Buổi 1 Phần 1 Nhận định 1 Hội thẩm nhân dân tham gia gia tất cả các phiên tòa dân sự sơ thẩm Nhận định Sai CSPL Khoản 1 Điều 10 BLTTDS 2015 Giải thích Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 11 BLTTDS 2015 thì trong trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn thì không cần có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân Do đó, không phải trong mọi phiên tòa dân sự sơ thẩm thì đều phải có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân Hội thẩm nhân dân chỉ tham gia duy nhất trong phiên toà XXST 2 Người phiên dịch là người có k.
Trang 1Hội thẩm nhân dân chỉ tham gia duy nhất trong phiên toà XXST
2 Người phiên dịch là người có khả năng dịch từ ngôn ngữ khác sang Tiếng Việt và ngược lại.
- Nhận định: Sai/ Đúng
- CSPL: Điều 81 BLTTDS 2015
- Giải thích: Căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 81 BLTTDS 2015 thì ngườibiết chữ của người khuyết tật nhìn hoặc biết nghe, nói bằng ngôn ngữ, ký hiệu củangười khuyết tật nghe, nói cũng được coi là người phiên dịch
3 Mọi chủ thể đều có quyền khiếu nại, tố cáo.
- Nhận định: Sai
- CSPL: Điều 25 BLTTDS 2015 Điều 499, điều 509
- Giải thích: Căn cứ theo quy định tại Điều 25 BLTTDS 2015 thì cơ quan, tổ chức,
cá nhân có quyền khiếu nại; trong khi đó chỉ có cá nhân mới có quyền tố cáo Do đó,không phải mọi chủ thể đều có quyền khiếu nại, tố cáo
Khiếu nại: Cơ quan, tổ chức tham gia
Tố cáo: Cá nhân
4 Thẩm phán tuyệt đối không được tham gia xét xử hai lần một vụ án.
- Nhận định: Sai
- CSPL: Khoản 3 Điều 53 BLTTDS 2015
- Giải thích: Căn cứ theo Khoản 3 Điều 53 BLTTHS 2015:
“ Điều 53 Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân:
3 Họ đã tham gia giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ việc dân sự đó và đã ra bản án sơ thẩm, bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, quyết định giải quyết việc dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, trừ trường hợp là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao thì vẫn được tham gia giải quyết vụ việc đó theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.”
Trường hợp Thẩm phán đã tham gia xét xử vụ án dân sự nhưng chưa ra được bản ánhoặc Thẩm phán đó là thành viên của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, Ủy ban Thẩmphán Tòa án nhân dân cấp cao thì Thẩm phán đó vẫn có thể tham gia xét xử lần thứ haiđối với cùng một vụ án dân sự
Do đó, Thẩm phán có thể tham gia xét xử hai lần trong cùng một vụ án
5 Viện kiểm sát phải tham gia tất cả các phiên tòa, phiên họp dân sự.
- Nhận định: Sai
Trang 2- CSPL: Khoản 2, 3 Điều 21 BLTTHS 2015 Điều 27 TTLT 02/2016
- Giải thích: Căn cứ vào Khoản 2, 3 Điều 21 BLTTHS 2015:
“ Điều 21 Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
2 Viện kiểm sát tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; phiên tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này.
3 Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.”
Viện kiểm sát tham gia các phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm với tái
thẩm Nhưng đối với phiên tòa sơ thẩm thì Viện kiểm sát tham gia “đối với những vụ
án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có đương sự là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này” chứ không phải tham gia tất cả các phiên tòa sơ
thẩm đối với những trường hợp khác
Do đó, Viện kiểm sát không phải tham gia tất cả các phiên tòa, phiên họp dân sự màpháp luật không quy định
Ngược với Hội thẩm nhân dân
- Yêu cầu của chị V: xin được ly hôn với anh Jack, được nuôi con chung là cháu Th,
không yêu cầu anh Jack cấp dưỡng nuôi con
- Yêu cầu của anh Jack: được nuôi con là cháu Th, không yêu cầu chị V cấp dưỡng
nuôi con
2 Đại diện Viện kiểm sát cùng cấp có nghĩa vụ tham gia phiên tòa sơ thẩm không?
- Đại diện Viện kiểm sát cùng cấp không có nghĩa vụ tham gia phiên toà sơ thẩm
- Vì trong vụ án trên chị V và anh Jack muốn giải quyết ly hôn, quyền nuôi con còn
về phần phân chia tài sản cả hai bên đều đã thống nhất thoả thuận nên căn cứ theoKhoản 2 Điều 21 BLTTDS 2015 quy định thì Viện kiểm sát cùng cấp không phảitham gia phiên toà sơ thẩm
Xem lại có thuộc TH Toà án thu thập chứng cứ tại k1 đ27 TTLT
Đứa con 7 tuổi không là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Do đó không cầnVKS tham gia
Tranh chấp về vấn đề tài sản: nếu thoả thuận được thì không cần VKS tham gia
3 Có bắt buộc phải có người phiên dịch tham gia tố tụng trong trường hợp trên không?
Có 2 trường hợp có thể xảy ra:
- Trường hợp 1: nếu có người có thể nói được tiếng việt thì không bắt buộc phải có
người phiên dịch
Trang 3- Trường hợp 2: nếu không có người nói được tiếng việt thì bắt buộc phải có người
phiên dịch
Cơ sở pháp lý: Điều 20 BLTTDS 2015 “Điều 20 Tiếng nói và chữ viết dùng trong tốtụng dân sự
Tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng dân sự là tiếng Việt
Người tham gia tố tụng dân sự có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình;trường hợp này phải có người phiên dịch
Người tham gia tố tụng dân sự là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn cóquyền dùng ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật; trường hợp này phải
có người biết ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật để dịch lại.”
Phần 3 Phân tích án
Tóm tắt tình huống:
- Nguyên đơn: Anh T (sinh năm 1983)
- Bị đơn: Bà H (sinh năm 1958)
- Người kháng cáo: Anh T – là nguyên đơn
a Nội dung vụ án:
Theo hồ sợ vụ án sơ thẩm:
- Anh T khởi kiện đề nghị Tòa án: Xác định diện tích 200m2 có vị trí như trong sơ
đồ tại Biên bản họp gia đình ngày 20/05/2008 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của anhPhạm T Buộc bà Hồng trả lại anh Phạm T phần diện tích đất này theo quy định pháp luật
- Bà Hồng không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của anh T vì: Anh Phạm T phải
có đầy đủ tài liệu chứng cứ để chứng minh về quyền sử dụng đất của mình đối với thửađất đang tranh chấp Đề nghị xác định rõ về hình thức và nội dung của Biên bản họp giađình ngày 20/5/2008 Thời điểm lập Biên bản họp gia đình cụ Phạm Oản đã 95 tuổi, nên
bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vì vậy không thể lập Biên bản họp gia đình theo nộidung trong biên bản, bà không tham gia và không ký vào Biên bản Đề nghị Tòa án đìnhchỉ giải quyết vụ án với lý do quan hệ tranh chấp phát sinh từ năm 2013 đến nay đã hếtthời hiệu khởi kiện
- Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2019/DS-ST ngày 26/07/2019 của Toà án nhân dân
huyện TT đã quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm T đối với bàPhạm Thị H
- Ngày 09/08/2019, nguyên đơn là anh Phạm T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án
dân sự sơ thẩm
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo Anh Toàn nhất
trí toàn bộ quan điểm đã trình bày của Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyênđơn: Bản án sơ thẩm không thu thập đầy đủ chứng cứ Xác định chưa đúng quan hệ phápluật; Cấp sơ tính sai về án phí sơ thẩm; Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáocủa nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện củanguyên đơn
- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận
kháng cáo của nguyên đơn Giữ nguyên bản án sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều
308 Bộ luật tố tụng dân sự
b Nhận định của Toà án:
Trang 4Về nội dung:
- Không có cơ sở chấp nhận việc bị đơn cho rằng thửa đất số 304, 305 là của cụ
Phạm Oản mua của người khác mà có Cụ Oản không phải là chủ sử dụng toàn bộ thửađất số 304, 305 do vậy cụ không có quyền định đoạt khối di sản thừa kế chưa chia này
- Cấp sơ thẩm xác định cụ Oản không có quyền quyết định “…Tôi có người cháu
tên là Phạm T Do vậy gia đình tôi đã thống nhất chia tách cho cháu được toàn quyền
sử dụng 200m2 (trong đó có 46m2 đất vườn) về phía giáp nhà bà Năm…” là đúng quyđịnh pháp luật
- Chưa làm phát sinh hiệu lực của việc chuyển quyền sử dụng đất đối với diện tích
đất anh T được tặng cho
- Buộc anh Phạm T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
c Quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Phạm T Giữ nguyên bản án bản án dân
sự sơ thẩm số 13/2019/DS-ST ngày 26/7/2019
Xác định vấn đề pháp lý có liên quan:
- Biên bản họp gia đình ngày 20/5/2008 về việc chia tách quyền sử dụng đất được
lập bởi cụ Oản, cụ Cặn, bà Hồng, anh Toàn không thỏa mãn về mặt hình thức của hợpđồng tặng cho quyền sử dụng đất UBND xã Đ chỉ xác nhận những chữ ký trong biên bảncủa cụ Oản, cụ Cặn, bà Hồng, anh Toàn được ký tại UBND xã mà không kiểm tra vàchứng thực về năng lực hành vi dân sự của những người ký biên bản; Việc chứng thựccủa UBND xã cũng không được vào sổ chứng thực Vấn đề xác định quyết định của Cấp
sơ thẩm xác định cụ Oản không có quyền quyết định “…Tôi có người cháu tên là Phạm T Do vậy gia đình tôi đã thống nhất chia tách cho cháu được toàn quyền sử dụng 200m2(trong đó có 46m2 đất vườn) về phía giáp nhà bà Năm…” là đúng quy định pháp luật
- Điều 129 Luật đất đai năm 2003 quy định: “1 Việc nộp hồ sơ thừa kế, tặng cho
quyền sử dụng đất được quy định như sau: a) Hồ sơ thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đấtnộp tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụngđất tại nông thôn thì nộp tại Ủy ban nhân dân xã nơi có đất để chuyển cho văn phòngđăng ký quyền sử dụng đất; ”
- Điều 692; Điều 725 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Bên được tặng cho
quyền sử dụng đất có các nghĩa vụ sau đây:
- 1 Đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định
của pháp luật về đất đai…”
- Mục 5 phần I của Thông tư 04 2006/TTLT - BTP - BTNMT ngày 13/6/2006 của
Bộ tư pháp - Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn: “5.1 Khi thực hiện công chứng,chứng thực thì Công chứng viên, Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân xã,phường, thị trấn phải chịu trách nhiệm về: a) Thời điểm, địa điểm công chứng, chứngthực; b) Năng lực hành vi dân sự của các bên giao kết hợp đồng hoặc xác lập văn bản vềbất động sản tại thời điểm công chứng, chứng thực….”
Trả lời câu hỏi:
1 Anh (chị) hiểu như thế nào là “thay đổi yêu cầu”, “thay đổi vượt quá yêu
Trang 5cầu”, “thay đổi trong phạm vi yêu cầu” Cho ví dụ minh họa.
- “Thay đổi yêu cầu” là việc đương sự đưa ra một yêu cầu khác với yêu cầu ban đầu
của họ để Tòa án xem xét giải quyết trong cùng vụ án Việc thay đổi này không làm phátsinh thêm quan hệ pháp luật tranh chấp mà chỉ là thay đổi quan hệ pháp luật tranh chấpnày sang quan hệ pháp luật tranh chấp khác
Ví dụ: theo đơn khởi kiện ban đầu nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại tài sản đã mượntrước đó nhưng vì tài sản này không còn hoặc không còn giá trị sử dụng được nữa nênnguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là yêu cầu bị đơn trả lại giá trị của tài sản mànguyên đơn cho bị đơn mượn
- “Thay đổi vượt quá yêu cầu” là việc đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện,
yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập làm phát sinh thêm quan hệ pháp luật tranh chấp khácngoài một hoặc nhiều quan hệ pháp luật mà Tòa án đang xem xét giải quyết trong cùngmột vụ án hoặc không làm tăng thêm giá trị tranh chấp trong cùng quan hệ pháp luậttranh chấp mà Tòa án đang xem xét giải quyết
Ví dụ: Ban đầu nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại 200m2 Sau đó, nguyênđơn bổ sung yêu cầu là yêu cầu bị đơn trả thêm 50m2 đất nữa, tổng cộng là 250m2 đất.Khi nguyên đơn bổ sung thêm yêu cầu 50m2 đất tức là làm tăng thêm giá trị yêu cầu sovới yêu cầu khởi kiện ban đầu Trường hợp này nguyên đơn phải nộp thêm tiền tạm ứng
án phí theo thông báo của Tòa án Tòa án cũng phải thông báo thụ lý yêu cầu khởi kiện
bổ sung cho Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự khác trong vụ án biết như khi thụ lý vụ
án ban đầu Như vậy, trong ví dụ này thì việc nguyên đơn bổ sung yêu cầu thêm 50m2 đất
là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu
- “Thay đổi trong phạm vi yêu cầu” là việc đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi
kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập nhưng không làm phát sinh thêm quan hệ phápluật tranh chấp khác ngoài một hoặc nhiều quan hệ pháp luật mà Tòa án đang xem xétgiải quyết trong cùng một vụ án hoặc không làm tăng thêm giá trị tranh chấp trong cùngquan hệ pháp luật tranh chấp mà Tòa án đang xem xét giải quyết
Ví dụ: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần đất bị lấn chiếm Sau đó,nguyên đơn bổ sung thêm yêu cầu là yêu cầu bị đơn bồi thường tiền thuốc điều trị vếtthương do bị đơn gây ra do trước do mâu thuẫn đất đai Việc nguyên đơn bổ sung thêmyêu cầu bồi thường tiền thuốc điều trị vết thương là phát sinh thêm quan hệ pháp luậttranh chấp khác (tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại) là vượt quáphạm vi khởi kiện ban đầu
2 Trường hợp nào thì chấp nhận hay không chấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn?
Theo khoản 1 Điều 244 của BLTTDS năm 2015 quy định như sau: “Hội đồng xét xửchấp nhận việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự nếu việc thay đổi, bổ sung yêucầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầuđộc lập ban đầu”
Trang 6Theo công văn số 01/2017/GĐ - TANDTC ngày 07/4/2017 giải đáp một số vấn đềnghiệp vụ của Tòa án các địa phương, trong đó tại mục 7, Phần IV đã hướng dẫn thựchiện nội dung như sau:
- “Tòa án chấp nhận việc nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện nếu việcthay đổi, bổ sung được thực hiện trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp,tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
- Tại phiên họp và sau phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ và hòa giải thì Tòa án chỉ chấp nhận việc đương sự thay đổi yêu cầu khởi kiện nếuviệc thay đổi yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu”
Như vậy, nếu đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu trước thời điểm mở phiên họp kiểmtra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì sẽ được Tòa án chấp nhận.Còn nếu đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việcgiao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hoặc tại phiên tòa thì Tòa án chỉ chấpnhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởikiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu ghi trong đơn khởi kiện, đơn yêucầu phản tố, đơn yêu cầu độc lập1
3 Khi đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu của mình, đương sự có phải nộp tiền tạm ứng án phí đối với yêu cầu mới đó hay không? Nêu cơ sở?
- Khi đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu của mình thì phải nộp tiền tạm ứng án phívới yêu cầu mới đó
- Cơ sở pháp lý: Điều 146 BLTTDS 2015, Điều 5 NQ 326/2016/UBTVQH14 ngày30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệphí của Tòa án
“Điều 146 Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí
1 Nguyên đơn, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án dân sự phải nộp tiền tạm ứng án phí
sơ thẩm, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí.
2 Người nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải nộp tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự đó, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí.
Đối với yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thì vợ, chồng có thể thỏa thuận về việc nộp tiền tạm ứng lệ phí, trừ trường hợp
1 bo-sung-yeu-cau-cua-duong-su-theo-blttds-nam-2015, tham khảo ngày 28/02/2021
Trang 7https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/ban-ve-pham-vi-khoi-kien-va-quyen-thay-doi-được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí theo quy định của pháp luật Trường hợp vợ, chồng không thỏa thuận được người nộp tiền tạm ứng lệ phí thì mỗi người phải nộp một nửa tiền tạm ứng lệ phí.”
“Điều 5 Tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án
1 Tạm ứng án phí gồm có tạm ứng án phí sơ thẩm và tạm ứng án phí phúc thẩm.
2 Tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự gồm có tạm ứng lệ phí sơ thẩm và tạm ứng lệ phí phúc thẩm đối với trường hợp được kháng cáo quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm
theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.”
4 Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện có thể được thực hiện trong giai đoạn phúc thẩm vụ án dân sự hay không?
Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện được quy định rõ trong giai đoạn tiền tốtụng và giai đoạn xét xử sơ thẩm
Ví dụ, theo điểm a khoản 2 Điều 210 BLTTDS 2015 thì khi kiểm tra việc giao nộp,tiếp cận, công khai chứng cứ, Thẩm phán công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án, hỏi đương sự về: “Yêu cầu và phạm vi khởi kiện, việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; những vấn đề đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất yêu cầu Tòa án giải quyết;”.
Hoặc trong giai đoạn xét xử sơ thẩm thì Điều 243 BLTTDS 2015 quy định về thủ tụchỏi đương sự về việc bổ sung, thay đổi, rút yêu cầu hoặc Điều 244 Bộ luật này quyđịnh về việc xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu nhưng không được vượt quáphạm vi yêu cầu khởi kiện trong thủ tục bắt đầu phiên tòa…
Nhưng BLTTDS 2015 lại không quy định về việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của mìnhtrong giai đoạn phúc thẩm mà chỉ quy định về việc rút yêu cầu trước và trong phiêntòa phúc thẩm tại Điều 299 Như vây, có thể thấy quyền thay đổi, bổ sung yêu cầukhởi kiện không được đề cập đến trong giai đoạn phúc thẩm Nhưng chúng ta có thểhiểu, theo tinh thần quy định tại Điều 5 BLTTDS 2015 và Điều 70 Bộ luật này
Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của BLTTDS năm 2015 thì “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó” Theo quy
định này thì trong vụ án dân sự nói chung, đương sự (bao gồm nguyên đơn, bị đơn cóyêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập) có quyềnquyết định phạm vi yêu cầu để Tòa án xem xét, giải quyết Đồng thời Tòa án chỉ xemxét giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện của đương sự
Trang 8Theo quy định tại khoản 4 Điều 70 của BLTTS năm 2015 thì đương sự có quyền thayđổi, bổ sung yêu cầu của mình trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án Việc thay đổi,
bổ sung yêu cầu của đương sự được thực hiện trước khi Tòa án mở phiên tòa và tạiphiên tòa Tuy nhiên không phải trường hợp nào việc thay đổi, bổ sung yêu cầu củađương sự cũng được Tòa án chấp nhận mà việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương
sự không được vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu
Vì vậy, quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện có thể được thực hiện trong giaiđoạn xét xử phúc thẩm nhưng không được vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện banđầu
5 So sánh với quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu phản tố của bị đơn, quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Giống nhau:
- Đều là yêu cầu khởi kiện và có thể được khởi kiện bằng vụ án độc lập
- Trình tự thủ tục giải quyết yêu cầu khởi kiện.
Khác nhau:
Tiêu chí Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu phản tố của bị đơn
Quyền thay đổi, bổ sung yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Cơ sở
pháp lý
Khoản 4 Điều 72 và Điều 200
Bộ Luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) 2015
Khoản 4 điều 56; Điều 73; Điều
201 Bộ Luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) 2015
Phạm vi
yêu cầu
Liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn
Theo điểm b khoản 1 Điều 73, khoản 1 Điều 201 BLTTDS, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn Với quy định trên thì yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có thể đối với nguyên đơn hoặc đối với
bị đơn.
Thời điểm
đưa yêu
Theo Khoản 3 Điều 200, Bị đơn
có quyền đưa ra yêu cầu phản tố
Theo khoản 2 Điều 201, Người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trang 9trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Điều kiện
- Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
- Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
- Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
- Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ;
- Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết
- Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
1.Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015 thì bị đơn chỉ cần là người
mà nguyên đơn “cho rằng” quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị bị đơn đó xâm phạm Tức là, không chỉ người gây thiệt hại cho nguyên đơn mới trở thành bị đơn, mà trên thực tế, mặc dù, bị đơn không gây thiệt hại cho nguyên đơn vẫn có thể trở thành bị đơn, trong trường hợp bị đơn đó bị nguyên đơn khởi kiện
2.NQ 03/2006 quy định xác định bị đơn dân sự trong 1 số TH ngoại lệ trong bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng (không gây thiệt hại nhưng vẫn trở thành bị đơn, từ đủ 18 tuổi trở lên, dưới 15 tuổi không là bị đơn, 15 đến 18 thì cha mẹ là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan)
Trang 104.Căn cứ theo quy định tại Điều 68 BLTTDS 2015 thì: Tư cách tố tụng của đương sự
được hình thành khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự Trong đó: nguyên đơn trong vụ án dân
sự là người khởi kiện, cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm; Bị đơn là người
bị nguyên đơn khởi kiện; người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi,nghĩa vụ của họ nên họ
5.Tuy nhiên, trong một số trường hợp thì tư cách tố tụng của những người nêu trên có thể
bị thay đổi tại phiên tòa sơ thẩm Chẳng hạn: trường hợp nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, không đề nghị xét xử vắng mặt và trong vụ án đó có bị đơn yêu cầu phản tố,người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập mà bị đơn không rút hoặc chỉ rút một phần yêu cầu phản tố thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn (điểm b Khoản 2 Điều 217) Ta thấy trong trường hợp trên thì tư cách tố tụng của nguyên đơn và bị đơn đã bị thay đổi cho nhau
Điều 72, đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn
Điều 73, đưa ra yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quanĐiều 245
3 Một người có thể đại diện cho nhiều đương sự trong vụ án dân sự.
- Nhận định: Đúng.
- CSPL: Khoản 1 Điều 87 BLTTDS 2015.
- Giải thích:
6.Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 87 thì một người không được đại diện cho
nhiều đương sự trong cùng một vụ án dân sự khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập nhau Do vậy, nếu họ đại diện cho nhiều đương sự trong cùng một vụ án dân sự mà quyền và lợi ích hợp pháp của những người được đại diện này không đối lập với nhau thì một người đại diện có thể đại diện cho nhiều đương sự
7.
4 Việc thay đổi người tiến hành tố tụng có thể do Chánh án quyết định.
- Nhận định: Đúng
- CSPL: Điều 46, Điều 47 BLTTDS 2015.
- Giải thích: 2 điều kiện
8.Theo điểm c khoản 1 Điều 47 BLTTDS 2015 thì Chánh án Tòa án có quyền quyết định
thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký tòa án trước khi mở phiên tòa Và theo điểm a Khoản 2 Điều 46 BLTTDS 2015 thì Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký tòa án là người tiến hành tố tụng
Trang 119.Có thể thấy, Chánh án có thể quyết định việc thay đổi người tiến hành tố tụng trước khi
mở phiên tòa trong trường hợp người bị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký tòa án
10.Vì vậy, việc thay đổi người tiến hành tố tụng có thể do Chánh án quyết định.
12.Phó chánh án vẫn có thể tham gia giải quyết vụ việc dân sự với tư cách là một thẩm
phán thông thường bởi vì Phó Chánh án đương nhiên phải là Thẩm phán Phó Chánh án chỉ là một chức danh có nhiệm vụ phụ giúp Chánh án giải quyết các công việc
13.Vì vậy, Phó Chánh án TAND có thể trở thành người tiến hành tố tụng trong TTDS 14.
6 Cá nhân có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ phải là người đủ 18 tuổi trở lên
- Nhận định: Sai
- CSPL: Khoản 2, 3, 4 Điều 69
- Giải thích:
15."Đương sự là người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng
dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự hoặc pháp luật có quy định khác" Như vậy, ngoài việc trừ người mất năng lực hành
vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, nếu trong trường hợp pháp luật có quy định khác, thì người chưa đủ mười tám tuổi vẫn có thể có đầy đủ năng lực hành vi
tố tụng dân sự hoặc ngược lại người từ đủ mười tám tuổi trở lên vẫn có thể không có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Đo đó, để xác định đúng năng lực hành vi tố tụng dân sự của một người cụ thể, ngoài quy định của BLTTDS Toà án phải xem xét có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định khác về năng lực hành vi tố tụng dân sự hay không
16.Ví dụ 2: Về trường hợp người từ đủ mười tám tuổi trở lên nhưng không có đầy đủ
năng Iực hành vi tố tụng dân sự Theo quy định tại Điều 41 của Luật hôn nhân và gia đình (Điều 82 Luật HNGĐ 2014, Điều 85 Luật HNGĐ 2014), thì cha, mẹ có thể bị Toà
án ra quyết định không cho trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng củacon hoặc đại diện theo pháp luật của con; do đó, trong thời hạn bị Toà án cấm làm ngườiđại diện theo pháp luật của con, thì cha mẹ không được tham gia tố tụng dân sự với tư cách là người đại diện theo pháp luật cho con trong vụ việc dân sự.”
17.Vì vậy, cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên không phải lúc nào cũng có năng lực hành vi tố
Trang 12- Giải thích: Cơ quan, tổ chức khác khởi kiện thay
21.Quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là quan hệ giữa tòa án, viện kiểm sát, cơ quan thi
hành án, đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch, người định giá tài sản, và những người liên quan phát sinh trong tố tụng dân sự và được pháp luật tốtụng dân sự điều chỉnh
22.Ngoài đương sự thì còn có các chủ thể khác có thể làm phát sinh quan hệ pháp luật tố
tụng dân sự Ví dụ như Toà án, Tòa án là chủ thể đặc biệt, duy nhất được thực hiện quyền lực nhà nước nhằm giải quyết vụ việc dân sự, có quyền ra quyết định buộc các cá nhân, cơ quan tổ chức có liên quan phải thi hành Để thực hiện chức năng, tòa án tham gia vào hầu hết các quan hệ nảy sinh trong tố tụng nên trở thành chủ thể chủ yếu của quan hệ tố tụng dân sự
24.Trong trường hợp đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã tham
gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình thì họ được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó
26.Luật sư tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự
thì chỉ được thực hiện các quyền, nghĩa vụ quy định tại các khoản 1, 6, 16, 17, 18, 19 và
20 Điều 70 BLTTDS 2015 thay cho đương sự
- Giải thích: không phải đương nhiên bị thay đổi
28.Vì thẩm phán là người thân thích của người đại diện đương sự có thể là căn cứ cho
rằng không vô tư khách quan khi thực hiện nhiệm vụ của người tiến hành tố tụng nên theo Khoản 3 Điều 52 BLTTDS 2015 thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu là người thân thích của người đại diện đương sự để đảm bảo vô tư khách quan của những người tiến hành tố tụng
1 Nguyên đơn là cá nhân phải là những người đủ 18 tuổi trở lên và không mất năng lực hành vi dân sự
Trang 13- Nhận định sai.
- CSPL: Điều 69 BLTTDS 2015
- Giải thích:
29.Trong trường hợp đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã tham
gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình thì họ được tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó
2 Người có quyền lời nghĩa vụ liên quan không có quyền đưa ra yêu cầu khi tham gia tố tụng
- Nhận định sai
- CSPL: Điểm b Khoản 1 Điều 73 BLTTDS 2015
- Giải thích: “Có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn
hoặc với bên bị đơn” Do đó, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền
đưa ra yêu cầu độc lập khi tham gia tố tụng
3 Tất cả các đương sự đều có quyền uỷ quyền cho người khác tham gia tố tụng
30.
4 Kiểm sát viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong trường hợp KSV là người thân thích với 1 trong những người tiến hành tổ tụng khác trong vụ việc đó
5 Khi giải quyết vụ án dân sự, Toà án chỉ giải quyết trong phạm vị đơn khởi kiện
6 Người chưa thành niên không thể trở thành người làm chứng trong TTDS
7 Khi có đương sự là người dân tộc, người nước ngoài tham gia tố tụng bắt buộc phải có người phiên dịch cho họ
8 Thư ký toà án có quyền chủ trì phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải
9 Người ký tên trong đơn khởi kiện là nguyên đơn trong VADS
10 Người không gây thiệt hại cho nguyên đơn thì không là bị đơn trong VADS
11 Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố tại phiên toà sơ thẩm
Phần 2 Bài tập
Anh/ chị hãy nhận xét hành vi tố tụng trên của Tòa án phúc thẩm?
- Hành vi tố tụng trên của Tòa phúc thẩm là hợp lý.
- Bởi vì đây là tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy
định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS 2015
Đầu tiên, khi Tòa thụ lý vụ án trên thì Chánh án đã phân công cho một thẩm phán
B giải quyết Sau đó, thẩm phán B đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án Khi có kháng cáo của đương sự, thẩm phán B đã được phân công xét xử phúc thẩm vụ án này
Theo quy định tại khoản 3 Điều 53 BLTTDS 2015 về thay đổi Thẩm phán, Hội
thẩm nhân dân : “3 Họ đã tham gia giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm vụ việc dân sự đó và đã ra bản án sơ thẩm, bản án, quyết định phúc thẩm, quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, quyết định giải quyết việc dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, trừ trường hợp là thành viên của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao thì vẫn được tham gia giải quyết vụ việc đó theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.”
Trang 14Như vậy trong tình huống trên, B là thẩm phán đã tham gia giải quyết vụ việc này theo thủ tục sơ thẩm và B đã ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết đối với vụ việc này, mặt khác B cũng không là thành viên của Hội đồng thẩm phán TANCTC, Ủy ban thẩm phán TANDCC nên thuộc trường hợp thay đổi thẩm phán và B sẽ không được tiếp tục tham gia giải quyết vụ việc trên.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 56 BLTTDS 2015 về Quyết định việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án thì HĐXX sẽ ra quyết định hoãn phiên tòa khi thay đổi Thẩm phán
“2 Tại phiên tòa, việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án do Hội đồng xét xử quyết định sau khi nghe ý kiến của người bị yêu cầu thay đổi Hội đồng xét xử thảo luận tại phòng nghị án và quyết định theo đa
số Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư
ký Tòa án thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa Chánh án Tòa án quyết định cử Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án thay thế người bị thay đổi Nếu người bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì thẩm quyền quyết định được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.”
Theo khoản 3 điều 53, ông B tham gia phiên toà tiếp theo vẫn không bị thay đổi (B bị điều chuyển nên C thay tại phiên toà sơ thẩm)
Có thể xét theo khoản 3 điều 52, không vô tư khách quan
- Nội dung tranh chấp: Nguồn gốc diện tích đất và nhà tranh chấp tọa lạc tại K1,
10/2, đường B H N, ấp Đ N, xã H A, TP.B H, tỉnh Đồng Nai Ông L bà D có nhờ người cháu là Ngũ Trung T đứng tên giùm bà D phần tài sản mà bà D đang đứng tên Khi bà D qua đời, ông S bà N ( con của bà D) thấy bà T lấy 1/2 ngôi nhà cùngvới 1/2 thửa đất của mảnh sân trước nhà mà không cần sự đồng ý của ông S, bà
N Nên ông S bà N khởi kiện yêu cầu bà T phải có trách nhiệm hoàn lại cho ông S
bà N giá trị quyền sử dụng diện tích đất 587,8m2 và giá trị căn nhà tọa lạc trên diện tích đất theo giá hiện nay
32.Tuy nhiên, bà T đã kháng cáo, nhà đất đang tranh chấp được Công ty Xây dựng tỉnh
Đồng Nai cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ghi tên bà Ngũ Trung T, với diện tích 120m2, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 587,8m2 Vợ chồng ông L đã làmthủ tục để bà T giữ giùm nhà đất nhưng thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (năm 1983) để đủ điều kiện xuất cảnh Bà T cho rằng nhà đã mua của ông L,
bà D còn đất là của ông Ngũ M (cha bà T), sau đó bà Nguyễn Thị T (mẹ bà T) cho (ngày03/01/1999), có xác nhận của chính quyền địa phương Bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất với nguồn gốc đất mà ông M để lại nên chưa có căn cứ pháp lý để buộc bị đơn thanh toán giá trị nhà và giá trị quyền sử dụng đất cho ông S bà N
- Quyết định của Toà án:
Trang 15 Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Ngũ Trung T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn T;
Hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm dân sự số 02/2016/DS-ST ngày 22/01/2016 của Tòa
án nhân dân tỉnh Đồng Nai về việc “Đòi lại tài sản” giữa Nguyên đơn ông Diệp Thanh S, bà Diệp Minh N kiện Bị đơn bà Ngũ Trung T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
33.
Xác định vấn đề pháp lý có liên quan
34.Bà T được nhờ giữ giùm bà D phần tài sản mà bà đang đứng tên Nhưng sau đó bà đã
mua lại nhà của ông L, bà D, còn phần đất bà đã được mẹ để lại di chúc Vậy bà T có được xác lập quyền sở hữu nhà đất 587,8m2 hay không?
35.
Trả lời câu hỏi:
1 Yêu cầu phản tố là gì? Yêu cầu độc lập là gì?
36.a Yêu cầu phản tố là gì:
- Cơ sở pháp lý: Khoản 4 Điều 72 và Điều 200 BLTTDS 2015.
- Yêu cầu phản tố là yêu cầu của bị đơn đối với nguyên đơn hoặc người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập
- Chủ thể: Bị đơn.
- Bản chất: Yêu cầu này có liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ của bị đơn đối với
nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án đang được giải quyết và nhằm cho vụ án giải quyết chính xác, nhanh chóng hơn nên bị đơn có quyền yêu cầu giải quyết trong cùng vụ án Trong trường hợp,
nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút yêu cầu độc lập thì vụ án vẫn được tiếp tục Khi đó, Tòa án sẽ ban hành quyết định đìnhchỉ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu độc lập và ra thông báo thay đổi địa vị tố tụng cho đúng với tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án
- Phạm vi yêu cầu: Liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với
nghĩa vụ của nguyên đơn
37.b Yêu cầu độc lập:
- Cơ sở pháp lý: Khoản 4 điều 56; Điều 73; Điều 201 BLTTDS 2015.
- Yêu cầu độc lập là yêu cầu của người có quyền và nghĩa vụ liên quan đối với vụ án
có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình
- Chủ thể: Người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
- Bản chất: Nếu giải quyết yêu cầu độc lập sẽ không bảo vệ kịp thời quyền lợi của
người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên yêu cầu này phải được giải quyết trong cùng vụ án Đồng thời, khi yêu cầu độc lập được giải quyết trong cùng vụ án thì vụ án được giải quyết nhanh hơn, tránh việc phải xác định vụ án giải quyết trước sau, kéo dài thời gian giả quyết các vụ án làm mâu thuẫn trong nhân dân trầmtrọng hơn
- Phạm vi yêu cầu: Theo điểm b khoản 1 Điều 73, khoản 1 Điều 201 BLTTDS, người
có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có thể có yêu cầu độc lập hoặc tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn Với quy định trên thì yêu cầu độc lập của
Trang 16người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có thể đối với nguyên đơn hoặc đối với bịđơn.
38.
2 Có phải mọi yêu cầu của bị đơn đưa ra đều là yêu cầu phản tố hay không? Hãy cho biết các điều kiện để một yêu cầu được coi là yêu cầu phản tố?
- Cơ sở pháp lý: Điều 72, 200 BLTTDS 2015.
- Không phải mọi yêu cầu của bị đơn đưa ra đều là yêu cầu phản tố Một yêu cầu
được coi là yêu cầu phản tố khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 200 BLTTDS 2015
- Yêu cầu phản tố phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầuđộc lập;
Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liênquan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn
Yêu cầu đó độc lập, không cùng với yêu cầu mà nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập yêu cầu Toà án giải quyết
39.
3 Có phải mọi yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra đều là yêu cầu độc lập hay không? Hãy cho biết các điều kiện để một yêu cầu được coi là yêu cầu độc lập?
- Cơ sở pháp lý: Điều 73, 201 BLTTDS 2015.
- Không phải mọi yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra đều là
yêu cầu độc lập Một yêu cầu được coi là yêu cầu độc lập khi đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 201 BLTTDS 2015
- Các điều kiện để một yêu cầu được coi là yêu cầu độc lập:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng với bên nguyên đơnhoặc với bên bị đơn
Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ
Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết
Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn
40.
4 Giả sử tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu phản tố thì Tòa
án có bắt buộc phải chấp nhận hay không?
- Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu phản tố thì Tòa án không
bắt buộc phải chấp nhận
- Cơ sở pháp lý: Mục 7 Phần II Công văn số 01/GĐ-TANDTC.
- Giải thích: “Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 235, khoản 1 Điều 236, khoản 1
Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của
Trang 17đương sự tại phiên tòa chỉ được Hội đồng xét xử chấp nhận nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu được thể hiện trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn phản tố của bị đơn, đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” Như vậy, yêu cầu phản tố của bị đơn trong trường hợp trên chỉ được chấp
nhận nếu việc sửa đổi, bổ sung yêu cầu phản tố của họ không vượt quá phạm vi yêucầu phản tố được thể hiện trong đơn phản tố của bị đơn
- CSPL: Khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của BLTTDS 2015
- Giải thích: Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của
BLTTDS 2015, vụ án mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài thì thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thuộc về TAND cấp Tỉnh Như vậy, nếu tại thời điểm thụ lý lại vụ án mà có đương sự ở nước ngoài thì về nguyên tắc vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm của TAND cấp tỉnh Tuy nhiên, đối với trường hợp trong bản án, quyết định PT, GĐT, TT đã giao cho TAND cấp huyện thụ lý, giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm thì TAND cấp huyện phải thụ lý, giải quyết
2 Không phải mọi tranh chấp giữa các thành viên công ty, giữa thành viên công
ty với công ty với nhau đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục
tố tụng dân sự.
- Nhận định: Đúng
- CSPL: Khoản 4 Điều 30 BLTTDS 2015
- Giải thích: Theo quy định tại khoản 4 Điều 30 BLTTDS 2015 thì tranh chấp giữa
công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữ các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty mới thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục TTDS Tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục TTDS Còn tranh chấp giữa các thành viên công ty mà không liên quan dến những vấn đề quy định thì không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục TTDS
“4 Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công
ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.”
Trang 183 Tòa án chỉ giải quyết việc xác định cha mẹ cho con hoặc xác định con cho cha
mẹ khi có tranh chấp.
- Nhận định: Sai
- CSPL: Khoản 4 Điều 28 BLTTDS 2015, khoản 10 Điều 29 BLTTDS 2015
- Giải thích: Theo quy định của pháp luật TTDS, bên cạnh thẩm quyền giải quyết
những tranh chấp về HN và GĐ cụ thể việc xác định cha mẹ cho con hoặc xác định con cho cha mẹ được quy định tại khoản 4 Điều 28 BLTTDS 2015 thì Tòa áncũng có quyền giải quyết những yêu cầu (không có tranh chấp) về HN và GĐ Theo quy định tại khoản 10 Điều 29 BLTTDS 2015 thì yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ đều thuộc thẩm quyền của Tòa án khi có tranh chấphoặc không có tranh chấp
4 Trong mọi trường hợp, nguyên đơn chỉ có thể yêu cầu Tòa án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết tranh chấp khi đương sự đã có thỏa thuận với nhau bằng văn bản.
- Nhận định: Sai
- CSPL: Điểm b, c khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015.
- Giải thích: Căn cứ vào khoản 2 Điều 29 BLTTDS 2015 quy định:
“Điều 39 Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ
1 Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:
b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ
sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.”
- Trong trường hợp hai bên có thỏa thuận nhưng đối tượng tranh chấp là bất động
sản thì chỉ có Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết
- Trong trường hợp hai bên có thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án
nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn chỉ trong trường hợp:
Phải là Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc Tòa án nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức
Việc lựa chọn đó không trái với quy định về thẩm quyền được quy định tại Điều
35 và Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự tức là phải đúng qui định về cấp Tòa án có thẩm quyền
Nếu việc thỏa thuận chọn trước một Tòa án cụ thể giải quyết mà không đúng thẩmquyền thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án được xác định là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là
cơ quan, tổ chức được quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015, trừ trường hợp nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết theo quy định tại Điều 40 BLTTDS 2015
Trang 195 Tòa án nơi bị đơn cư trú là Tòa án nơi bị đơn có hộ khẩu thường trú.
- Nhận định: Sai
- CSPL: Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng
thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều
192 BLTTDS năm 2015
- Giải thích: Căn cứ theo Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017
của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn một số quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 192 BLTTDS năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án quy định:
“Địa chỉ nơi cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được xác định như sau:
a) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch Việt Nam trở về Việt Nam sinh sống thì nơi cư trú của họ là địa chỉ chỗ ở hợp pháp mà người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thường trú hoặc tạm trú hoặc đang sinh sống theo quy định của Luật cư trú;
b) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài đang cư trú tại Việt Nam thì nơi cư trú của họ được xác định theo quy định của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; c) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài, người Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài thì nơi cư trú của họ được xác định căn
cứ vào tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp hoặc theo tài liệu, chứng cứ
do cơ quan có thẩm quyền cấp, xác nhận;
d) Nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức
có quốc tịch Việt Nam thì địa chỉ của cơ quan, tổ chức được xác định là nơi cơ quan, tổ chức đó có trụ sở chính hoặc chi nhánh theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc theo quy định của pháp luật.”
Do đó, không phải mọi trường hợp Tòa án nơi bị đơn cư trú là Tòa án nơi bị đơn
- Nguyên đơn là Đ, do Đ là người khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân
sự
- Bị đơn là Ph, do Ph là người bị nguyên đơn (Đ) khởi kiện.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Không.
Cơ sở pháp lý: Khoản 2, 3, 4 Điều 68 BLTTDS 2015
2 Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp.
Tranh chấp trên là tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Đ và Ph nên đây là quan hệ pháp luật dân sự
3 Xác định Tòa án có thẩm quyền.
Trang 20Tranh chấp trên là tranh chấp về hợp đồng dân sự theo khoản 3 điều 26 BLTTDS
2015 Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tranh chấp trên
Phần 3 Phân tích án
Tóm tắt tình huống:
- Nguyên đơn: Ông Trần Minh Hoàng – Đại diện Hộ Kinh doanh Cơ sở Hoa kiểng
Bảy Hương (gọi tắt là Cơ sở Hoa kiểng Bảy Hương)
- Bị đơn: Công ty Cổ phần Tập đoàn Khang Thông (Tên cũ: Công ty Cổ phần Xây
dựng Thương mại Dịch vụ Khang Thông) (gọi tắt là Công ty Khang Thông)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thu Hương, sinh năm
1965
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Ngọc Luận, sinh năm 1980; Ông Nguyễn Vũ
Lâm, sinh năm 1965
- Nội dung tranh chấp:
Vào các ngày 17/9/2010, 25/11/2010 và 06/12/2010, ông Trần Minh Hoàng – Đại diện Cơ sở Hoa kiểng Bảy Hương và Công ty Khang Thông xác lập hợp đồng mua cây ăn trái và cây kiểng số 29/HĐMC.2010 (gọi tắt là hợp đồng 29), hợp đồng mua cây ăn trái và cây kiểng số 41/HĐMC.2010 (gọi tắt là hợp đồng 41) và hợp đồng mua cây cảnh quan số 46/HĐMC.2010 (gọi tắt là hợp đồng 46)
Công ty Khang Thông không thanh toán số tiền như thỏa thuận cho Cơ sở Hoa Kiểng Bảy Hương nên phát sinh tranh chấp
+ Về phía Nguyên đơn:
Giá trị hợp đồng Nguyên đơn đã thực hiện theo hợp đồng 29 là 2.510.000.000 đồng, Bị đơn đã thanh toán 1.000.000.000 đồng, còn nợ 1.510.000.000 đồng theo biên bản thanh lý hợp đồng mua cây số 29/TLHĐMC.2011 ngày 30/3/2011
Giá trị hợp đồng Nguyên đơn đã thực hiện theo hợp đồng 41 là 4.298.000.000 đồng, Bị đơn đã thanh toán 500.000.000 đồng, còn nợ 3.751.000.000 đồng theo biên bản thanh lý hợp đồng số 41/TLHĐMC.2011 ngày 02/6/2011
Giá trị hợp đồng Nguyên đơn đã thực hiện theo hợp đồng 46 là 4.770.000.000 đồng, Bị đơn chưa thanh toán, còn nợ 4.770.000.000 đồng theo biên bản nghiệm thu ngày 09/4/2012 và 810.000.000 đồng theo biên bản nghiệm thu ngày
+ Về phía bị đơn:
Bị đơn xác nhận có ký với bên Nguyên đơn các hợp đồng 29, 41, 46 và biên bản thanh lý hợp đồng 29, 41 Phía Bị đơn không đồng ý trả do quan hệ pháp luật tranhchấp trong vụ án là kinh doanh thương mại chứ không phải tranh chấp về đòi lại tài sản, các hợp đồng và văn bản hai bên xác lập vào thời điểm năm 2010 đến
2012 nhưng đến nay Nguyên đơn mới khởi kiện, như vậy là đã quá thời hạn 02