cả NĐT và các nước Châu Âu khác Nhiều nghiên cứu trướcđây cũng nhấn mạnh vai trò của chất lượng thể chế, quản trị công cùng khuôn khổpháp lý, mức độ tham nhũng và mức độ minh bạch của Chính phủ có thể ảnh hưởngđến sự phân bổ nguồn vốn trong hội nhập tài chính Như vậy, rủi ro chính trị có ảnhhưởng quan trọng đến giá trái phiếu và sự phát triển của thị trường trong bối cảnhhội nhập tài chính Bất ổn chính trị có thể ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế và
đầu tư, rủi ro chính trị có ảnh hưởng mạnh
Trang 10đến khả năng thanh toán của Chính phủ Những quốc gia có mức xếp hạng rủi ro chính trị cải thiện cũng nhận được sự cải thiện trong xếp hạng tín dụng.
1.2.4 Đặc điểm khu vực tài chính
Một hệ thống tài chính tiến bộ, phát triển có khả năng tận dụng được lợi ích mà HNTC đem lại Khu vực tài chính hiệu quả và được giám sát chặt chẽ là cần thiết đểgiúp hấp thụ nguồn vốn nước ngoài, đồng thời làm giảm bớt tác động xấu do tính chất không ổn định của dòng vốn mang lại
Sự phát triển của hệ thống tài chính, cùng với quá trình HNTC sẽ góp phần làm tăng
số lượng và chất lượng các chủ thể tham gia vào thị trường TPCP, từ NĐT đến cácnhà tạo lập thị trường, trung gian tài chính, tổ chức định mức tín nhiệm từ đó thúcđẩy thị trường TPCP phát triển Trước tiên là hệ thống ngân hàng Tác động của hệthống ngân hàng có thể tích cực hoặc tiêu cực Khi hệ thống ngân hàng phát triển, cókhả năng cung cấp nhiều sản phẩm đa dạng, đáp ứng nhu cầu NĐT thì khả năngphát hành TPCP thành công của Chính phủ sẽ giảm do tổ chức phát hành trái phiếu
và ngân hàng cạnh tranh trên cùng một thị trường Ở một khía cạnh khác, việc thiếucác trung gian tài chính mạnh sẽ làm thị trường kém phát triển do thiếu các nhà kinhdoanh trái phiếu, nhà tạo lập thị trường Sự hiện diện của hệ thống ngân hàng lớn,phát triển tốt, cạnh tranh và có mức độ vốn hoá tốt là cần thiết để phát triển thịtrường trái phiếu thanh khoản và thực hiện đúng chức năng Mức độ cạnh tranh giữacác ngân hàng càng lớn trong việc huy động tiền gửi và cho vay, thì ngân hàng càng
dễ tìm đến hoạt động đầu tư trái phiếu nhằm kiếm lời Đây là một điều kiện thuậnlợi cho sự phát triển của thị trường TPCP Tuy nhiên, một hệ thống ngân hàngkhủng hoảng sẽ làm phức tạp thêm sự phát triển của thị trường TPCP do các thịtrường liên quan như thị trường liên ngân hàng, thị trường giao dịch repo hoạt độngkhông đúng chức năng Điều này có thể dẫn đến thiếu hụt thanh khoản Bên cạnh hệ
thống ngân hàng, thị trường tài chính phát triển thúc đẩy
sự phát triển của các tổ chức tài chính khác như quỹ đầu tư, công ty bảo hiểm, công
ty tài chính , đây là những NĐT tiềm năng của thị trường TPCP
1.2.5 Khuôn khổ pháp lý và tính minh bạch của thị trường
Một hệ thống pháp luật khuyến khích thị trường trái phiếu tuân theo quy luật thịtrường, bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho thị trường pháttriển Khuôn khổ pháp lý cần có những quy tắc rõ ràng cho phát hành TPCP và trả
nợ, các quy tắc liên quan đến người tham gia thị trường, nguyên tắc công khai minhbạch thông tin, quy tắc giao dịch và lưu ký thanh toán bù trừ TPCP Các quy địnhbắt buộc đầu tư TPCP sẽ bóp méo thị trường TPCP nói riêng, trong đó các quy địnhgiới hạn về kỳ hạn của tài sản và loại tài sản nắm giữ của các tổ chức tài chính, đặc
biệt là ngân hàng đang phổ biến Theo một nghiên cứu năm 2008, việc
Trang 11phụ thuộc quá nhiều vào một nguồn tài chính có tính chất bắt buộc để tài trợ chongân sách sẽ khiến thị trường thứ cấp kém thanh khoản Ở nhiều quốc gia, cácNHTM là những NĐT cung cấp vốn chính cho NSNN trên thị trường TPCP với mụcđích chủ yếu là để đáp ứng các quy định về tỷ lệ nắm giữ tài sản có tính thanh khoản
mà Chính phủ đề ra Bởi thế, các ngân hàng có xu hướng nắm giữ TPCP cho đến khiđáo hạn thay vì giao dịch nó trên thị trường thứ cấp Bên cạnh đó, ở các thị trườngđang phát triển hoặc mới nổi, những người tham gia vào các quỹ hưu trí, hay bảohiểm còn ít Điều này cũng ảnh hưởng đến cơ sở NĐT trên thị trường thứ cấp TPCP.Một trong những nguyên nhân là do thiếu khuôn khổ pháp lý và cơ chế phù hợp chocác NĐT tổ chức và thiếu các biện pháp kích thích sự phát triển của các tổ chức nàynhư cải cách hưu trí Ngoài ra, quy định về thuế giao dịch và thuế thu nhập cũng cóthể có tác động tiêu cực đến sự phát triển của thị trường, vì chúng làm giảm nhu cầugiao dịch TPCP và có thể ảnh hưởng đến phân bổ nguồn tiết kiệm Tỷ lệ các loạithuế giao dịch đang giảm, nhưng ở một số nước thuế giao dịch tài chính lại là nguồnthu lớn và có hiệu quả
Bên cạnh đó, cần có sự đồng bộ từ chính sách phát triển thị trường TPCP đến chính sách HNTC nhằm khai thác được nhiều lợi ích từ HNTC Trong bối cảnh HNTC cácquy định trong nước và quốc tế có tính chất tương đồng, song song đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với các nền kinh tế chậm phát triển thu nhập thấp, vốn là những nơi khó tiếp cận các nguồn tài chính Sự bảo vệ của pháp luật đối với người cho vay
và mức độ rõ ràng, chuẩn xác của các chuẩn mực kế toán có khả năng ảnh hưởng đến các quyết định phân bổ tài chính, từ đó ảnh hưởng đến chiều tác động của HNTC
Ngoài ra, thị trường minh bạch sẽ thúc đẩy sự hiệu quả Thông tin liên quan đến lãi suất giao dịch, khối lượng, thông tin về giá mà NĐT sẵn sàng giao dịch đều là những cơ sở để hình thành giá Minh bạch thông tin không chỉ là bên cung cấp thông tin cung cấp đầy đủ các thông tin theo quy định trong các cam kết hội nhập, theo quy định của từng quốc gia, mà thông tin cần được cung cấp một cách rõ ràng,
dễ tiếp cận đối với NĐT, từ đó hạn chế được vấn đề bất cân xứng thông tin và đảm bảo sân chơi bình đẳng cho tất cả các NĐT
1.3.1 Điều kiện để doanh nghiệp phát hành trái phiếu
Theo Nghị định 81/2020/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 163/2018/NĐ-CP, điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp có một số thay đổi từ ngày 01/9/2020
Trang 121.3.1.1 Đối với trái phiếu không chuyển đổi hoặc trái phiếu không kèm theo chứng
Đối với doanh nghiệp được tổ chức lại hoặc chuyển đổi, thời gian hoạt động được tính là thời gian hoạt động của doanh nghiệp bị chia (trong trường hợp chia doanh nghiệp), thời gian hoạt động của doanh nghiệp bị tách (trong trường hợp tách doanhnghiệp), thời gian hoạt động dài nhất trong số các doanh nghiệp bị hợp nhất (trong trường hợp hợp nhất doanh nghiệp), thời gian hoạt động của doanh nghiệp nhận sápnhập (trong trường hợp sáp nhập công ty), thời gian hoạt động của doanh nghiệp trước và sau khi chuyển đổi (trong trường hợp chuyển đổi công ty);
Có báo cáo tài chính năm trước liền kề của năm phát hành được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán đủ điều kiện theo quy định tại khoản 7 Điều 4 Nghị định 163/2018;
Ký hợp đồng tư vấn với tổ chức tư vấn về hồ sơ phát hành trái phiếu theo quy định tại khoản 3 Điều 15 Nghị định 163/2018, trừ trường hợp doanh nghiệp phát hành là
tổ chức được phép cung cấp dịch vụ tư vấn hồ sơ phát hành trái phiếu theo quy địnhcủa pháp luật
Đảm bảo tuân thủ giới hạn về số lượng nhà đầu tư khi phát hành, giao dịch trái
phiếu theo quy định tại khoản 2 Điều 4 và khoản 8 Điều 6 Nghị định 163/2018;
Có phương án phát hành trái phiếu được cấp có thẩm quyền phê duyệt và chấp thuận theo quy định tại Điều 14 Nghị định 163/2018;
Thanh toán đầy đủ cả gốc và lãi của trái phiếu đã phát hành trong 03 năm liên tiếp trước đợt phát hành trái phiếu (nếu có);
Đáp ứng các tỷ lệ an toàn tài chính, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động theo quy định của pháp luật chuyên ngành
Đảm bảo dư nợ trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ tại thời điểm phát hành (bao gồm cả khối lượng dự kiến phát hành) không vượt quá 05 lần vốn chủ sở hữu theo báo cáo tài chính quý gần nhất tại thời điểm phát hành được cấp có thẩm quyền phê duyệt
Mỗi đợt phát hành phải hoàn thành trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày công bố thông tin trước khi phát hành; đợt phát hành sau phải cách đợt phát hành trước tối thiểu 06 tháng, trái phiếu phát hành trong một đợt phát hành phải có cùng điều kiện,điều khoản
Trang 13Tổ chức tín dụng phát hành trái phiếu không phải đáp ứng quy định tại điểm i và điểm k khoản 1 Điều 10 Nghị định 163/2018 (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 1 Nghị định 81/2020).
Doanh nghiệp phát hành là công ty cổ phần;
Đáp ứng các điều kiện phát hành quy định tại điểm b, c, d, đ, e, g, h, i, k, l khoản 1 Điều 10 Nghị định 163/2018 (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 3 Điều 1 Nghị định 81/2020)
Đáp ứng quy định về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật trong trường hợp thực hiện chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu hoặc thựchiện quyền mua của chứng quyền;
Các đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi phải cách nhau ít nhất sáu tháng;
Trái phiếu chuyển đổi, chứng quyền phát hành kèm theo trái phiếu không được chuyển nhượng trong tối thiểu 01 năm kể từ ngày hoàn thành đợt phát hành, trừ trường hợp chuyển nhượng cho hoặc chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp hoặc theo quyết định của Tòa án hoặc thừa kế theo quy định của pháp luật
1.3.2 Thủ tục để doanh nghiệp phát hành trái phiếu:
Bước 1: Doanh nghiệp phát hành phải xây dựng phương án phát hành trái phiếu trình cấp có thẩm quyền phê duyệt, chấp thuận để làm cơ sở cho việc phát hành trái phiếu và công bố cho các đối tượng mua trái phiếu.
Phương án phát hành trái phiếu phải bao gồm các nội dung cơ bản sau:
a) Thông tin chung về ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, tình hình tài chính và kết quảhoạt động kinh doanh của doanh nghiệp;
b) Mục đích phát hành trái phiếu và phương án sử dụng vốn phát hành trái phiếu;c) Khối lượng, loại hình, kỳ hạn, lãi suất danh nghĩa trái phiếu dự kiến phát hành;d) Tỷ lệ chuyển đổi, thời hạn chuyển đổi, giá chuyển đổi và biên độ biến động giá cổphiếu (nếu có) đối với phát hành trái phiếu chuyển đổi; giá và thời điểm thực hiện mua cổphiếu đối với phát hành trái phiếu kèm chứng quyền;
đ) Phương thức phát hành trái phiếu và các tổ chức tham gia bảo lãnh phát hành, bảo lãnh thanh toán, đại lý phát hành, đại lý thanh toán gốc, lãi trái phiếu;
e) Kế hoạch bố trí nguồn và phương thức thanh toán gốc, lãi trái phiếu;
g) Các cam kết khác đối với chủ sở hữu trái phiếu
Thẩm quyền phê duyệt phương án phát hành trái phiếu:
Trang 14a) Đối với trái phiếu chuyển đổi và trái phiếu kèm chứng quyền: Đại hội đồng cổ đông phê duyệt phát hành trái phiếu.
b) Đối với các loại trái phiếu khác, ngoại trừ trường hợp quy định tại điểm a khoảnnày: Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng quản trị, hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịchcông ty phê duyệt phương án phát hành trái phiếu căn cứ vào mô hình tổ chức của doanhnghiệp và quy định tại Điều lệ doanh nghiệp
Bước 2: Gửi thông báo bằng văn bản về việc phát hành trái phiếu với Bộ Tài chính.
Tối thiểu 03 ngày làm việc trước ngày tổ chức phát hành trái phiếu, doanh nghiệpphát hành phải gửi đăng ký (thông báo) cho Bộ Tài chính để Bộ Tài chính tổng hợp,theo dõi tình hình phát hành trái phiếu doanh nghiệp
Bước 3: Đối với doanh nghiệp phát hành là công ty đại chúng, phải nộp hồ sơ đăng
ký phát hành trái phiếu đến Ủy ban chứng khoán nhà nước và chỉ được phát hành trái phiếu khi có ý kiến bằng văn bản của Ủy ban chứng khoán nhà nước.
Hồ sơ phát hành trái phiếu bao gồm:
a) Phương án phát hành trái phiếu và quyết định phê duyệt, chấp thuận phương án phát hành trái phiếu của các cấp có thẩm quyền;
b) Các tài liệu và văn bản pháp lý chứng minh doanh nghiệp đủ điều kiện để phát hành trái phiếu theo quy định tại Điều 13 Nghị định 90/2011/NĐ-CP;
c) Kết quả xếp loại của tổ chức định mức tín nhiệm đối với tổ chức phát hành trái phiếu và loại trái phiếu phát hành (nếu có);
d) Các hợp đồng bảo lãnh phát hành, bảo lãnh thanh toán, hợp đồng đại lý và các tàiliệu liên quan khác (nếu có)
đ) Văn bản pháp lý chứng minh các dự án sử dụng nguồn vốn trái phiếu đã hoànthành các thủ tục về đầu tư và đã có quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền trongtrường hợp phát hành trái phiếu để thực hiện các chương trình, dự án đầu tư củadoanh nghiệp
2.1.1 Huy động vốn từ phát hành trái phiếu của doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay
Kênh huy động vốn qua hình thức trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam hiện đã trở thànhmột kênh huy động vốn tương đối lớn trong mối tương quan với kênh vay vốn tíndụng từ ngân hàng cũng như kênh huy động vốn cổ phần qua thị trường chứngkhoán Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp để hỗ trợ các doanh nghiệp
Trang 15huy động vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, giảm bớt sự phụ thuộc vào kênh tín dụng ngân hàng là quan điểm xuyên suốt của Đảng, Quốc hội, Chính phủ.
Thực tế cho thấy, sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong giai đoạn vừa qua đã theo đúng chủ trương, định hướng của Đảng, Quốc hội, Chính phủ Trong giai đoạn 2016-2020, thị trường trái phiếu doanh nghiệp là cấu phần có sự tăng trưởng mạnh nhất của thị trường tài chính, trở thành kênh huy động vốn ngày càng quan trọng cho các doanh nghiệp trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đạt thấp Tổng khối lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành khoảng 1.224 nghìn tỷ đồng, bình quân gần 239 nghìn tỷ đồng/năm; gấp khoảng 9 lần giai đoạn 2011-2015 Tốc độ tăng trưởng bình quân thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt khoảng 48%/năm, quy mô thịtrường trái phiếu doanh nghiệp đến cuối năm 2020 đạt khoảng gần 16% GDP, gấp hơn bốn lần năm 2016
Trong năm 2021, dẫn số liệu từ báo cáo của Hiệp hội thị trường Trái phiếu Việt Nam (VBMA), trong bản tin tổng hợp kinh tế - tài chính công bố, Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế - Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (MSB) cho biết, số lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành ra thị trường đã tăng kỷ lục, ghi nhận mức cao chưa từng có
Cụ thể, tổng số lượng trái phiếu đã phát hành đạt trên 660.000 tỷ đồng Mặc dù nền kinh tế chịu ảnh hưởng mạnh của tình hình dịch bệnh và trong bối cảnh tín dụng ngânhàng tăng trưởng chậm, thị trường trái phiếu vẫn tiếp tục là kênh huy động vốn quan trọng cho doanh nghiệp với tổng khối lượng phát hành trái phiếu doanh nghiệp tăng 42% so với năm 2020 Tỷ lệ trái phiếu phát hành ra công chúng đạt 4,58% Trái phiếuphát hành riêng lẻ gần như chiếm tuyệt đối trong tổng số lượng trái phiếu phát hành thành công trong năm 2021, tương đương trên 95%
+ Về cơ cấu ngành, bất động sản và ngân hàng là 2 ngành phát hành trái phiếu nhiều nhất
trong năm 2021, mỗi ngành chiếm khoảng 35% tổng số lượng trái phiếu phát hành Kỳ hạnbình quân là 3,8%/năm, thấp hơn năm 2020
+ Lãi suất bình quân trái phiếu doanh nghiệp trong năm 2021 cũng đạt 7,75%/năm.
Trong đó, xây dựng và bất động sản là ngành có lãi suất trái phiếu cao nhất lần lượt là
10,64% và 10,36% Bên cạnh đó, có 6 DN phát hành thành công 1.740 triệu USD TPDN ra thị trường quốc tế, gấp 5 lần so với năm 2020
Theo Bộ Tài chính, tính đến hết năm 2021, tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành ước đạt gần 1,2 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 11,4% tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế và chiếm khoảng 14,5% GDP năm 2021
Sang năm 2022, theo số liệu thống kê từ Công ty FiinPro, thị trường tiếp tục có sự tăngtrưởng khi mà lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành trong hai tháng đầu năm là gần26.000 tỷ đồng và gấp hai lần so với cùng kỳ năm ngoái Trong nửa đầu tháng 3, thị
Trang 16phần Chứng khoán VNDIRECT và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bản Việt với tổnggiá trị 1.250 tỷ đồng Trong số đó, Công ty Cổ phần Chứng khoán VNDIRECT pháthành khối lượng trái phiếu lớn nhất đạt 1.000 tỷ đồng với lãi suất là8,0%/năm-8,4%/năm.
+ Trong tháng đầu tiên của năm 2022, nhóm doanh nghiệp bất động sản giữ vị trí quánquân trên thị trường phát hành trái phiếu với giá trị đạt 14.470 tỷ đồng Theo số liệu của Hiệphội Trái phiếu Việt Nam (VBMA), trong tháng 1/2022, bất động sản và xây dựng hiện là hainhóm ngành phát hành khối lượng trái phiếu lớn nhất với giá trị lần lượt đạt 14.470 tỷ đồng
và 7.130 tỷ đồng, chiếm 55,8% và 27,5% tổng giá trị phát hành của tháng Trong đó, nhómngành bất động sản, CTCP Đầu tư và Phát triển Eagle Side là doanh nghiệp có khối lượngphát hành lớn nhất với 3.930 tỷ đồng với kỳ hạn 1 năm, CTCP Phát triển Đất Việt có khốilượng phát hành lớn thứ hai với 1.600 tỷ
đồng, với mức trái phiếu kỳ hạn 3 năm Còn trong nhóm ngành Xây dựng, CTCP Xâydựng Minh Trường Phú và CTCP Đầu tư Xây dựng Tường Khải lần lượt phát hành2.950 tỷ đồng và 2.990 tỷ đồng, cả 2 mã trái phiếu đều có kỳ hạn 1 năm
Nhìn chung toàn thị trường, trong tháng 1 vừa qua đã có tổng cộng 7 đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng và 16 đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻvới tổng giá trị phát hành 25.923 tỷ đồng Con số này sụt giảm mạnh so với tháng 12/2021 khi có tới tổng cộng 80 đợt phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ trong nước với tổng giá trị phát hành 65.757 tỷ đồng
2.1.2 Hạn chế, tồn tại
2.1.2.1 Rủi ro mất khả năng thanh toán
Mặc dù thị trường trái phiếu Việt Nam đang ngày càng tăng trưởng, tuy nhiên cũng bộc
lộ một số hạn chế, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho nhà đầu tư và thị trường tài chính Tỷ trọngnhà đầu tư cá nhân mua trái phiếu doanh nghiệp chiếm khoảng dưới 10% tổng khốilượng phát hành và có xu hướng tăng lên Đối với trái phiếu doanh nghiệp phát hành racông chúng, tổ chức phát hành phải tuân thủ quy định tại Luật Chứng khoán, phải đápứng các tiêu chí về vốn, tình sản xuất kinh doanh… và được Ủy ban chứng khoán nhànước cấp phép phát hành, do đó phù hợp với mọi loại hình nhà đầu tư Tuy nhiên, đốivới trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ, điều kiện và thủ tục phát hành tươngđối đơn giản, nhà đầu tư phải tự đánh giá mức độ rủi ro để ra quyết định đầu tư Cácnhà đầu tư các nhân nhỏ, lẻ mua trái phiếu doanh nghiệp phát hành riêng lẻ khi chưatiếp cận đầy đủ thông tin về mục đích phát hành, tình hình tài chính, khả năng trả nợ,
lại thiếu khả năng phân tích, đánh giá là rất rủi ro cho chính nhà đầu tư,
Trang 17và có thể gây bất ổn cho thị trường tài chính và xã hội khi doanh nghiệp phát hành không thực hiện được cam kết với nhà đầu tư hoặc không đủ khả năng trả nợ.
Ngoài ra, thực tế có nhiều doanh nghiệp phát hành trái phiếu riêng lẻ có quy mô nhỏ nhưng huy động vốn với khối lượng rất lớn, gấp nhiều lần so với vốn chủ sở hữu, một
số doanh nghiệp đưa ra mức lãi suất cao hơn nhiều so với mức lãi suất bình quân trên thị trường, nhưng không có tài sản đảm bảo, không được bảo lãnh thanh toán, đặc biệt
là doanh nghiệp bất động sản Tình trạng này tiềm ẩn rủi ro mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến an toàn của cả hệ thống tài chính
Cụ thể, các doanh nghiệp huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu theo nguyên tắc
tự vay-tự trả và chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn cũng như khả năng trả nợ Song, các doanh nghiệp phát hành khối lượng trái phiếu quá lớn, với lãi suất cao Trong khi đó, việc sử dụng vốn không hiệu quả hoặc tình hình sản xuất kinh doanh gặpkhó khăn có thể dẫn đến việc doanh nghiệp không hoàn trả được gốc và lãi trái phiếu cho nhà đầu tư Điều này sẽ gây bất ổn cho thị trường trái phiếu nói riêng và thị trường tài chính trong nước nói chung
Bên cạnh đó, pháp luật có quy định nhà đầu tư tự đánh giá rủi ro và chịu trách nhiệm
về việc mua trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ và chỉ nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp mới được mua và giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ Song, các hành vi
“lách” quy định của pháp luật để trở thành nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, với mục đích để mua trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ nhưng không đánh giá, phân tích được rủi ro sẽ trực tiếp gây ra rủi ro cho nhà đầu tư, như có thể không thu hồi được
số tiền mua trái phiếu
đó có khoảng 30% giá trị trái phiếu phát hành không có tài sản bảo đảm hoặc bảo đảm bằng cổ phiếu Đáng lưu ý là tỷ lệ này tiếp tục tăng lên so với tháng trước, cho thấy những rủi ro tiềm ẩn của kênh đầu tư này ngày càng gia tăng
Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia cho rằng một số doanh nghiệp có xu hướng phát hànhtrái phiếu huy động vốn để đầu tư góp vốn, mua cổ phần, thay vì phục vụ cho các hoạtđộng sản xuất kinh doanh thực hay các dự án đầu tư mới của doanh nghiệp Điều nàykhiến dòng vốn đi sai hướng Theo TS Nguyễn Duy Phương, Giám đốc đầu tư Quỹ
Trang 18DG Investment, với những quy định hiện nay, điều kiện phát hành trái phiếu ngày càngchặt chẽ hơn Do đó, không loại trừ khả năng có doanh nghiệp đủ điều kiện phát hànhtrái phiếu sẽ huy động vốn rồi từ đó, với lãi suất thấp sau đó dùng nguồn vốn dài hạnnày đem cho những doanh nghiệp nhỏ hơn đang cần vốn nhưng không đủ điều kiệnphát hành trái phiếu vay Như vậy, dòng vốn cũng đang đi sai về bản chất.
2.1.2.3 Trái phiếu “nhiều không”
Đáng lo nhất là loại trái phiếu “nhiều không”: Không chuyển đổi, không kèm chứng quyền, không có tài sản đảm bảo và không đánh giá tín nhiệm đang được nhiều DN sử dụng để huy động vốn
Theo VBMA, năm 2022, một loạt các DN đang có kế hoạch phát hành trái phiếu, trong
đó đáng chú ý là 1.000 tỷ đồng trái phiếu “nhiều không” Cụ thể, Công ty CP Tập ĐoànĐầu Tư I.P.A đã thông qua phương án phát hành riêng lẻ tối đa 1.000 tỷ đồng trái phiếu không chuyển đổi, không kèm chứng quyền, không đảm bảo bằng tài sản trong năm 2022, trái phiếu có kỳ hạn 3 năm với lãi suất cố định là 9.5%/năm nhằm thực hiện các dự án đầu tư và các hoạt động kinh doanh
Công ty CP Chứng Khoán Thành Công đã phê duyệt phương án phát hành 200 tỷ đồng trái phiếu không chuyển đổi, không kèm chứng quyền, có tài sản đảm bảo với kỳ hạn 1 năm, lãi suất 10%/năm nhằm tài trợ cho các giao dịch cho vay ký quỹ, đầu tư Hội đồngquản trị Công ty CP DRH Holdings đã phê duyệt phương án phát hành 400 tỷ đồng trái phiếu riêng lẻ không chuyển đổi, không kèm chứng quyền, có đảm bảo bằng tài sản trong quý I/2022
Công ty cổ phần Phát triển bất động sản Phát Đạt vừa thông báo sẽ phát hành tiếp 5.000 trái phiếu với mệnh giá 100 triệu đồng/trái phiếu để huy động 500 tỷ đồng Đây
là đợt phát hành trái phiếu lần thứ 10 của Phát Đạt kể từ đầu năm 2021 Từ đầu năm tớinay, Phát Đạt đã chào bán tổng cộng 2.765 tỷ đồng trái phiếu Hầu hết các lô trái phiếu
là trái phiếu không chuyển đổi, không kèm chứng quyền, có tài sản đảm bảo là cổ phiếu PDR và được tự do chuyển nhượng Lãi suất dao động từ 12-13%/năm, đáo hạn năm 2023
+ Theo báo cáo tài chính, tại thời điểm ngày 30/09/2021, lượng hàng tồn kho của PhátĐạt cũng lên tới 11.920 tỷ đồng, tăng thêm 2.590 tỷ đồng Cũng tại thời điểm ngày30.9.2021, nợ phải trả của Phát Đạt ở mức 11.914 tỷ đồng, cao hơn 14% so với mức
ghi nhận hồi đầu năm, chủ yếu là các khoản nợ dài hạn Đáng chú ý, số nợ phải trả vẫn cao hơn nhiều so với mức vốn chủ sở hữu hiện đang là 7.761 tỷ đồng
Theo thông tin từ Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), CTCP Đầu tư Valley đãphát hành 3.560 tỷ đồng trái phiếu vào ngày 17/12/2021 với kỳ hạn 48 tháng Hai ngàysau phát hành, Valley tiến hành tăng vốn điều lệ từ 250 tỷ đồng lên 650 tỷ đồng
Trang 19Những thông tin về lãi suất, mục đích phát hành, tài sản đảm bảo, trái chủ, đơn vị thuxếp, không được Valley công bố Doanh nghiệp này được thành lập bởi ba cổ đông
cá nhân, chuyên hoạt động ở lĩnh vực bất động sản
Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp bất động sản chưa phải là công ty đại chúng cũng cấptập huy động vốn trái phiếu thời gian gần đây CTCP Bách Hưng Vương vừa công bố chào bán thành công lô trái phiếu trị giá 2.980 tỷ đồng với kỳ hạn 12 tháng, đáo hạn vào 17.12.2022 Bách Hưng Vương được thành lập vào tháng 5/2018, có trụ sở tại Hado Building, số 2 Hồng Hà, phường 2, quận Tân Bình, TPHCM Hoạt động chính của doanh nghiệp này là kinh doanh bất động sản
Ngoài ra cũng phải kể đến những kế hoạch phát hành trái phiếu khủng của các DN bất động sản chưa niêm yết trên sàn như Công ty Cung Điện Mùa đông - công ty một thành viên của Tập đoàn Tân Hoàng Minh, vừa phát hành thành công lô trái phiếu trị giá 3.230 tỷ đồng Đây là loại trái phiếu có tài sản đảm bảo bằng quyền sử dụng đất dự
án huy động vốn để triển khai…Trong số các TPDN phát hành riêng lẻ các tháng đầu năm 2021, TPDN có tài sản đảm bảo chiếm 50,9%; trái phiếu không có tài sản đảm bảochiếm 49,1% (trong đó trái phiếu do các tổ chức tín dụng và công ty chứng khoán phát hành chiếm 76%) Trong số 300 doanh nghiệp phát hành trái phiếu riêng lẻ trong các tháng đầu năm 2021, 207 doanh nghiệp phát hành trái phiếu có tài sản đảm bảo Tài sản đảm bảo của trái phiếu chủ yếu là bất động sản, chứng khoán, chương trình, dự án Như vậy, mặc dù tỷ lệ trái phiếu có tài sản đảm bảo cao nhưng thực tế, chất lượng tài sản đảm bảo còn nhiều rủi ro khi chủ yếu là các dự án, tài sản hình thành trong tương lai hoặc cổ phiếu của DN
Ngoài ra, số liệu thống kê cho thấy, phần lớn các lô TPDN đều được phát hành và mua bởi các ngân hàng và CTCK Tuy nhiên, các CTCK và ngân hàng đều không phải là người sở hữu TPDN cuối cùng Sau khi mua, họ sẽ bán lại cho các nhà đầu tư Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp, việc ngân hàng hay CTCK mua TPDN thời gian qua khôngloại trừ mục đích đảo nợ, cơ cấu lại nợ cho doanh nghiệp Một điều đáng lo nữa là thời điểm đáo hạn của hầu hết TPDN trên thị trường ngày một đến gần Theo công ty xếp hạng tín nhiệm FiinGroup, trong tổng số gần 1,2 triệu tỷ đồng dư nợ TPDN đang lưu hành, có tới 40,7% giá trị trái phiếu lưu hành sẽ đáo hạn trong giai đoạn 2 năm 2022 -
2023 Tính riêng TPDN khối phi tài chính (quy mô hiện khoảng 780.000 tỷ đồng, chiếm gần 69% giá trị lưu hành), thì phân kỳ trả nợ 3 năm tới là hơn 66%, trong đó: 14,5% vào năm 2022; 28,9% vào năm 2023 và 22,8% vào 2024 Có nghĩa là, trong vòng 3 năm tới, doanh nghiệp (không tính các ngân hàng, CTCK, công ty tài chính) chịu áp lực trả nợ cho nhà đầu tư hơn 500.000 tỷ đồng