1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lạm dụng bằng lời nói trong gia đình và các vấn đề cảm xúc ở nạn nhân: tổng quan nghiên cứu

8 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lạm dụng bằng lời nói trong gia đình và các vấn đề cảm xúc ở nạn nhân: tổng quan nghiên cứu
Tác giả Lê Thị Huyền, Nguyễn Thị Thảo Linh, Nguyễn Đức Tài, Hoàng Thị Hệ
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Phương Hồng Ngọc
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Tổng quan nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 533,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I ỨNG DỤNG CÔNG NG 216 LẠM DỤNG BẰNG LỜI NÓI TRONG GIA ĐÌNH VÀ CÁC VẤN ĐỀ CẢM XÚC Ở NẠN NHÂN TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Lê Thị Huyền, Nguyễn Thị Thảo Linh Lớp QH2019S Tham vấn học đường Nguyễn Đức Tài Lớp QH2020S N1 GD3, Hoàng Thị Hệ Lớp QH2019S Công nghệ giáo dục GVHD ThS Nguyễn Phương Hồng Ngọc I ĐẶT VẤN ĐỀ Gia đình là tổ ấm, là chỗ dựa, là điểm tựa tinh thần cho mỗi thành viên trong gia đình, là nơi bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ Tuy vậy, hiện nay lạm dụng trong gia đình đang là vấn vấn đề đ[.]

Trang 1

LẠM DỤNG BẰNG LỜI NÓI TRONG GIA ĐÌNH

VÀ CÁC VẤN ĐỀ CẢM XÚC Ở NẠN NHÂN: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Lê Thị Huyền, Nguyễn Thị Thảo Linh Lớp: QH2019S - Tham vấn học đường

Nguyễn Đức Tài Lớp: QH2020S- N1- GD3,

Hoàng Thị Hệ Lớp: QH2019S - Công nghệ giáo dục GVHD: ThS Nguyễn Phương Hồng Ngọc

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Gia đình là tổ ấm, là chỗ dựa, là điểm tựa tinh thần cho mỗi thành viên trong gia đình, là nơi bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ… Tuy vậy, hiện nay lạm dụng trong gia đình đang là vấn vấn đề được rất nhiều người quan tâm, trên thế giới có khoảng

40 triệu trẻ em bị lạm dụng mỗi năm, với các hình thức như bỏ bê, lạm dụng thể chất, lạm dụng cảm xúc, lạm dụng tình dục, bịa đặt hoặc gây tổn hại sức khỏe (Butchart & Harvey, 2006) Một trong những hình thức lạm dụng cảm xúc là lạm dụng bằng lời nói, hình thức lạm dụng này có thể có ảnh hưởng lớn hơn đến tâm lý của một cá nhân (Gadit, 2011; Tencer, 2002) so với lạm dụng thể chất hoặc lạm dụng tình dục

Lạm dụng bằng lời nói là một hình thức lạm dụng về mặt cảm xúc hoặc lạm dụng về mặt tâm lý nhằm gây ra sự sỉ nhục, gièm pha hoặc sợ hãi tột độ theo nhận thức của nạn nhân (Teicher & Samson, 2013; Sharon, 2015) Lạm dụng bằng lời nói

là việc sử dụng ngôn ngữ xúc phạm, tiêu cực để làm tổn thương người khác Lạm dụng bằng lời nói có thể ẩn chứa sự gây hấn, thường thông qua những lời lăng mạ được ngụy trang dưới dạng nhận xét quan tâm Lạm dụng bằng lời nói có thể công khai hoặc giấu diếm, nhưng nó luôn liên quan đến việc kiểm soát và thao túng nạn nhân (Sharon, 2015)

Lạm dụng bằng lời nói được định nghĩa là bất kỳ lời nói hoặc nhận xét nào nhằm mục đích gây ra sự đau khổ, hạ thấp, sỉ nhục, đe dọa hoặc thiếu tôn trọng một

cá nhân (Brennan, 2001; Howells-Johnson, 2000), dẫn đến cảm giác tự ti, vô giá trị

Trang 2

và lòng tự trọng bị hạ thấp, mục tiêu thấp (Goldberg & Goldstein, 2000); Cameron (1998) cho rằng, lạm dụng bằng lời nói là hình thức gây hấn phổ biến nhất: đó là hậu quả của cảm xúc tức giận khó chịu, tự hạ thấp bản thân, xấu hổ và sợ hãi và có thể dẫn tới những hành động tự gây thương tổn cho chính nạn nhân (Goldberg, 1999)

Quan niệm về hành vi lạm dụng nói chung và lạm dụng bằng lời nói nói riêng cũng có những khác biệt ở những nền văn hóa khác nhau Ví dụ, một nghiên cứu tại Tây Ban Nha cho thấy lạm dụng lời nói trong các gia đình gốc Tây Ban Nha là phổ biến Khi đưa ra định nghĩa về lạm dụng bằng lời nói, một trong những khách thể

nghiên cứu là phụ nữ gốc Tây Ban Nha nói rằng, “đây là điều bình thường trong một nhà gốc Tây Ban Nha, không có gì sai” Điều này đã đặt ra một câu hỏi đối với các

kết quả nghiên cứu, bởi khi tồn tại quan niệm điều này dường như là bình thường như vậy, mọi người sẽ không báo cáo về lạm dụng bằng lời nói (Lani, 2018) Lạm dụng bằng lời nói cũng được được chấp nhận về mặt văn hóa trong xã hội Trung Quốc (Ji

và Finkelhor, 2015) và được chỉ ra bởi những câu tục ngữ, chẳng hạn như “đánh và mắng là biểu tượng của tình yêu thương” (beating and scolding are an emblem of love”) và “cây gậy làm một đứa con ngoan ngoãn” (the rod makes an obedient son)

Các giá trị văn hóa truyền thống bắt nguồn từ các nguyên tắc Nho giáo đòi hỏi con cái để bày tỏ lòng hiếu thảo và sự kính trọng với người lớn tuổi Trẻ bị coi là “ngang tàng” hoặc “không vâng lời” khi không tuân thủ hướng dẫn của cha mẹ hoặc không đáp ứng được mong đợi của cha mẹ Trong các tình huống, trừng phạt thể chất và gây hấn bằng lời nói được sử dụng rộng rãi như một hình thức kỷ luật, được coi là “cần thiết” để nuôi dạy con cái, và được coi là một dấu hiệu cho thấy sự quan tâm chăm sóc của cha mẹ (Ni, 2018; Zhu và Tang, 2011) Các bậc cha mẹ không do dự thừa nhận hành vi ngược đãi con cái của họ, có thể cho thấy điều đó là bình thường hóa ở Trung Quốc (Ni và cộng sự , 2017) Hay một ví dụ khác là ở Thái Lan, lạm dụng trẻ

em được chấp nhận như một phương pháp truyền thống để kỷ luật trẻ em Có một câu

tục ngữ cổ của Thái Lan, “Nếu bạn yêu con bò của bạn, hãy buộc nó lại; nếu bạn thương con, đánh chúng” (If you love your cow, tie it up; if you love your child, beat

Trang 3

them) Câu tục ngữ nêu gương văn hóa tín ngưỡng và các giá trị khuyến khích lạm dụng và bảo tồn việc sử dụng nó của văn hóa Thái (Rerkswattavorn, 2019)

Nghiên cứu hiện tại cho thấy rằng lạm dụng bằng lời nói có thể có ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý hoặc tinh thần của một cá nhân hoạt động (Gadit, 2011; Tencer, 2002) nhiều so với lạm dụng thể chất hoặc tình dục (Vissing và cộng sự, 1991) Di chứng về sức khỏe tâm thần của việc tiếp xúc với lạm dụng lời nói bởi cha mẹ tương đương với lạm dụng tình dục không do gia đình và chứng kiến bạo lực gia đình (Choi

và cộng sự, 2009) Trong một nghiên cứu trường diễn, 80% thanh niên bị lạm dụng lời nói đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán cho ít nhất một rối loạn tâm thần ở độ tuổi

21 (Leslie và cộng sự, 2010)

Bài viết này được thực hiện với mong muốn cung cấp một bức tranh thực trạng mối quan hệ giữa trải nghiệm bị lạm dụng bằng lời nói và các vấn đề cảm xúc ở nạn nhân qua các nghiên cứu đã được công bố, từ đó góp phần nâng cao hiểu biết về vấn

đề này, cũng như đưa ra một số khuyến nghị cho các nghiên cứu trong tương lai

II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Nghiên cứu này tổng hợp công trình nghiên cứu đã xuất bản trong vòng 10 năm trở lại đây (2010-2020), với những nội dung liên quan đến lạm dụng lời nói và cảm xúc nhằm tìm hiểu thực trạng lạm dụng lời nói trên thế giới và Việt Nam Các từ

khóa được sử dụng để tìm kiếm là: “Childhood trauma, childhood abuse, child abuse, verbal abuse, emotional abuse, psychological abuse, anxiety disorder, depression, emotional problems, emotional disorder, emotional distress, psychological problems, internalizing problems, mental health, mental illness, mental disorder, consequences

of child abuse, lạm dụng, lạm dụng cảm xúc, bạo lực gia đình, bạo hành trẻ, sức khỏe tâm thần của trẻ, trầm cảm, lo âu” trên internet trong cơ sở dữ liệu Google Scholar

Sau khi bắt đầu tìm kiếm, chúng tôi đã tổng hợp và chọn lọc được tất cả 21 bài báo khoa học có quan trực tiếp đến lạm dụng lời nói và mối quan hệ với các vấn đề cảm xúc và đưa vào sử dụng cho mục đích của bài viết này Các bài báo đều được xem trước và được chọn dựa trên các tiêu chí: được xuất bản trong 10 năm trở lại đây

Trang 4

(2011-2021), các tài liệu đều có nội dung cho thấy mối quan hệ giữa trải nghiệm bị lạm dụng bằng lời nói và các vấn đề cảm xúc

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thứ nhất, nghiên cứu về lạm dụng và các vấn đề cảm xúc được chú ý nhiều hơn ở các nước phát triển, trong tổng số 21 nghiên cứu được đưa vào tổng quan có 13/21 nghiên cứu được làm ở các nước phát triển và 8/21 nghiên cứu ở các nước đang phát triển

Thứ hai, các nghiên cứu đa phần được tìm hiểu trên nhóm người từ 14-25 tuổi (11/21 số nghiên cứu) Có một số ít nghiên cứu tập trung vào độ tuổi trung niên và người già Lạm dụng bằng lời nói bởi cha mẹ khi còn nhỏ và lạm dụng bằng lời nói bởi bạn bè ở tuổi vị thành niên có liên quan đến nguy cơ trầm cảm, lo âu, giận dữ-thù địch, tự tử, rối loạn phân ly hoặc sử dụng chất ở tuổi thanh niên

Thứ ba, các hành vi lạm dụng lời nói được đo đạc chủ yếu là các hành vi như đánh mắng, so sánh, chế giễu, chửi bới, và ép buộc Các nghiên cứu khác nhau có một số hành vi lạm dụng lời nói được đo đạc khác nhau: trong nghiên cứu của Je-Yeon Yun (2018) đã chỉ ra rằng hành vi lạm dụng lời nói của cha mẹ bắt đầu bằng

“mắng tôi” sau đó là “xúc phạm tôi” và “nói với tôi rằng tôi vô dụng” Với một đứa trẻ, việc mắng chửi, chế giễu sẽ không làm chúng phản ứng thái quá như lạm dụng thể chất Tuy nhiên, hệ quả để lại lại nghiêm trọng hơn Họ giảm lòng tự trọng, sự tự tin ở cả hiện tại và tương lai (Thomason, 2018)

Thứ tư, lạm dụng bằng lời nói thường đi kèm với các hình thức lạm dụng khác (ví dụ như lạm dụng thể chất và lạm dụng tình dục), làm tăng thêm khó khăn cho nạn nhân khi cố gắng tìm người để được trợ giúp, để báo cáo về việc bị lạm dụng bằng lời nói, sự khác biệt về mặt văn hóa giữa các nước cũng là một điểm hạn chế lớn khi lạm dụng bằng lời nói cũng được coi là hành vi bình thường, được chấp nhận trong văn hóa của một số quốc gia

Như đã trình bày ở trên, lạm dụng bằng lời nói thường đi kèm với các hình thức lạm dụng khác Rất ít trẻ bị đánh đập mà không chịu sự mắng nhiếc của cha mẹ

Trang 5

trẻ em, mặc dù có rất ít việc lạm dụng bằng lời nói không đi kèm hình thức lạm dụng khác, nhưng có một số phụ huynh sử dụng lời nói nhưng không đánh con, bỏ mặc con hoặc lôi kéo con quan hệ tình dục Lạm dụng bằng lời nói có thể trở thành một hình thức kiểm soát và kỷ luật trẻ em ngày càng thường xuyên do nhận thức về lạm dụng thân thể ngày càng gia tăng Lạm dụng bằng lời nói có thể có tác động lớn hơn

vì trẻ bị lạm dụng gặp khó khăn hơn trong việc tự vệ

Thứ năm, đa số các nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (13/20 nghiên cứu) Ngoài ra, có 10/20 số nghiên cứu có sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính như phỏng vấn sâu, hoặc cùng kết hợp cùng phương pháp điều tra bảng hỏi

Thứ sáu, các nghiên cứu cho thấy trải nghiệm bị lạm dụng về lời nói có thể góp phần gây nên các vấn đề cảm xúc như rối loạn trầm cảm và rối loạn lo âu ở người

bị lạm dụng Sự sỉ nhục là một yếu tố dự báo trầm cảm (Collazzoni, 2015) Nạn nhân

có thể ngày càng trở nên nhạy cảm với các mối đe dọa xã hội và có các dấu hiệu lo lắng (Collazzoni, 2014) Những đứa trẻ trong những loại tình huống này có xu hướng phát triển các triệu chứng tâm lý như rối loạn stress sau sang chấn, rối loạn nhân cách ranh giới, ái kỷ, rối loạn ám ảnh cưỡng bức, rối loạn nhân cách hoang tưởng, lòng tự trọng thấp, rối loạn lo âu, và trầm cảm (Bennetts, 2006; Brennan, 2001; Choi và cộng

sự, 2009; Polcari và cộng sự, 2014; Teicher và cộng sự, 2006; Teicher và cộng sự, 2010; Tomada và cộng sự, 2011) Ví dụ, trong nghiên cứu của Robert (2014) trên 634 người, trong đó có 24% tổng số khách thể bị lạm dụng lời nói, cho thấy tỉ lệ những người bị lạm dụng dẫn đến mắc rối loạn trầm cảm và rối loạn lo âu cao hơn 1,5 lần người không bị lạm dụng

IV KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Qua đó, các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy trải nghiệm bị lạm dụng về lời nói có thể góp phần gây nên các vấn đề cảm xúc như rối loạn trầm cảm và rối loạn

lo âu Tuy nhiên, qua việc thu thập và tổng hợp tài liệu, số lượng nghiên cứu về vấn

đề này ở Việt Nam còn hạn chế

Trang 6

Các nghiên cứu trong tương lai có thể tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này, cân nhắc xem xét yếu tố văn hóa, sự chấp nhận của xã hội về các hình thức lạm dụng, trong đó bao gồm lạm dụng bằng lời nói Về mặt phương pháp nghiên cứu, các nghiên cứu có thể cân nhắc sử dụng thêm các phương pháp thu thập dữ liệu định tính để khai thác sâu hơn các trải nghiệm bị lạm dụng

Lời cảm ơn: Nghiên cứu này được tài trợ bởi trường Đại học Giáo dục, với đề tài mã

số QS.NH.21

V TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Thị Hồng Nhung, (2013), Nghiên cứu biểu hiện rối loạn lo âu ở học sinh trường Trung học cơ sở Phương Mai-Hà Nội khi sống trong gia đình có bạo lực: Luận văn ThS Tâm lý học, Đại học Giáo dục

2 Phạm Hoàng Nam Phác (2006), “Ảnh hưởng của gia đình đối với việc bảo vệ

chăm sóc và giáo dục con cái”, Tạp chí Khoa học trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, (9), 171

3 Brennan, W (2001), “Dealing with verbal abuse”, Emergency Nurse, 9(5),

15-17

4 Cameron, L (1998), “Verbal abuse: A procative approach”, Nursing management, 29(8), 34

5 Collazzoni, A.etal (2014), “Humiliation and interpersonal sensitization in

depression’, J Affecting Disord 167, 224–227

6 Collazzoni, A.etal (2015), “Comparison of humiliation measurements in

depressive versus non-clinical samples: A probable clinical trial”, J Clin Psychol

71, 1218–1224

7 Goldberg, R T & Goldstein, R (2000), “A comparison of chronic pain patients

and controls on traumatic events in childhood”, Disability and rehabilitation, 22,

756 - 763

8 Goodman, FR, Stiksma, MC & Kashdan, TB (2018), “Social Anxiety and quality

of everyday social interactions: Modesty Effects of alcohol consumption”, Behav

Trang 7

9 Handa, M., Nukina, H., Hosoi, M & Kubo, C, (2008), “Childhood physical abuse

in outpatients with psychosomatic symptoms”, BioPsychoSocial Medicine, 2(8),

1- 6

10 Kaščáková, N., Fürstová, J., Hašto, J., Gecková, A M., & Tavel, P, “The Unholy Trinity: Childhood trauma, adulthood anxiety and long-term

pain.”, DIZERTAČNÁ PRÁCA, 132

11 Lane, T (2003), ‘Women have different risk factors for verbal, physical partner

abuse”, Perspectives on Sexual and Reproductive Health, 35(2), 106-107

12 Leslie, L K., James, S., Monn, A., Kauten, M C., Zhang, J., & Aarons, G (2010),

“Health-risk behaviors in young adolescents in the child welfare system”, Journal

of Adolescent Health, 47(1), 26-34

13 Ney, P.G, (1987), “Does verbal abuse leave deeper scars: A study of children and parents”, The Canadian Journal of Psychiatry, 32(5), 371-378

14 Ni, Y., Li, L., Zhou, X., & Hesketh, T (2020), “Effects of maltreatment in the home setting on emotional and behavioural problems in adolescents: a study from

Zhejiang Province in China”, Child abuse review, 29(4), 347-364

15 Ni Y, Zhou X, Hesketh T, (2017) Child abuse in China: A comparison between

parents and children reporting, Lance, 390: S55

16 Post, R M., Altshuler, L L., Kupka, R., McElroy, S L., Frye, M A., Rowe, M., & Nolen, W A (2015), “Verbal abuse, like physical and sexual abuse, in childhood is associated with an earlier onset and more difficult course of bipolar

disorder”, Bipolar disorders, 17(3), 323-330

17 Rerkswattavorn, C., & Chanprasertpinyo, W (2019), “Prevention of child physical and verbal abuse from traditional child discipline methods in rural

Thailand”, Heliyon, 5(12), e02920

18 Rosli, N.A, (2014), Effect of parenting styles on children's emotional and behavioral problems among different ethnicities of Muslim children in the US

Trang 8

19 Ross, N D., Kaminski, P L., & Herrington, R (2019), “From childhood emotional maltreatment to depressive symptoms in adulthood: The roles of

self-compassion and shame”, Child abuse & neglect, 92, 32-42

20 Rerkswattavorn, C., & Chanprasertpinyo, W (2019) Prevention of child physical and verbal abuse from traditional child discipline methods in rural

Thailand Heliyon, 5(12), e02920

21 Teicher, M H., Samson, J A., Sheu, Y S., Polcari, A., & McGreenery, C E (2010), “Hurtful words: association of exposure to peer verbal abuse with elevated

psychiatric symptom scores and corpus callosum abnormalities”, American journal of psychiatry, 167(12), 1464-1471

22 Thomason, L (2018), Childhood Verbal Abuse and its Psychological Effects on Adults

23 Vissing, Y M., Straus, M A., Gelles, R J., & Harrop, J W, (1991), “Verbal

aggression by parents and psychosocial problems of children”, Child abuse & neglect, 15(3), 223-238

24 Yun, J Y., Shim, G., & Jeong, B (2019), “Verbal abuse related to self-esteem damage and unjust blame harms mental health and social interaction in college

population”, Scientific reports, 9(1), 1-13

25 Zhu YH, Tang KL, 2011, “Physical abuse of children in urban China: Victims'

perception of the problem and obstacles to seeking help”, International social

work, 55, 574–588

26 UNICEF, R (2012) Child maltreatment, prevalence, incidence and consequences

in the East Asia and Pacific region New York: UNICEF

27 Lee, S W et al, (2018) Hippocampal Subfelds Volume Reduction in High

Schoolers with Previous Verbal Abuse Experiences, Clin Psychopharmacol

Neurosci, 16, 46–56

28 Lee, S W et al (2017) Altered Function of Ventrolateral Prefrontal Cortex in

Adolescents with Peer Verbal Abuse History, Psychiatry Investig, 14, 441–451

Ngày đăng: 28/05/2022, 18:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w