TRÁCH NHIỆM NHÀ NƯỚC VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN VÀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI CỦA THỜI ĐẠI 56 TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TRƢỚC BIẾN ĐỔI CỦA THỜI ĐẠI GS TSKH Lê Cảm (Giám đốc Trung tâm Luật hình sự và Tội phạm học của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) & CN Vũ Đình Hoàng (Khoa Luật ĐHQGHN) Tóm tắt Bài viết đề cập đến việc phân tích khoa học những vấn đề lý luận, lập pháp hình sự (LPHS) của các quy phạm về đến trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với ph[.]
Trang 1TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN TRONG LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM TRƯỚC BIẾN ĐỔI CỦA THỜI ĐẠI
GS.TSKH Lê Cảm (Giám đốc Trung tâm Luật hình sự và Tội phạm học của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội) & CN Vũ Đình Hoàng (Khoa Luật-ĐHQGHN)
Tóm tắt: Bài viết đề cập đến việc phân tích khoa học những vấn đề lý luận, lập pháp
hình sự (LPHS) của các quy phạm về đến trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với pháp nhân thương mại (PNTM) phạm tội trong pháp luật hình sự (BLHS) Việt Nam hiện hành trước những biến đổi của thơi đại và thông qua đó, chỉ rõ những bất cập trong thực tiễn áp dụng các quy phạm này và những bất cập và nguyên nhân của nó, đồng thời đưa ra định hướng để khắc phục những bất cập này bằng việc tiếp tục hoàn thiện một số quy phạm có liên quan đến TNHS của PNTM trong BLHS tương lai sau pháp điển hóa lần thứ tư
Từ khóa: 1) Các luận điểm về TNHS của pháp nhân phạm tội; 2) TNHS của PNTM phạm
tội trong LPHS; 3) Chủ thể phạm tội; 4) Chủ thể của TNHS; 5) Liên đới trong việc phạm tội
I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Trong giai đoạn cải cải tư pháp (CCTP), xây dựng Nhà nước pháp quyền (NNPQ)
Việt Nam và đặc biệt là trước các biến đổi của thời đại hiện nay, việc nghiên cứu các những
vấn đề lý luận trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp nhân trong khoa học luật hình sự nước
nhà có ý nghĩa rất quan trọng trên 03 bình diện (lập pháp, lý luận và thực tiễn) sau đây:
1.1 Về mặt lập pháp, Chương XI "Những quy định về trách nhiệm hình sự của pháp
nhân thương mại phạm tội" và một số các quy phạm khác có liên quan đến pháp nhân thương
mại (PNTM) trong Phần thứ nhất "Những quy định chung" (sau đây gọi ngắn gọn là Phần
chung) Bộ luật hình sự (BLHS) Việt nam năm 2015 còn có một số điểm bất cập nhất định,
song về cơ bản có thể tạm coi đây là một thắng lợi của các nhà hình sự học Việt Nam theo xu
hướng ủng hộ cho việc ghi nhận về mặt lập pháp hình sự (LPHS) chế định TNHS của pháp
nhân, đặc biệt là đối với đại đa số các tác giả trong Tổ biên tập (TBT) BLHS năm 2015 thuộc
Bộ Tư pháp (vì ngay từ khi thông qua BLHS năm 1999 trước đây thì chính TBT BLHS năm
1999 thuộc Bộ Tư pháp cũng đã muốn như vậy nhưng tại thời điểm đó vì nhiều lý do khác
nhau nên mong muốn này chưa đạt được) Hiện nay, vấn đề khó khăn nhất về mặt lập pháp
được đặt ra theo chúng tôi là: 1) Dưới góc độ pháp luật tố tụng hình sự (PLTTHS) thì PNTM
sẽ bị truy cứu TNHS như thế nào đây (?), vì theo thông lệ đã được thừa nhận chung ─ khi giải
quyết vấn đề TNHS của đối tượng nào đó thì luật nội dung (PLHS) phải có quy định trước đã, rồi sau đó mới quy định việc truy cứu TNHS đối tượng đó theo luật hình thức (PLTTHS); 2)
Vậy mà ở chúng ta thì ngược lại, BLTTHS năm 2015 đã ghi nhận 01 Chương XXIV riêng biệt
"Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự pháp nhân" gồm 16 điều (431-446) rồi (đồng thời
sau 02 từ "pháp nhân " trong BLTTHS năm 2015 không có 02 từ "thương mại" như trong
BLHS); 3) Tiếp theo sau đó, BLHS năm 2015 đã bị lùi hiệu lực thi hành để sửa đổi-bổ sung
Trang 2(SĐBS) lần thứ nhất đến tận tháng 6/2017 trong khi đó Chương XXIV BLTTHS năm 2015 thì
lại vẫn giữ nguyên không có gì thay đổi (!)
1.2 Về mặt lý luận, mặc dù chỉ mới được ghi nhận trong BLHS năm 2015 và BLTTHS
năm 2015 mới có vài năm nay (nếu tính từ ngày 27/11/2015 là ngày đầu tiên thông qua cả 02
Bộ luật này) nhưng thực tế là, việc nghiên cứu những vấn đề TNHS củapháp nhân (nói chung)
trong khoa học luật hình sự Việt Nam đã được bắt đầu từ 02 thập kỷ qua (thậm chí ngay từ thời
điểm vài năm trước khi thông qua BLHS năm 1999) và cho đến hôm nay thì đã có nhiều công
trình đề cập dưới góc độ luật hình sự đến những vấn đề khác nhau về chế định TNHS của pháp
nhân nói chung và của PNTM nói riêng(66) Đặc biệt là các nghiên cứu gần đây nhất của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa, một trong những nhà khoa học-luật gia hình sự học hàng đầu Việt Nam đương đại(67)
- với sự phân tích rất xác đáng và nhiều thông tin phong phú về một loạt vấn đề liên
quan đến chế định TNHS của pháp nhân trong PLHS một số quốc gia trên thế giới (nói
chung) và của PNTM trong BLHS Việt Nam năm 2015 (nói riêng)
1.3 Và cuối cùng, về mặt thực tiễn, mặc dù được ghi nhận trong cả 02 chuyên ngành
PLHS và PLTTHS thực định chưa đầy 05 năm và BLHS năm 2015 (SĐBS năm 2017) đã được
áp dụng trong thực tiễn cũng đã gần 02 năm qua (kể từ khi có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2018) vậy mà cho đến nay các cơ quan bảo vệ pháp luật (BVPL) và Tòa án trên cả nước
ta vẫn chưa thể truy cứu TNHS được bất kỳ 01 PNTM nào (!) vì cũng vẫn còn đang lúng túng
trước một số khóa khăn nhất định Tại sao vậy (?) Đây chính là câu hỏi được đặt ra từ thực tiễn
bắt buộc chúng ta cần phải nhìn lại vấn đề TNHS của pháp nhân dưới cả 02 góc độ (lý luận và
LPHS) để tìm ra nguyên nhân chính xác mà có câu trả lời một cách hỏa đáng, tức là để tìm ra cách khắc phục nguyên nhân đó (!)
(66)
Xem cụ thể hơn: Chẳng hạn như, Phạm Hồng Hải Pháp nhân có thể là chủ thể của tội phạm hay không ? ─ Tạp chí Luật học, số 6/1999; Lê Cảm Trách nhiệm hình sự của pháp nhân: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ─ Tạp chí Toà án nhân dân (TAND), số 3/2000, tr.8-13; Lê Văn Cảm Mục IV.Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thuộc Chương thứ sáu "Trách nhiệm hình sự" ─ Trong Sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung) NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005 tr.640-655; Trần Văn Độ Các học thuyết về cơ sở trách nhiệm hình sự của pháp nhân ─ Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6/2011; Trịnh Quốc Toản.Trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong luật hình
sự NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2011; Nguyễn Ngọc Hòa Trách nhiệm hình sự của chủ thể là tổ chức với việc sửa đổi Bộ luật hình sự ─ Tạp chí Luật học, số 6/2011; Hoàng Hải Yến Một số vấn đề về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân ─ Tạp chí Kiểm sát, số 4/2014; Nguyễn Ngọc Hòa &Trịnh Quốc Toản Chủ thể của trách nhiệm hình sự - giới hạn
là cá nhân hay bao gồm cả tổ chức ─ Trong sách: Nguyễn Ngọc Hòa (Chủ biên) và một số tác giả khác Sửa đổi Bộ luật hình sự - Những nhận thức cần thay đổi NXB Tư pháp, 2015, tr 4-110; Đào Trí Úc Vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Bộ luật hình sự ─ Tạp chí Tạp chí Nhà nước và pháp luật,, số 3/2015; Hoàng Trí Ngọc Một số vấn đề
lý luận về trách nhiệm hình sự của pháp nhân ─Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp (NCLP), số 12/2015; Đinh Hoàng Quang Vấn đề quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân trong Bộ luật hình sự Việt Nam ─ Tạp chí Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2/2016; Nguyễn Văn Hương Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại theo Bộ luật hình sự
năm 2015.─Tạp chí Luật học, số 2/2016; v.v
(67)
Xem cụ thể hơn:Nguyễn Ngọc Hòa Khái niệm tội phạm và việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại
trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 ─ Tạp chí Luật học, số 2/2016, tr.3-13
(68) 09 chế định lớn đã được thừa nhận chung của hệ thống PLHS khoa học và khả thi đã được thừ nhận chung lần lượt là: 1) Đạo luật hình sự → 2) Tội phạm → 3) Những trường hợp loại trừ tính tội phạm của hành vi → 4) Trách nhiệm hình sự (TNHS) → 5) Các biện pháp cưỡng chế hình sự (thep PLHS nước ta gồm là hình phạt và biện pháp tư pháp) → 6) Quyết định hình phạt → 7) Các biện pháp tha miễn → 8) TNHS của người chưa thành niên phạm tội, và → 9) TNHS của pháp nhân phạm tội
Trang 32 Như vậy, từ tất cả sự phân tích trên đây đã cho thấy, việc nhận thức khoa học đúng
đắn và chính xác những vấn đề đã nêu sẽ hỗ trợ tích cực và đáng kể không chỉ cho định hướng
tiếp tục hoàn thiện các quy phạm về TNHS của PNTM trong PLHS Việt Nam tương lai một
cách khoa học và bảo đảm sức thuyết phục, mà còn cho việc áp dụng đúng đắn và có hiệu quả
các quy phạm về chế định lớn thứ chín này(68)
của PLHS nước nhà trong thực tiễn điều tra, truy
tố và xét xử các vụ án hình sự nhằm bảo đảm cho việc truy cứu TNHS đối với PNTM được
chính xác, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan PNTM chấp hành đúng pháp luật và nhất là có nhiều hoạt động từ thiện vì lợi ích chung của cộng đồng
3 Tuy nhiên, do sự hạn chế của phạm vi chỉ 01 bài báo khoa học tại Hội thảo, trong khi
đó phạm vi nghiên cứu của những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu lại quá rộng lớn nên ở đây chúng tôi chỉ có thể đề cập đến những vấn đề nào mà theo quan điểm của chúng tôi là cơ bản và
quan trọng hơn cả; chính vì vậy, sẽ là hợp lý khi hệ thống những vấn đề được phân tích khoa học
trong bài viết này được sắp xếp tại Mục II "NỘI DUNG VẤN ĐỀ" tương ứng theo bốn (03) Mục
(§) nhỏ như sau: §1 Các luận điểm về TNHS của pháp nhân trong lý luận luật hình sự Việt Nam; §2 Kỹ thuật lập pháp (KTKP) của các quy phạm về TNHS đối với PNTM phạm tội trong lập pháp hình sự hiện hành, bất cập trong thực tiễn áp dụng và nguyên nhân và; §3
Định hướng khắc phục bất cập của KTLP trong BLHS năm 2015 để bảo đảm hiệu quả áp dụng các quy phạm TNHS của PNTM phạm tội trong thực tiễn
II NỘI DUNG VẤN ĐỀ
§1 Các luận điểm về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong lý luận luật hình
sự Việt Nam
1 Trong giai đoạn 10 năm cuối thập kỷ 90 trước khi thông qua BLHS năm 1999 Về
mặt khoa học, việc khảo cứu sách báo pháp lý hình sự Việt Nam ngay từ cuối những năm 90
của thế kỷ XX cho tận hôm nay đã cho thấy đã có nhiều quan điểm về mặt lý luận khác nhau cho sự điều chỉnh về mặt lập pháp chế định TNHS của pháp nhân đã bắt đầu xuất hiện
1.1 Đầu tiên đó là những luận chứng của các tác giả ủng hộ cho việc ghi nhận chế định
TNHS của pháp nhân như ― chỉ nên đặt vấn đề truy cứu TNHS đối với một số loại pháp nhân kinh tế như doanh nghiệp, công ty Đây là loại trách nhiệm đồng thời (pháp nhân và thể nhân đều phải chịu trách nhiệm hình sự về cùng một hành vi phạm tội)‖ (Viện NCKH pháp lý-Bộ Tư pháp) Trước đó, những kiến giải lập pháp (KGLP) cụ thể của các tác giả này về vấn đề TNHS
của pháp nhân đã được đưa ra trong Dự thảo BLHS năm 1999 (sửa đổi) lần thứ X (tháng 3/1998) tại quy định của Điều 2 ―Cơ sở của trách nhiệm hình sự‖ với nội dung như sau: ―Cơ
quan, tổ chức, đơn vị (sau đây gọi chung là tổ chức) phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội do đại diện của mình thực hiện vì lợi ích của tổ chức đó‖ (khoản 2) Cần lưu ý là tại
khoản 1 Điều 2 cũng của Dự thảo này là quy phạm đề cập đến vấn đề TNHS của thể nhân(69)
(69)
Xem cụ thể hơn: Lê Văn Cảm Mục IV "Trách nhiệm hình sự của pháp nhân" Chương sáu "Trách nhiệm hình sự" ─ Trong
SCK Sau đại học: Những vấn đề cơ bản về Phần chung luật hình sự NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005, tr 646-647
tr.14-17
Trang 41.2 Đến cuối thế kỷ XX trong một bài viết đăng trên Tạp chí Luật học trên cơ sở ―vụ
án hình sự‖ xảy ở xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm (TP Hà Nội), Luật sư Việt Nam nổi tiếng,
PGS.TS Phạm Hồng Hải đã đưa ra những luận điểm coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm
khi người đại diện của pháp nhân ―thực hiện nghĩa vụ hoặc nhiệm vụ của pháp nhân, thì ý chí
và hành vi của họ được coi là ý chí và hành vi của pháp nhân‖(70)
2 Từ sau khi thông qua BLHS năm 2015 (ngày 27/11/2015) đến nay, thì như đã nêu trên
─ có rất nhiều bài viết của các luật gia nước ta đề cập đến đến việc bình luận xung quanh chế
định TNHS của PNTM trong BLHS Việt Nam năm 2015 nhưng do phạm vi và nhiệm vụ của nghiên cứu này của chúng tôi (như đã nêu trên) không phải là đi sâu vào việc phân tích các luận điểm trong từng bài viết đó Tuy nhiên, có lẽ các nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa là
sâu sắc và bảo đảm sức thuyết phục hơn cả, đặc biệt chúng tôi hoàn toàn đồng nhất với các luận
điểm của GS Hòa khi đưa những kết luận hoàn toàn đúng đắn, rất khoa học và bảo đảm sức
thuyết phục rằng(71): 1) Khái niệm tội phạm không có gì thay đổi khi bổ sung TNHS của chủ thể
không phải là cá nhân (mà là pháp nhân, đơn vị hay doanh nghiệp); 2) Vì việc bổ sung này chẳng qua chỉ là sự mở rộng phạm vi chủ thể phải chịu TNHS về tội phạm đã xảy ra, tức không
chỉ còn là cá nhân người phạm tội nữa, mà còn có thể cả pháp nhân/đơn vị/doanh nghiệp; 3)
Chính vì vậy, khái niệm tội phạm về mặt lập pháp và các chế định nhỏ khác thuộc chế định lớn
về tội phạm (như đồng phạm, lỗi, các giai đoạn thực hiện tội phạm) cũng không bị quy định về TNHS của pháp nhân/đơn vị/doanh nghiệp làm thay đổi
§2 Kỹ thuật lập pháp của các quy phạm về TNHS đối với PNTM phạm tội trong LPHS hiện hành, những bất cập trong thực tiễn áp dụng và các nguyên nhân
Việc phân tích khoa học dưới góc độ kỹ thuật lập pháp (KTLP) của các quy định về
PNTM mại phạm tội được ghi nhận trong Chương XI thuộc Phần chung BLHS năm 2015 với
15 điều (từ Điều 74 đến Điều 89) cho phép đưa ra một số nhận xét chung dưới đây
1 Vì cũng là một chủ thể đặc biệt (thứ 3) phải chịu TNHS nhưng có những điểm khác
với TNHS của 02 chủ thể TNHS kia ─ người lớn phạm tội (thứ 1) và người chưa thành niên
(NCTN) phạm tội (thứ 2), nhưng rất tiếc là Chương XI vẫn còn thiếu nhiều quy định về TNHS của chủ thể thứ 3 này (PNTM) mà 01 trong các nguyên nhân cơ bản và quan trọng
nhất là vì BLHS năm 2015 chưa có các điều luật riêng biệt đề cập đến việc: 1) Giải thích các
thuật ngữ trong BLHS vì nếu như có sự giải thích này thì sẽ có lợi ích là làm rõ được rất
nhiều phạm trù quan trọng được ghi nhận trong BLHS (như "Chủ thể" là gì ? "Chủ thể phạm
tội" là gì ?, "Chủ thể của TNHS" là gì ?, v.v ); 2) Khẳng định về mặt lập pháp sự phân định
rõ ràng ─ 03 hệ thống các hình phạt, các biện pháp tư pháp (BPTP) hình sự và việc quyết
định hình phạt (QĐHP) được áp dụng riêng đối với mỗi trong 03 chủ thể phạm tội đã nêu
(71)
Xem cụ thể hơn:Nguyễn Ngọc Hòa Khái niệm tội phạm và việc quy định (Tài liệu đã dẫn) ─ Tạp chí Luật học, số
2/2016, tr.5-11
(Phần chung) NXB Tư pháp Hà Nội, 2017, tr.17-18.
Trang 52 Đặc biệt, KTLP trong việc ghi nhận về nội hàm của các quy phạm tại các khoản "a"
Điều 75 BLHS năm 2015 chính là minh chứng rõ ràng nhất về việc PNTM không phải là chủ
thể của tội phạm mà chỉ có thể là chủ thể của TNHS Bởi lẽ, bằng thuật ngữ "được thực hiện nhân danh PNTM" ở đoạn cuối của quy phạm tại khoản "a" đã cho thấy phải có 01 chủ thể nào đó (mà chắc chắn phải là cá nhân chứ không thể có pháp nhân nào cả) đã "nhân danh" PNTM để phạm tội Và chính vấn đề này đã được khẳng định một cách xác đáng bởi luận
điểm của GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa là: "Pháp nhân thương mại không thể là chủ thể của thực
hiện tội phạm mà chỉ có thể là chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm do cá nhân (người) thực hiện Do vậy, chỉ có thể có pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự
mà không có pháp nhân thương mại phạm tội theo đúng nghĩa"(72)
3 Việc ghi nhận các quy phạm về hình phạt và BPTM đối với PNTM vẫn còn phi
khoa học và thiếu có tính logic khi chưa tập trung gọn trong cùng 01 Chương đề cập riêng về
TNHS của PNTM mà còn bị ghi nhận rải rác tại các chương khác nhau), cụ thể là: 1) Việc liệt
kê tên gọi của các hình phạt đối với PNTM thì tại Chương VI (Điều 33) nhưng nội hàm cụ thể
của từng hình phạt thì tại Chương XI (các điều 77-81) và tương tự như vậy; 2) Việc liệt kê tên
gọi của các biện pháp tha miễn (BPTM) đối với PNTM thì được quy định tại Chương VII
(khoản 2 Điều 48), trong khi đó việc áp dụng và nội hàm cụ thể của từng BPTP thì lại ─ tại
Chương XI (Điều 82)
4 Vẫn còn thiếu nhiều quy phạm về các BPTM đối với PNTM phạm tội (và) bị kết án
(vì BLHS năm 2015 mới chỉ ghi nhận vẻn vẹn có 02 quy phạm về 1) miễn hình phạt và 2) xóa
án tích dành riêng cho PNTM tại các điều 88-89)
5 Về KTLP của các quy phạm tại Điều 1 BLHS năm 2015 cho thấy, Điều luật này cần
phải sớm được SĐBS vì vẫn còn tồn tại 02 nhược điểm lớn và cơ bản là:
5.1 Suốt mấy thập kỷ vừa qua (kể từ khi ban hành BLHS năm 1985, rồi qua BLHS năm
1999 và cho đến tận hôm nay là BLHS năm 2015) PLHS thực định của Việt Nam vẫn chưa
khắc phục được như: thiếu sự nhất quán về mặt logic pháp lý, chưa chặt chẽ về mặt cấu trúc,
không chính xác về mặt khoa học, vì thật ra các khách thể loại mà BLHS có nhiệm vụ phải bảo
vệ được nêu tại Điều 1, cũng như bị tội phạm xâm hại đến được nêu tại Điều 8 của cả 03 BLHS
(năm 1985, 1999 và 2015) chưa bao giờ được ghi nhận trùng khít với nhau vì các khách thể
loại tại Điều 1 thuộc Phần chung tuy được liệt kê rất dài dòng nhưng vẫn còn thiếu nhiều
khách thể loại khác (như: môi trường, "chế độ kinh tế, hòa bình và an ninh của nhân loại" (vì
mặc dù trong Phần riêng BLHS năm 1985 các khách thể loại này vẫn được bảo vệ bằng các
quy phạm PLHS)
5.2 Đặc biệt quan trọng là mặc dù nhà làm luật đã quy định trong BLHS năm 2015 hẳn
một Chương XI riêng biệt về những vấn đề TNHS của PNTM phạm tội, nhưng trong phạm vi
nhiệm vụ của Bộ luật đó vẫn hoàn toàn thiếu nhóm khách thể loại này mà PLHS Việt Nam có
nhiệm vụ phải bảo vệ (vậy mà trong lần SĐBS năm 2017 nhược điểm này vẫn chưa được khắc
Trang 6
phục mà lẽ ra cần phải bổ sung thêm vào các khách thể nêu tại Điều 1 BLHS năm 2015 là "các
lợi ích kinh doanh hợp pháp của PNTM"
6 Về KTLP của các quy phạm tại Điều 2 BLHS năm 2015 Như trên đã nói ─ PNTM là
một thực thể pháp lý hoàn toàn khác với con người (một thực thể sinh học) lý do là vì pháp
nhân không có cấu tạo bằng xương, bằng thịt, không có mặt, mũi, chân, tay, bộ óc để suy nghĩa, tính toán, v.v ) và do vậy, PNTM không thể suy nghĩ và tính toán như con người (thể nhân)
được, mà PNTM chỉ có thể phải liên đới chịu TNHS cùng với cá nhân vì đã để cho cá nhân đó
(có thể là người đại diện, thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban giám đốc hoặc bất kỳ người được ủy quyền nào của pháp nhân ấy) phạm tội nên thiết nghĩ, trong tương lai khi tiếp
tục hoàn thiện hơn nữa PLHS Việt Nam chúng ta cần bổ sung vào quy phạm tại khoản 2 Điều 2
"Cơ sở của trách nhiệm hình sự" BLHS năm 2015 quy phạm có nội hàm như sau: "Chỉ PNTM nào để cho người đại diện của mình " (phần tiếp theo giữ nguyên như khoản 2 Điều 2 BLHS
năm 2015)
7 Về KTLP của các quy phạm tại Điều 8 BLHS năm 2015 cho thấy, khi ghi nhận tội
phạm do 02 chủ thể TNHS khác nhau (cá nhân và PNTM ) phải chịu TNHS đối với việc thực hiện
tội phạm nhưng rất tiếc là chúng (02 chủ thể đã nêu) lại được ghi nhận chỉ bằng 01 quy phạm duy
nhất với các dấu hiệu chung ─ "thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý" và cùng xâm hại đến các khách
thể loại giống nhau như "độc lập, chủ quyền, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc
trật tự pháp luật XHCN" (như đã liệt kê tại khoản 1), mặc dù 2 chủ thể TNHS này mang các đặc điểm hoàn toàn khác nhau rõ ràng là phi khoa học và chưa chặt chẽ về mặt KTLP Bởi lẽ, cách ghi
nhận như vậy hoàn toàn mâu thuẫn ở chỗ:
7.1 Cá nhân (thể nhân) ─ con người cụ thể với tư cách là thực thể sinh học (bằng xương
bằng thịt với mặt mũi, chân, tay, bộ óc, v.v ) và nếu là cá nhân này có năng lực TNHS thì vì có
trí tuệ bình thường, biết suy nghĩ và tính toán khi thực hiện hành vi (có lỗi "cố ý hoặc vô ý") là
đúng, nhưng liệu PNTM ─ một thực thể pháp lý hoàn toàn khác với con người (do không có cấu
tạo bằng xương, bằng thịt, không có mặt, mũi, chân, tay, bộ óc, v.v ) thì liệu có suy nghĩ và tính toán được hay không (?) và như vậy thì có lỗi không mà BLHS năm 2015 lại quy định nó
(PNTM) "thực hiện " tội phạm và gộp chung dấu hiệu llỗi (cố ý hoặc vô ý) với cá nhân (?)
7.2 Ngoại trừ 03 nhóm khách thể loại là "trật tự quản lý kinh tế" (QLKT) "môi trường"
và "trật tự công cộng" ra (vì theo khoản 2 Điều 2 "Cơ sở của TNHS" trong BLHS năm 2015 thì
"chỉ pháp nhân thương mại nào tại Điều 76 mới phải chịu TNHS"), thì liệu hành vi phạm tội của "pháp nhân thương mại" có thể xâm hại đến một loạt các khách thể loại khác đã được BLHS năm 2015 liệt kê tại khoản 1 Điều 8 là "độc lập, chủ quyền, chế độ chính trị, nền văn
hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, những lĩnh vực khác cúa trật tự pháp luật XHCN" như "cá nhân" hay không (?) mà lại khiên cưỡng gộp khái niệm tội phạm do pháp nhân
thực hiện vào cùng chung với khái niệm tội phạm do cá nhân thực hiện được (?)
7.3 Trong khi đó, rõ ràng là theo Điều 76 BLHS năm 2015 thì phạm vi chịu TNHS của
PNTM được nhà làm luật quy định chỉ đối với 33 cấu thành tội phạm (CTTP) tương ứng tại 33 điều của 03/15 chương thuộc Phần các tội phạm, đó là: 1) Chương XVIII "Các tội xâm phạm
Trang 7trật tự quản lý kinh tế" (21 CTTP); 2) Chương XIX "Các tội phạm về môi trường" (11 CTTP)
và Chương XXI "Các tội xâm phạm an tòn công cộng, trật tự công công" (02 CTTP) trong Bộ
luật đó ─ chỉ có 03 nhóm (chứ không phải tất cả các nhóm) quan hệ xã hội (QHXH) với tư cách
là các khách thể loại được BLHS ghi nhận tại khoản 1 Điều 8 mà cá nhân có thể xâm hại đến !) Vậy nhưng rất kỳ lạ là không hiểu KTLP "kiểu gì" mà người ta lại đặt nó (PNTM) ngang hàng với cá nhân trong cùng một khoản 1 Điều 8 của BLHS năm 2015 (?)
8 Việc ghi nhận các quy phạm về hình phạt và các BPTM đối với PNTM vẫn còn phi
khoa học và thiếu tính logic khi chưa tập trung gọn trong cùng 01 Chương đề cập riêng về
TNHS của PNTM (mà còn bị ghi nhận rải rác tại các chương khác nhau), mà cụ thể là: 1) Việc
liệt kê tên gọi của các hình phạt đối với PNTM thì được quy định tại Chương VI (Điều 33)
nhưng nội hàm cụ thể của từng hình phạt thì lại bỏ qua 04 chương khác và được quy định ở tận Chương XI (các điều 77-81) và tương tự như vậy; 2) Việc liệt kê tên gọi của các BPTP đối với PNTM thì tại Chương VII (khoản 2 Điều 46) nhưng việc áp dụng và nội hàm cụ thể
của từng BPTP thì đi qua 03 chương và cuối cùng mới gi nhận tại Chương XI (Điều 82)
9 BLHS năm 20125 vẫn còn thiếu nhiều quy phạm về các BPTM đối với PNTM
phạm tội (và) bị kết án (vì BLHS năm 2015 mới chỉ ghi nhận vẻn vẹn có 02 quy phạm về 1) miễn hình phạt và 2) xóa án tích dành riêng cho PNTM tại các điều 88-89) Và chính hạn chế
này lại một lần nữa là minh chứng xác đáng về sự cần thiết của BLHS Việt Nam trong tương
lai cần có Điều luật đầu tiên để giải thích một số thuật ngữ chủ yếu như: "chủ thể", "chủ thể
phạm tội", "chủ thể TNHS", "chủ thể bị kết án", v.v là gì (?) nhằm nhân đạo hóa hơn PLHS
nước nhà, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan BVPL và Tòa án trong thực tiễn
áp dụng PLHS
10 Như vậy, việc phân tích khoa học nội hàm các quy định về PNTM mại phạm tội
được ghi nhận tại Chương XI thuộc Phần chung BLHS năm 2015 với 16 điều (từ Điều 74 đến
Điều 89) dưới khía cạnh KTLP cho thấy như sau: Tuy cũng là 01 chủ thể của TNHS nhưng
TNHS của chủ thế thứ 3 (PNTM) có các đặc điểm khác với TNHS của 02 chủ thể kia ─ người
lớn phạm tội (chủ thể thứ 1) và người dưới 18 tưổi (tức nguiời NCTN) phạm tội (chủ thể thứ
2), nhưng rất tiếc là Chương XI vẫn còn thiếu nhiều quy
định liên quan đến TNHS của chủ thể thứ 3 (PNTM) mà một trong các nguyên nhân
cơ bản và quan trọng nhất là vì BLHS năm 2015 chưa có các điều luật riêng biệt đề cập đến
việc: 1) Giải thích các thuật ngữ trong BLHS vì nếu như có sự giải thích này thì sẽ có lợi ích
là làm rõ được rất nhiều phạm trù quan trọng được ghi nhận trong BLHS (như "Chủ thể phạm
tội" là gì ?, "Chủ thể của TNHS" là gì ?, v.v ); 2) Khẳng định về mặt lập pháp sự phân định
rõ ràng 03 hệ thống ─ các hình phạt (1), các biện pháp tư pháp-BPTP (2) và việc quyết định
hình phạt-QĐHP (3) được áp dụng đối với 03 chủ thể riêng biệt của TNHS ─ người lớn phạm tội (1), NCTN phạm tội (2) và PNTM đã có sự liên đới trong việc phạm tội (3)
11 Những bất cập trong thực tiễn áp dụng các quy phạm của LPHS hiện hành (tức
BLHS năm 2015) về TNHS của PNTM phạm tội và các nguyên nhân Khi phân tích thực tiễn
này chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy logic là:
Trang 811.1 Suốt gần 02 năm qua (kể từ ngày 01/01/2018 đến nay) các cơ quan bảo vệ pháp
luật (BVPL) và Tòa án trên cả nước vẫn chưa thể truy cứu được TNHS bất kỳ một PNTM nào
(!) Tại sao vậy (?) và các nguyên nhân là ở đâu (?).→
11.2 Trước hết, có thể khẳng định đó chính là vì nguyên nhân sau đây ─ trong giai đoạn
đương đại ở Việt Nam hiện nay khi trình độ pháp luật cúa các luật sư nước ta đã được hoàn
thiện và cao hơn trước đây rất nhiều nên chắc chắn là họ cũng đã rất dễ dàng nhận thấy thiếu sót
rõ rệt về KTLP của việc ghi nhận các quy phạm về TNHS của PNTM phạm tội mà chúng tôi đã
nêu trên (nhất là tại các điều 1 và 8 của BLHS năm 2015) Do đó, các luật sư sẽ rất dễ dàng
tranh tụng, lập luận và chiến thắng về mặt pháp lý trước các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT)
Vì nếu các cơ quan THTT buộc tội PNTM nào đó phạm tội, thì các luật sư sẽ căn cứ vào từng
câu, từng chữ trong BLHS năm 2015 để lập luận và bắt bẻ rằng: BLHS năm 2015 quy định là
"PNTM phạm tội" (chứ không quy định là "người đại diện hay người lãnh đạo nào của PNTM
phạm tội") mặc dù trên thực tế chủ thể phạm tội này có thể chính là 01 thành viên Hội đồng
quản trị, thành viên Ban Giám đốc, Kế toán trưởng hay bất kỳ người được ủy quyền nào đó của PNTM tương ứng, chứ PNTM là 01 thực thể pháp lý (như đã nói trên) thì đâu có thể phạm tội
được (!).→
11.3 Và chính vì KTLP như đã nêu trên của BLHS năm 2015 hiện hành nên sẽ và đã
đưa đến kết quả mà chúng ta đã chứng kiến nhiều qua ti vi, báo chí và các phương tiện thông tin
đại chúng ─ trong giai đoạn hiện nay đối với các vụ án do PNTM "phạm tội" thì các cơ quan THTT nước ta mới chỉ có thể truy cứu được TNHS đối với cá nhân, chứ hiện tại vẫn chưa và
không thể nào làm gì được đối với PNTM tương ứng trong vụ án (nếu như Việt Nam không có
sự SĐBS nhanh chóng và ngay lập tức các quy định có liên quan trong PLHS hiện hành) Vì rõ ràng là với quy định như hiện nay trong BLHS năm 2015 và một khi PNTM không có bộ não,
mắt mũi và chân tay thì làm sao nó có thể "phạm tội" như cá nhân (con người cụ thể) được (!)
và 01 PNTM nào đó chỉ có thể phải chịu TNHS nếu các cơ quan THTT chứng minh được một cách thuyết phục rằng: PMTM đó đã có sự liên đới trong việc để cho cá nhân với đầy đủ những
điều kiện nêu tại khoản 1 Điều 75 BLHS năm 2015) thực hiện tội phạm.do PLHS quy định,
nhưng lại rất tiếc là ngay cả nhóm thuật ngữ với ý tưởng "đã có sự liên đới trong việc để cho cá
nhân" cũng lại chưa được ghi nhận trong PLHS Việt Nam hiện hành (!!!)
11.4 Trong khi đó, rất tiếc là BLHS Việt Nam năm 2015 hiện hành lại vẫn chưa hề quy
định như trên (PNTM "đã có sự liên đới trong việc để cho cá nhân với đầy đủ những điều kiện
nêu tại khoản 1 Điều 75 BLHS năm 2015 thực hiện tội phạm") và chính vì lý do đó nên hiện
nay các cơ quan THTT chưa thể buộc PNTM phải chịu TNHS được và chính vì vậy mà, thực tiễn gần 02 năm qua vẫn chưa truy cứu được TNHS đối với PNTM
Nào, kể cả PNTM trong nước và PNTM nước ngoài làm ăn tại nước ta (!)
§3 Định hướng khắc phục bất cập của KTLP trong BPHS năm 2015 để bảo đảm hiệu quả áp dụng các quy phạm về TNHS của PNTM phạm tội trong thực tiễn
Từ các luận điểm dã được phân tích trên đây cho thấy, định hướng khắc phục bất cập
Trang 9của KTLP trong BLHS năm 2015 để đảm bảo hiệu quả áp dụng các quy phạm về TNHS của
PNTM phạm tội trong thực tiễn có thể được triển khai theo các hướng dưới đây:
1 Cần quy định về mặt LPHS trong BLHS Việt Nam tương lai 01 Điều luật ghi nhận sự
giải thích chính thức của nhà làm luật (giống như trong BLTTHS năm 2015) về một số thuật ngữ
(phạm trù) dưới dạng các mục từ mà ở các mức độ khác nhau có liên quan đến TNHS của PNTM
phạm tội mà trước mắt theo chúng tôi, ít nhất là phải có 04 mục từ với các ý tưởng như sau:
1.1 “Chủ thể của tội phạm” là người đã cố ý hoặc vô ý trong việc trực tiếp thực hiện
tội phạm hoặc/và tham gia vào việc thực hiện tội phạm do BLHS quy định
1.2 “Chủ thể của trách nhiệm hình sự ” là:
a) Người đã cố ý hoặc vô ý trong việc trực tiếp phạm tội hoặc/và tham gia vào việc phạm tội nên bị truy cứu TNHS
b) PNTM đã có sự liên đới trong việc để cho người đại diện hoặc người
được ủy quyền của mình thực hiện tội phạm vì lợi ích của mình và với sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của mình nên phải chịu (bị truy cứu) TNHS cùng với người phạm tội
1.3 “Pháp nhân phạm tội” ─ PNTM đã liên đới để cho người đại diện hoặc/và người
được ủy quyền nhân danh mình, vì lợi ích của mình và với sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp
thuận của mình thực hiện tội phạm do Bộ luật này quy định
1.4 “Pháp nhân chịu trách nhiệm hình sự” ─ PNTM vì đã liên đới để cho người đại
diện hoặc/và người được ủy quyền nhân danh mình, vì lợi ích của mình và với sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của mình thực hiện tội phạm do Bộ luật này quy định nên bị xử lý
về hình sự
2 Như vậy, nếu xét trên bình diện chủ quan thì tội phạm chính là hành vi được thể hiện trên 03 góc độ chủ yếu sau ─ do người có năng lực TNHS (1) và đủ tuổi chịu TNHS (2)
thực hiện một cách có lỗi (3) Đặc biệt, với việc thông qua BLHS năm 2015 thì khi bàn về bình diện chủ quan cần lưu ý rằng, vì lần đầu tiên trong PLHS Việt Nam hiện hành có ghi nhận vấn đề TNHS của PNTM nên ở đây các cơ quan THTT cần phải có nhận thức khoa học
thống nhất và phải đặc biệt lưu ý phân biệt một cách rõ ràng và dứt khóa 03 trường hợp phạm
tội nhưng với nhiều tình tiết rất phức tạp dưới đây để bảo đảm truy cứu TNHS một cách chính xác thì mới có thể đạt được phương châm "đúng tội, đúng người và đúng pháp luật",
"không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội":
2.1 Trường hợp phạm tội thứ nhất ─ đối với đa số hầu hết các cấu thành tội phạm
(CTTP) trong BLHS năm 2015 thì chủ thể cúa tội phạm và đồng thời là chủ thể của TNHS chỉ
có 01 loại chủ thể duy nhất và đó chính là cá nhân người phạm tội (mặc dù hình thức phạm
tội có thể là đơn lé hay đồng phạm)
2.2 Trường hợp phạm tội thứ hai ─ đối với 33 CTTP riêng biệt được liệt kê tại Điều
76 BLHS năm 2015, thì chủ thể của tội phạm cũng như trên (trường hợp thứ nhất) ─ chỉ có
01 loại chủ thể duy nhất là cá nhân người phạm tội (và hình thức phạm tội cũng có thể là đơn
lé hay đồng phạm) nhưng loại 01 loại chủ thể này lại có 02 dạng sau:
Trang 101) Chủ thể phạm tội thuộc dạng thứ nhất ─ cá nhân người phạm tội độc lập, tức họ tự
mình thực hiện tội phạm một cách riêng rẽ hoặc tuy có thực hiện tội phạm do đồng phạm nhưng không hể có dính líu hay liên đới gì đến pháp nhân nào cả (tức là
cũng như ở trường hợp thứ nhất đã nêu trên là chỉ có 01 loại chủ thể của TNHS) và; 2)
Chủ thể phạm tội thuộc dạng thứ hai ─ cá nhân người phạm tội nhưng cá nhân này lại có đầy
đủ tất cả những dấu điều kiện TNHS được quy định tại khoản 1 Điều 75 BLHS năm 2015, tức
là đã có liên đới nào đó với PNTM đứng sau
2.3 Và trường hợp phạm tội thứ ba ─ đối với cũng là 01 loại chủ thể phạm tội nhưng
thuộc dạng thứ hai (đã nêu trên) thì lại có đến 02 loại chủ thể của TNHS (tức là sẽ có 02 chủ
thể phải bị xử lý về hình sự do cùng một tội phạm được thực hiện) Bởi lẽ, trong trường hợp
này ngoài loại chủ thể thứ nhất của TNHS đã được thừa nhận chung là cá nhân người phạm tội ra, còn có thêm loại chủ thể thứ hai của TNHS nữa và, đó chính là PNTM (vì đã có sự liên
đới trong việc để cho chủ thể thứ nhất phạm tội) Và khi đó các cơ quan THTT chỉ có thể truy
cứu TNHS được chủ thể thứ hai (PNTM) nếu và phải chứng minh được một cách xác đáng và
bảo đảm sức thuyết phục rằng, đã có sự liên đới nhất định về mặt chủ quan của PNTM đó
trong thiệt hại đã xảy ra bởi hành vi khách quan mà cá nhân đã thực hiện (!!!) Và cũng chính
trong trường hợp phạm tội thứ ba này cũng rất có thể sẽ lại xuất hiện 03 trường hợp buộc tội
cụ thể (chủ quan và khách quan) xảy ra mà các cơ quan THTT phải đặc biệt lưu ý khi truy
cứu TNHS là:
1) Trường hợp buộc tội chủ quan đơn giản ─ chỉ có 01 loại chủ thể phạm tội (với đầy
đủ những điều kiện nêu tại khoản 1 Điều 75 BLHS năm 2015) và đồng thời cũng chỉ có 01
loại chủ thể của TNHS gồm cá nhân người trực tiếp thực hiện tội phạm và những người đồng
phạm khác là một hoặc/và một số thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT), Ban giám đốc
(BGĐ) hoặc/và Kế toán trưởng (đứng sau người phạm tội) nhưng đã nhân danh PNTM và thông đồng, móc ngoặc với nhau hưởng lợi từ hành vi phạm tội (mà không hề thông báo gì cho tất cả các thành viên HĐQT, BGD, v.v được biết) nhưng cũng không hề ảnh hưởng gì đến lợi ích chung của PNTM (trong khi đó toàn bộ các thành viên khác trong PNTM tương ứng không hề được hưởng lợi ích gì từ hành vi phạm tội đó
2) Trường hợp buộc tội chủ quan phức tạp ─ như trường hợp trên (01 loại chủ thể
phạm tội đồng thời là 01 loại chủ thể của TNHS) nhưng tất cả các thành viên HĐQT, BGĐ,
v.v đều là những người đồng phạm và chính hành vi phạm tội đã mang lợi ích chung cho tất
cả các thành viên khác trong PNTM tương ứng cùng được hưởng
3) Trường hợp buộc tội khách quan ─ không hề có chủ thể phạm tội nhưng vẫn có
01 loại chủ thể phải chịu TNHS là chính PNTM, tức là khi hậu quả (thiệt hại) thực tế xảy ra
hoàn toàn là do hành vi khách quan gây nên (mà không hề có sự tác động nào của con
người).Ví dụ: Do mưa to bão lớn trong một đêm giông tố nên đã có 01 cột điện cao thế 100
KV bị gió mạnh quật gãy và đập vào 01 tòa nhà chung cư gần đó gây nên thiệt hại tài sản và chết người cho vài hộ dân Trong trường hợp này vụ án hình sự có thể vẫn được khởi tố
nhưng do các cơ quan THTT không thế chứng minh được lỗi chủ quan của cá nhân nào cả