TÁC ĐỘNG CHUYẾN THĂM CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG LIÊN XÔ A N KOSYGIN ĐẾN VIỆT NAM (2 1965) ĐỐI VỚI QUAN HỆ VIỆT XÔ PGS TS Nguyễn Thị Mai Hoa1 Tóm tắt Quan hệ Việt Nam – Liên Xô từ khi được thiết lập (1950) đến khi Liên Xô tan rã (1991) là mối quan hệ hết sức đặc biệt; trong đó, tình hữu nghị, sự gắn kết chặt chẽ là dòng chủ đạo Tuy nhiên, bỏ qua yếu tố ý thức hệ, cũng như nhiều quan hệ giữa các quốc gia khác, quan hệ Việt Nam Liên Xô vẫn có một số bất cập, trở ngại nhất định, nhất là trong g[.]
Trang 1ĐẾN VIỆT NAM (2-1965) ĐỐI VỚI QUAN HỆ VIỆT - XÔ
PGS.TS Nguyễn Thị Mai Hoa 1
Tóm tắt: Quan hệ Việt Nam – Liên Xô từ khi được thiết lập (1950) đến khi
Liên Xô tan rã (1991) là mối quan hệ hết sức đặc biệt; trong đó, tình hữu nghị, sự gắn kết chặt chẽ là dòng chủ đạo Tuy nhiên, bỏ qua yếu tố ý thức
hệ, cũng như nhiều quan hệ giữa các quốc gia khác, quan hệ Việt Nam - Liên Xô vẫn có một số bất cập, trở ngại nhất định, nhất là trong giai đoạn đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1965)
Trước những diễn biến mới của tình hình và nhất là sự thay đổi Ban lãnh đạo tại Điện Kremlin, Liên Xô đã có những động thái mới thúc đẩy quan
hệ với Việt Nam mà chuyến thăm của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên
Xô A.N Kosygin là một trong những tác nhân quan trọng Bài viết tập trung làm rõ tác động tích cực của chuyến thăm đến việc phát triển quan
hệ Việt Nam - Liên Xô, để từ đó rút ra một số vấn đề mang tính nguyên tắc trong quan hệ Việt - Xô nói riêng, quan hệ quốc tế nói chung.
Từ khóa: Việt Nam, Liên Xô, chủ nghĩa xét lại, chính sách “ba hòa”, hợp
tác quân sự, viện trợ kinh tế.
1 Trước năm 1965, dưới tác động của nhiều yếu tố khách quan,
chủ quan không phải lúc nào quan hệ Việt Nam – Liên Xô cũng bằng phẳng, suôi sẻ hoặc được bao phủ toàn một màu hồng như giới chính trị gia hay các nhà tuyên truyền vẫn thường mô tả Sau một loạt những vấn đề khác biệt quan điểm, những năm 1954-1963, đặc biệt từ cuối năm 1961 đến giữa năm 1964, quan hệ Việt Nam – Liên Xô có phần căng thẳng Đặc biệt, quan hệ giữa Việt Nam và Liên Xô rơi xuống mức
1 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN.
Trang 2thấp nhất kể từ sau Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (12-1963) – Hội nghị đã nhấn mạnh đến đấu tranh chống “chủ nghĩa xét lại”, thực chất phê phán Liên Xô và mặc nhiên tán thành lập trường của Trung Quốc Mari Olsen coi đó là “bước đệm cuối cùng, đánh dấu việc Hà Nội tách hẳn khỏi đường lối chính sách đối ngoại của Moscow”1, còn Giáo sư sử học V.V.Ivanov thì cho rằng, khi chính thức quy kết Liên Xô là xét lại hiện đại, là nhu nhược trong thái
độ đối với chủ nghĩa đế quốc thì Việt Nam Dân chủ cộng hòa cũng đồng thời lựa chọn lý luận chiến tranh cách mạng của Mao Trạch Đông2 Lập trường “chống chủ nghĩa xét lại hiện đại” được Đảng Lao động
Việt Nam khẳng định một lần nữa trong Chỉ thị Bộ Chính trị (27-1-1964),
khi xác định “trách nhiệm quốc tế của mình, trách nhiệm của một đội ngũ trung kiên trong phong trào cộng sản quốc tế, là tích cực tham gia cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa xét lại hiện đại, bảo vệ đường lối đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin”3 Với quan điểm đó, Đảng Lao động Việt Nam đã khiến mối quan hệ Việt -Xô vốn đã lạnh nhạt trở nên băng giá hơn Việt Nam rút dần lưu học sinh học tập các ngành khoa học xã hội, các trường quân sự ở Liên Xô về nước, còn Liên Xô thì tổ chức các hoạt động thăm dò tình báo thông qua đội ngũ cán bộ, chuyên gia làm việc ở Việt Nam Do quan hệ hai nước xấu đi, Liên Xô “cắt giảm viện trợ kinh
tế cho Việt Nam tới 30% và đòi Việt Nam gấp rút thanh toán những món
nợ hiện có”4 - điều Việt Nam khó lòng thực hiện được
Từ năm 1960 đến năm 1964, Moscow liên tiếp gửi thông điệp (13 bức thư và thông báo)5 đến Hà Nội, đề nghị Trung ương Đảng Lao động
1 Mari Olsen: Soviet - Vietnam Relations and the Role of China, 1949-1964, NXB
Routledge, 2006, p.134.
2 В.В.Иванов: «Советско-въетнамское сотрундничество и позиция КНР в 1965-1967 гг», Руссия и АРТ, 2010, № 4, C 67.
3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2003, t.25, tr 43.
4 В.В.Иванов: «Советско-въетнамское сотрундничество и позиция КНР в 1965-1967 гг», Руссия и АРТ, 2010, №4, C 69.
5 Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao: Về quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước, Lưu tại Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội, 1985, tr 14.
Trang 3Việt Nam phải thay đổi lập trường với Trung Quốc, “hy vọng rằng các nhà lãnh đạo Việt Nam thấy rõ những kẻ chia rẽ Trung Quốc đang lôi
họ vào “vũng lầy nguy hiểm”1, ngầm tỏ ý sẽ cắt viện trợ nếu Hà Nội không có thái độ “phù hợp” Chuyến thăm Liên Xô cuối tháng 1-1964 của Đoàn đại biểu Đảng Lao động Việt Nam do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn dẫn đầu có mục tiêu củng cố, không làm sứt mẻ thêm nữa quan hệ hai nước, song như đánh giá của Mari Olsen thì “kết quả chuyến thăm không làm hài lòng người Việt Nam và có thể kết luận là chuyến đi thất bại”2 Mari Olsen giải thích: “Nếu ý định ban đầu là phân trần về các quyết định đưa ra ở Hội nghị Trung ương 9 và nhờ người Nga giúp đỡ cuộc đấu tranh vũ trang ở miền Nam, thì Lê Duẩn đã rời Moscow mà không đạt được bất cứ điều gì”3 Nhà nghiên cứu I.V Gaiduk nhận xét rằng, rõ ràng giữa hai nước có nhiều bất đồng hơn là nhất trí và các nhà lãnh đạo Xô viết đã không thoả mãn với lập trường của Hà Nội4 Một trong những nguyên nhân của tình trạng nói trên là do đối với phong trào giải phóng dân tộc, Liên Xô có sự điều chỉnh phù hợp với chính sách “ba hòa” (quá độ hoà bình, thi đua hoà bình, cùng tồn tại hoà bình) Thực hiện “ba hòa”, nên với vấn đề thống nhất đất nước của Việt Nam, Liên Xô ủng hộ giữ nguyên hiện trạng, giải quyết bằng thương lượng –điều đó ngược với quyết định của Hội nghị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lần thứ 15 (khoá II, 1-1959) về phát động đấu tranh vũ trang, chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công Tâm lý e sợ “bùng nổ Chiến tranh Thế giới thứ ba” khiến Liên Xô hạn chế viện trợ quân sự, cung cấp vừa phải vũ khí cho cuộc đấu tranh tranh vũ trang ở miền Nam Việt Nam5
Trong điều kiện mâu thuẫn Xô - Trung ngày càng căng thẳng, tuy nhận thấy Trung Quốc đã tăng mạnh ảnh hưởng ở Việt Nam song sự
1 Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao: Về quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước, Tlđd, tr 25.
2,3 Mari Olsen: Soviet - Vietnam Relations and the Role of China, 1949-1964, Ibid, p 243.
4 И В Гайдук: Советский Союз и война во Вьетнаме, Осмысление истории М,
1996, C 26.
5 Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao: Về quan hệ Việt-Xô trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước, Tlđd,
tr 15.
Trang 4quan tâm của Liên Xô đối với Việt Nam tỏ ra thụ động Có lẽ những vấn đề đối ngoại khác, như bức tường Berlin, khủng hoảng tên lửa Cuba… đã khiến Moscow chưa chú tâm thực sự đến Đông Dương; lợi ích chiến lược của Liên Xô vẫn chủ yếu là ở khu vực Đông Âu Thậm chí sự gia tăng ảnh hưởng đáng kể của Trung Quốc đối với Hà Nội và khả năng hiện diện của Mỹ tại khu vực chưa làm Moscow lo lắng Liên
Xô “không làm gì nhiều để thuyết phục những người bạn Việt Nam của mình rằng họ có thể dựa vào Liên Xô khi khó khăn”1
Bước sang năm 1965, tình hình khu vực Đông Nam Á và Việt Nam có những thay đổi nhanh chóng, Mỹ chuẩn bị đưa quân vào miền Nam Việt Nam Cùng với việc tăng cường sự hiện diện ở Đông Nam
Á, Mỹ “có cách tiếp cận mới đối với Bắc Kinh sau cuộc khủng hoảng Trung – Xô”2 Nhìn thấy khả năng Trung Quốc tìm kiếm quan hệ với Washington để cân bằng địa vị với Liên Xô3, Mỹ đẩy nhanh quan hệ với Trung Quốc, trong khi Trung Quốc - đối thủ cạnh tranh của Liên Xô đang tích cực giúp đỡ Việt Nam chống Mỹ, nhằm mở rộng ảnh hưởng Tất cả những yếu tố đó đã tác động trực tiếp tới tính toán chiến lược của Liên Xô, đặt ra yêu cầu điều chỉnh chính sách đối ngoại phù hợp với các xu hướng đối đầu, hòa hoãn và xung đột trong cạnh tranh quyền lực trên phông nền cuộc Chiến tranh Lạnh Bên cạnh đó, sự thay đổi Ban lãnh đạo Moscow, loại trừ khỏi vị trí quyền lực nhân vật N Khrushchev – kiến trúc sư của tư tưởng chung sống hòa bình đã thay đổi đáng kể những định hướng đối ngoại lớn của Điện Klemlin
Xuất phát từ yêu cầu và hiện thực đó, Liên Xô đã nhìn nhận, cân nhắc lại quan hệ với Đông Nam Á và Đông Dương, khởi động lại chính sách châu Á, đặt trọng tâm vào Việt Nam – quốc gia “điểm nóng” ở khu vực Việt Nam “là một kênh quan trọng giúp Liên Xô có thể thâm nhập vào khu vực Đông Nam Á, cô lập, ngăn cản chiến lược mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc, không rơi vào thế yếu một khi Trung Quốc hòa
1 Qiang Zhai: China and the Vietnam War, 1950-1975, Chapel Hill and London: The
University of Carolina Press, 2000, p.199.
2,3 Letter from Allen S Whiting to Henry Kissinger, 16 August 1969, enclosing report,
“Sino-Soviet Hostilities and Implications for U.S Policy”, National Archives,
Nixon Presidential Materials Project, box 839, China.
Trang 5hoãn với Hoa Kỳ”1 Nằm trong tuyến mục tiêu đó, chuyến thăm của một nhân vật cấp cao nhất Liên Xô sau nhiều năm vắng bóng đến Việt Nam được thiết kế
2 Tháng 2-1965, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A.N
Kosygin dẫn đầu Đoàn đại biểu Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết đến Việt Nam Đây là một chuyến thăm hết sức quan trọng, là sự thể hiện đậm nét chính sách “xoay trục” của Moscow, ghi một dấu mốc quan trọng, mở ra bước ngoặt trong quan hệ Việt – Xô, hứa hẹn một thời kỳ phát triển mới, gắn bó sau một chặng đường dài kém mặn mà
Tuyên bố chung được ký kết cuối chuyến thăm của Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng A.N Kosygin là một minh chứng về sự nồng ấm trở lại trong quan hệ Việt – Xô: “Liên Xô không thờ ơ với an ninh của một nước xã hội chủ nghĩa anh em và sẵn sàng ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam“2 Nhận định về mục tiêu chuyến viếng thăm Hà Nội của Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng A.N Kosygin, Báo cáo của CIA ngày 1-2-1965 viết:
“Trong tình hình hiện tại, chuyến công du của A.N Kosygin có thể được xem xét như một cách tiếp cận thận trọng, nhưng hết sức vững chắc của Ban lãnh đạo mới đối với một trong những đồng minh thân cận của đối thủ Trung Quốc tại khu vực”3 Bản Báo cáo phân tích: Thành phần của
Đoàn với những tên tuổi quan trọng trong Chính phủ Liên Xô4, nắm những lĩnh vực kinh tế, quân sự chủ yếu cho thấy rằng, “vấn đề viện trợ kinh tế, quân sự, bao gồm cung cấp tên lửa và máy bay sẽ được thảo luận tại Hà Nội”5 Trên thực tế, trong cuộc hội đàm giữa Đoàn đại biểu Liên Xô với lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam, việc “làm rõ các chi tiết trong quan hệ giữa hai nước với các vấn đề quân sự”6 là nội dung
1 АлександрОкороков: Секретные войны Советского Союза, Изд Яуза, Эксмо,
М, 2008.
2 Việt Nam-Liên Xô: 30 năm quan hệ 1950-1980, NXB Tiến bộ, Matxcơva, 1982, tr 107.
3 Kosygin’s Forthcoming Visit to Hanoi, 1-2-1965, CIA Released Documents, National Archives and Records Administration, By J.C.K, p.5.
4 Đoàn đại biểu Liên Xô gồm có Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Nguyên soái Konstantin Vershinia, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhà nước về ngoại thương, G.S Didorovich và Bộ trưởng Hàng không dân dụng Engenii Loginov.
5 Kosygin’s Forthcoming Visit to Hanoi, 1-2-1965, Ibid, p.4
6 И В Гайдук: Советский Союз и война во Вьетнаме, Указ Соч, C 18.
Trang 6trọng tâm Liên Xô cam kết cung cấp vũ khí củng cố khả năng phòng thủ của Việt Nam, chống lại sự tấn công bằng không lực của Hoa Kỳ1, hứa sẽ sẽ thoả thuận với Trung Quốc về kế hoạch phối hợp hành động giúp đỡ Việt Nam, thỏa thuận tổ chức cơ chế tham vấn thường xuyên về những vấn đề quan trọng Đặc biệt, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng A.N Kosygin đã tuyên bố về “sự giúp đỡ toàn diện” – điều mà Việt Nam hết sức chờ đợi trong điều kiện chiến tranh đang lan rộng
Sau “sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, chiến tranh Việt Nam bước vào giai đoạn khốc liệt nhất Dựa vào ưu thế quân sự của cường quốc, Mỹ tuyên bố: “Đẩy lùi miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá”. Ngày 7-2-1965,
Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc với mục đích ngăn chặn chi viện của miền Bắc cho miền Nam, cho Việt Nam thấy sức mạnh quân sự của Mỹ, gây sức ép để Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải ký thỏa thuận với Chính quyền Việt Nam Cộng hòa; đồng thời, hy vọng cuộc ném bom miền Bắc Việt Nam sẽ trở thành liều thuốc giữ ổn định tinh thần cho Chính quyền Sài Gòn, nâng cao hiệu quả chiến đấu của Quân đội Việt Nam Cộng hòa Có một chi tiết khá đặc biệt, đáng lưu ý đã xảy ra trong thời gian ngắn ngủi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A.N Kosygin đến và lưu lại Việt Nam, tưởng như bên lề sự kiện, song lại có ảnh hưởng trực tiếp đến các chiều cạnh của tam giác quan hệ Việt – Xô – Mỹ
Những trận mưa bom Mỹ dội xuống miền Bắc Việt Nam trùng vào thời gian Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô A.N Kosygin đang
ở thăm Hà Nội2, mặc dù chuyến thăm Việt Nam của nhà lãnh đạo cấp cao Xô viết đã được các phương tiện thông tin đại chúng của Liên Xô loan báo rộng rãi Liên Xô coi việc Mỹ ném bom khi A.N Kosygin đặt chân tới Hà Nội sau một thời gian dài vắng bóng các cuộc thăm ngoại giao cấp cao từ Liên Xô tới Việt Nam là “một hành động thiếu thiện chí”, là một sự xúc phạm tới A.N Kosygin Hơn thế, dường như
1 Việt Nam-Liên Xô: 30 năm quan hệ 1950-1980, NXB Tiến bộ Matxcơva, 1982, tr 107.
2 Ngay sau khi Kosygin đến Hà Nội, các đơn vị của Mặt trận dân tộc giải phóng miền
Nam Việt Nam đã tấn công vào một căn cứ của Mỹ ở Pleiku, tiêu diệt 8 lính Mỹ và
làm bị thương hơn 60 Cuộc tấn công này chính là cái cớ mà Mỹ chờ đợi từ lâu để tiến hành cuộc tấn công miền Bắc Việt Nam Tổng thống Johnson ngay lập tức phê chuẩn các kế hoạch công kích, mở rộng chiến tranh ra miền Bắc Việt Nam
Trang 7Moscow coi thời điểm các cuộc ném bom lên lãnh thổ miền Bắc Việt Nam đã được Mỹ tính toán và lựa chọn kỹ càng, nhằm làm Liên Xô bẽ bàng Chính phủ Liên Xô lập tức gửi một bức điện mật cho Chính phủ
Mỹ, lên án gay gắt hành động nói trên Bản thân A.N Kosygin cũng không thể tha thứ cho hành động coi thường thể diện này Theo phân tích của A Dobrynin thì chính “cuộc ném bom đã khiến A.N Kosygin chuyển sang lập trường chống L Johnson, mặc dù trước đó giữa họ có mối quan hệ khá tốt”1 Phát biểu trong buổi chiêu đãi chào mừng Đoàn đại biểu Liên Xô, A.N Kosygin khẳng định: “Cuộc đấu tranh của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chống lại những sự khiêu khích của bọn đế quốc, cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân miền Nam Việt Nam ( )
là sự nghiệp chính nghĩa và đúng đắn Liên Xô và tất cả các lực lượng tiến bộ trên thế giới đã và sẽ ủng hộ sự nghiệp đó”2 Về tới Moscow, A.N Kosygin lập tức tuyên bố: “Đừng ai có ảo tưởng rằng cuộc xâm lược chống nhân dân Việt Nam sẽ có thể không bị trừng trị”3, đề nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô tăng đáng kể viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ưu tiên tập trung viện trợ hệ thống phòng thủ phòng không hiện đại A Dobrynin cho rằng, nhân chuyến thăm của A.N Kosygin, lãnh đạo Hà Nội có những tính toán và hành động để thúc đẩy Liên Xô chuyển sang lập trường cứng rắn hơn đối với chiến tranh Việt Nam4 Quả thật, việc Mỹ ném bom Hà Nội đã xóa đi những hy vọng cuối cùng của Moscow về việc dàn xếp, tránh quốc tế hoá cuộc xung đột
ở Việt Nam Trong tình thế danh dự nước lớn bị thách thức, cuối cùng, Liên Xô đã buộc phải đi tới một quyết định khó khăn: Gác qua một bên chính sách không tham dự, chỉ ủng hộ về tinh thần và dấn sâu vào cuộc chiến tranh Việt Nam với những hệ lụy khó lường
Ngày 9-2-1965, chính thức về mặt Nhà nước, lần đầu tiên Liên
Xô ra Tuyên bố lên án Mỹ ném bom lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa, yêu cầu Mỹ chấm dứt ngay mọi hoạt động quân sự, nghiêm
1 Добрынин Анатолий: Сугубо доверительно, Изд “Автор”, Москва, 1996, C 127.
2 Báo Nhân dân, ngày 7-2-1965.
3 Dẫn theo Nguyễn Phúc Luân: Ngoại giao hiện đại vì sự nghiệp giành độc lập, tự do (1954-1975), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.207.
4 Добрынин Анатолий: Сугубо доверительно, Указ Соч, C 127.
Trang 8chỉnh chấp hành Hiệp định Giơnevơ Tuyên bố có lời lẽ khá gay gắt:
“Chính phủ Liên Xô cảnh cáo giới cầm quyền Mỹ về những âm mưu xâm phạm chủ quyền của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa anh em và hy vọng rằng, Washington nhìn nhận một cách thực
tế về tình hình hiện nay ở Đông Dương”1 Bản Tuyên bố khẳng định về
sự chuẩn bị sẵn sàng của nhân dân Liên Xô “có những biện pháp mới cùng với các nước đồng minh và bạn bè của mình nhằm bảo vệ an ninh
và tăng cường khả năng phòng thủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”2 Tuyên bố chung Việt Nam – Liên Xô ngày 10-2-1965 cho thấy sự
hợp tác hai nước ngày càng chặt chẽ: “Hai Chính phủ đã đi tới sự thỏa thuận thích đáng về những biện pháp sẽ được tiến hành”3 Cuộc mưa bom trên bầu trời Hà Nội khi có mặt vị thượng khách đến từ Liên Xô đã khiến những mâu thuẫn tiềm ẩn nổ tung, trở thành chất xúc tác chuyển hóa những tính toán chín muồi của Liên Xô thành hiện thực – thắt chặt quan hệ với “quốc gia tiền đồn CNXH” tại Đông Nam Á, lấy lại uy tín
bị giảm sút trong phong trào cách mạng thế giới do chính sách tiêu cực đối với cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam những năm 1954-1964, kiềm chế Trung Quốc, làm cho Mỹ sa lầy nghiêm trọng trong chiến tranh Việt Nam; nhờ đó, nhanh chóng đuổi kịp, vượt Mỹ, dồn sức tập trung cho khu vực châu Âu và Viễn Đông
3 Ngay sau những tuyên bố cứng rắn của Chính phủ Liên Xô, từ
tháng 3-1965, những chuyến hàng viện đầu tiên đã được gửi đến Việt Nam mà không cần đến những ký kết chính thức Cũng trong tháng 3-1965, phát biểu tại Quảng trường Đỏ nhân dịp Liên Xô phóng thành công tàu vũ trụ Phương Đông -2, L.I Breznierv lên án hành động xâm lược của Mỹ đối với Việt Nam, khẳng định sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quốc tế vô sản với người anh em Việt Nam - đó cũng là lần đầu tiên một vị lãnh đạo cấp cao nhất của Đảng Cộng sản Liên Xô công khai lên án chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam Trong bài phát biểu, L.I Breznierv
đề cập đến những tình nguyện viện Xô viết sẵn sàng đến xứ sở Việt Nam
xa xôi để giúp đỡ những người anh em chống Mỹ Đại sứ Mỹ F.D Kohler
1 Газета Правда, 9 Февраля 1965.
2 Газета Правда, 9 Февраля 1965.
3 Báo Nhân dân, ngày 11-2-1965.
Trang 9tại Liên Xô gọi bài phát biểu của L.I Breznierv là “một vũ khí chính trị, tuyên truyền sắc nhọn hòng làm suy yếu lập trường của Mỹ tại Việt Nam”1 Tháng 5 - 1965, L.I Breznierv một lần nữa khẳng định quan điểm: “Ủng hộ nhân dân Việt Nam đấu tranh chống sự xâm lược của
đế quốc Mỹ là sự nghiệp danh dự, là lợi ích thiết thân của tất cả các dân tộc bảo vệ tự do và độc lập”2 Trong bức thư gửi Hội nghị Hội đồng hòa bình họp ở Helsinki (7 - 1965), A.N Kosygin viết: “Ngày nay nghĩa vụ hàng đầu của các lực lượng yêu chuộng hòa bình là ủng hộ nhân dân Việt Nam anh hùng trong cuộc đấu tranh chính nghĩa và gian khổ chống xâm lược”3 Như vậy, các sự kiện diễn ra sau chuyến thăm của A.N Kosygin tới Hà Nội trùng với dự đoán của L Johnson: “Nếu không cẩn trọng giữ gìn giới hạn mong manh, xung đột Việt Nam sẽ không chỉ còn là vấn đề
ai kiểm soát miền Nam Việt Nam, mà nó sẽ trở thành biểu tượng của cuộc đấu tranh với chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi thế giới”4
Thực hiện mục tiêu đưa miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá, trong Chiến dịch Sấm Rền (Operation Rolling Thunder;1965-1968),
Mỹ đã huy động hàng nghìn máy bay tối tân, thuộc 60 loại khác nhau, trong số đó có hơn 200 máy bay chiến lược B52; máy bay F 111 cùng nhiều loại vũ khí hiện đại khác, huy động một lực lượng hải quân gồm
19 - 39 tàu chiến thường xuyên có mặt ở ven biển Vịnh Bắc Bộ, Thái Bình Dương Quyết giành thắng lợi bằng quân sự, từ tháng 2-1965, Mỹ đẩy nhanh việc đưa quân Mỹ, quân các nước đồng minh của Mỹ vào miền Nam Việt Nam Bên cạnh việc tăng cường hoạt động quân sự, bình định nông thôn, Chính quyền Sài Gòn tăng cường huy động các phe phái, kêu gọi lực lượng các tôn giáo, các đảng phái tập hợp xung quanh chính phủ, đoàn kết để chống lại cộng sản
Đối với Việt Nam, trong bối cảnh mới, đặc biệt là sau chuyến thăm Việt Nam của A.N Kosygin, Việt Nam đứng trước những thuận lợi,
thách thức và nhiệm vụ cấp thiết: Thứ nhất, Việt Nam phải đối diện
với sự leo thang chiến tranh của Mỹ - một cuộc đối đầu chắc chắn là
1 И В Гайдук: Советский Союз и война во Вьетнаме, Указ Соч, C 37.
2,3 Vụ Liên Xô, Bộ Ngoại giao: Về quan hệ Việt - Xô trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước, Tlđd, tr 30.
4 Добрынин Анатолий: Сугубо доверительно, Указ Соч, C 127.
Trang 10hết sức tàn khốc, bởi những mục tiêu mở rộng chiến tranh được cường
quốc quân sự hàng đầu thế giới định trước; thứ hai, Việt Nam cần và
phải dốc toàn lực để trụ vững, đánh bại ý chí xâm lược của Mỹ, làm phá sản các chiến lược chiến tranh, tạo tiền đề vững chắc hoàn thành cuộc
cách mạng giải phóng; thứ ba, tranh thủ sự ủng hộ của các lực lượng
hòa bình, tiến bộ, đặc biệt là Liên Xô, Trung Quốc trong điều kiện mâu
thuẫn Xô - Trung; thứ tư, sự vận động của các mối quan hệ quốc tế,
điều chỉnh chiến lược đối ngoại của các nước lớn, thay đổi so sánh lực lượng trên thế giới tạo cơ hội và khả năng to lớn để Việt Nam kết hợp sức mạnh quốc tế với sức mạnh trong nước
Phân tích tình hình, yêu cầu và khả năng, tháng 3-1965, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tổ chức Hội nghị Trung ương lần thứ 11, cụ thể hóa, bổ sung đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã được xác định tại Đại hội lần thứ III (9-1960) Tại Hội nghị này, Đảng Lao động Việt Nam xác định quan điểm quốc tế là ra sức tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và viện trợ quốc tế, “trước hết là Trung Quốc, Liên Xô, các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa và các nước
Á, Phi và Mỹ latinh”1
Nhằm “tranh thủ sự giúp đỡ về mặt quân sự của các nước anh em tới mức cao nhất, trên cơ sở có lợi cho công cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ”2, tháng 4-1965, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao gồm những tên tuổi quan trọng của Đảng Lao động Việt Nam (Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh) đến Trung Quốc và Liên Xô Chuyến thăm đến Liên Xô đạt được những kết quả to lớn ngoài mong đợi trên nhiều phương diện Hai nước nhất trí “tiến một bước xa hơn, nhằm bảo vệ chủ quyền và an ninh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và triển khai những biện pháp thích hợp nhằm thực hiện mục đích”3 Các thỏa thuận về viện trợ quân sự, về xây dựng các công trình quân sự, về việc gửi các chuyên
gia quân sự Liên Xô đến Việt Nam được ký kết Tuyên bố chung nhân
chuyến thăm phản ánh rõ quan điểm của Liên Xô đối với cuộc kháng
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t 26, tr 110.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t 26, tr 112.
3 Из Вьетнамской истории, trofimovgregory.narod.ru ›vietnamhistory.html