1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thảo luận tố tụng hình sự buổi 6 đến buổi 11

21 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 57,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BUỔI 6 ĐIỀU TRA VAHS I NHẬN ĐỊNH 1 Cơ quan có thẩm quyền KTVAHS là cơ quan có thẩm quyền điều tra Nhận định Sai CSPL Điều 153, Điều 163 BLTTHS 2015 Giải thích Cơ quan có thẩm quyền KTVAHS gồm Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt đông điều tra, Viện kiểm sát và Hội đồng xét xử Cơ quan có thẩm quyền điều tra Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt đông điều tra Vì vậy không phải cơ quan có thẩm quyền KTVAHS cũng là cơ quan có thẩm quyền điều.

Trang 1

BUỔI 6: ĐIỀU TRA VAHS

Cơ quan có thẩm quyền điều tra: Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt đông điều tra

Vì vậy không phải cơ quan có thẩm quyền KTVAHS cũng là cơ quan có thẩm quyền điều tra

2 Cơ quan có thẩm quyền điều tra VAHS có thẩm quyền khởi tố bị can.

4 Trong trường hợp không gia hạn, thời hạn tạm giam để điều tra luôn ngắn hơn thời hạn điều tra VAHS.

Như vậy, các hoạt động điều tra có thể được tiến hành trước khi có quyết định KTVAHS

6 Các hoạt động điều tra đều phải có người chứng kiến.

Vì vậy, không phải hoạt động điều tra nào cũng cần có người chứng kiến

7 Kiểm sát viên có quyền tiến hành tất cả các hoạt động điều tra.

Nhận định: Sai

CSPL: Khoản 1 Điều 190, Khoản 1 Điều 191, Khoản 3 Điều 193 LTTHS 2015

Trang 2

Giải thích: Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 190, khoản 1 Điều 191, khoản 3 Điều 193 Điều tra viên phải thông báo choVKS cùng cấp cử KSV nhằm mục đích “kiểm sát” việc nhận dạng, nhận biết giọng nói, khám xét người Do đó, trong một sốhoạt động điều tra Kiểm sát viên phải tham gia nhưng không có quyền tiến hành.

8 Khám xét người có thể được tiến hành trước khi có quyết định KTVAHS.

cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án" Như vậy, khám xét người có thể được tiến hành trước khi có quyết định KTVAHS.

9 Trong mọi trường hợp, không được bắt đầu khám xét chỗ ở vào ban đêm.

Do đó, nếu bị can là quân nhân tại ngũ thực hiện tội phạm nhưng không trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tratình trạng sẵn sàng chiến đấu thì không thuộc thẩm quyền xét xử của CQĐT trong QĐND mà thuộc về CQĐT của CAND

11 Khi xác định vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra của mình, CQĐT có thể ủy thác cho CQĐT khác để tiến hành điều tra.

12 Nếu không nhất trí với quyết định áp dụng BPNC của VKS thì CQĐT có quyền không thực hiện và kiến nghị với VKS cấp trên trực tiếp.

Nhận định: Sai

CSPL: khoản 2 Điều 167 BLTTHS 2015

Giải thích:

Trong trường hợp không nhất trí với quyết định áp dụng BPNC của VKS thì CQĐT vẫn phải thực hiện quyết định nhưng

có quyền kiến nghị với VKS cấp trên trực tiếp

Trang 3

“2 Đối với quyết định quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 165 của Bộ luật này nếu không nhất trí, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra vẫn phải thực hiện nhưng có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị của Cơ quan điều tra hoặc trong thời hạn 05 ngày kể

từ ngày nhận được kiến nghị của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp phải xem xét, giải quyết và thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan đã kiến nghị.”

13 Trong mọi trường hợp kết thúc điều tra, CQĐT đều phải làm bản kết luận điều tra.

1 CQĐT sẽ giải quyết tình huống này như thế nào?

Căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 29 BLHS:

“2 Người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự khi có một trong các căn cứ sau đây:

b) Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa; …”

Theo đó, để có thể miễn trách nhiệm hình sự người phạm tội phải đảm bảo 2 yếu tố:

- Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo

- Không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa

Vì vậy, nếu bị can A đảm bảo được hai yếu tố nêu trên thì A sẽ được miễn TNHS Còn bị can B vẫn phải chịu TNHS

Nếu thuộc điểm b khoản 2 Điều 29 BLHS thì đình chỉ điều tra theo điểm a khoản 1 Điều 230, nếu A chỉ mắc bệnh hiểmnghèo thì tạm đình chỉ điều tra theo điểm b khoản 1 Điều 229

Tình huống bổ sung thứ nhất

Trong quá trình điều tra vụ án, khi tiến hành lấy lời khai của C, Điều tra viên đã không mời cha mẹ C tham dự Nhưng sau

đó, Điều tra viên lại yêu cầu cha mẹ ký vào biên bản lấy lời khai

2 Nêu hướng giải quyết của Viện kiểm sát khi phát hiện được tình tiết nêu trên trong quá trình kiểm sát việc điều tra vụ án?

Khi phát hiện được tình tiết nêu trên trong quá trình kiểm sát việc điều tra vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ vụ

án, yêu cầu Cơ quan điều tra điều tra bổ sung vì đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng theo điểm d khoản 1 Điều 245BLTTHS 2015, khi lấy lời khai của C thì phải có người đại diện hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ tham dựtheo khoản 2 Điều 421 BLTTHS 2015 nhưng trong trường hợp trên ĐTV không mời cha mẹ C tham dự

Tuy nhiên, Viện kiểm sát không trả hồ sơ để điều tra bổ sung nếu sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng đó không ảnhhưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng theo điểm a khoản 3 Điều 4 TTLT 01/2010

Trang 4

Tình tiết bổ sung thứ hai: Có đủ căn cứ cho thấy B còn phạm thêm tội cướp tài sản.

3 Nêu hướng giải quyết của CQĐT trong trường hợp này?

Theo Điều 156 BLTTHS 2015 thì CQĐT sẽ ra quyết định bổ số quyết định khởi tố VAHS vì có căn cứ cho rằng B phạm tộicướp tài sản và tội này chưa bị khởi tố

Bên cạnh đó, theo Điều 170 Bộ luật này thì CQĐT có thể nhập vụ án để tiến hành điều tra

Tình tiết bổ sung thứ 3

Khi CQĐT đang làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố B thì B bỏ trốn và không xác định được B ở đâu; A chết vì bệnhhiểm nghèo

4 Nêu hướng giải quyết của CQĐT trong trường hợp này?

Căn cứ theo Điều 231 BLTTHS 2015, khi CQĐT đang làm bản kết luận điều tra đề nghị truy tố B mà B bỏ trốn thì CQĐTphải ra quyết định truy nã B sau đó ra quyết định tạm đình chỉ điều tra theo điểm a khoản 1 Điều 229

Căn cứ theo khoản 1 Điều 230 BLTTHS, A chết vì bệnh hiểm nghèo thuộc trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 157BLTTHS 2015 Như vậy, CQĐT phải ra quyết định đình chỉ điều tra

Bài tập 3

A và B cùng sinh năm 1970, sống tại Quận 8, TPHCM Ngày 01/03/2013, Tổ công tác phòng chống tội phạm ma túy công

an Q8 đang làm nhiệm vụ tại khu vực thì bắt quả tang A đang trên đường đi bán 02 bánh heroin có trọng lượng 754 gram Theo

hồ sơ vụ án, sau khi bắt A, CQĐT đã tiến hành khám xét nhà A nhưng chưa có lệnh Tại nhà A, CQĐT phát hiện 04 bánh heroin

có trọng lượng 1,5kg và 150 triệu đồng CQĐT đã lập biên bản thu giữ 04 bánh heroin và 150 triệu đồng A khẳng định số tiềntrên thuộc khối tài sản do gia đình làm ra nên đã làm đơn yêu cầu được trả lại CQĐT đã khởi tố A về 2 tội: Tội tàng trữ tráiphép chất ma túy (khoản 1 Điều 249 BLHS 2015) và Tội mua bán trái phép chất ma túy (khoản 1 Điều 251 BLHS 2015)

Câu hỏi:

1 Việc CQĐT tiến hành khám xét nhà A như trên đúng hay sai? Vì sao?

Việc CQĐT tiến hành khám xét nhà A mà chưa có lệnh khám xét là sai Vì căn cứ theo khoản 1 Điều 193 BLTTHS 2015,CQĐT có quyền ra lệnh khám xét và lệnh khám xét của CQĐT phải được VKS có thẩm quyền phê chuẩn trước khi thi hành

2 Giả sử A chứng minh được số tiền 150 triệu đồng không liên quan đến vụ án thì được giải quyết như thế nào?

Căn cứ theo khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

“3 Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền: a) Trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó”.

Nếu A chứng minh được số tiền đó không liên quan đến vụ án thì CQĐT phải trả lại số tiền này cho A

3 Giả sử CQĐT xác định hành vi phạm tội của A thuộc khoản 2 Điều 249 và khoản 2 Điều 251 BLHS 2015 nên đã ra quyết định thay đổi quyết định KTVAHS Nhận xét cách giải quyết trên của CQĐT trong trường hợp này?

Cách giải quyết trên của CQĐT trong trường hợp này là không hợp lý Vì theo khoản 3 Điều 8 TTLT

04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP: “Không thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu qua điều tra xác định được hành vi của bị can phạm vào khoản khác của tội danh đã khởi tố.” Do đó, trong trường hợp này, CQĐT không cần ra quyết định thay đổi quyết

Trang 5

Căn cứ vào khoản 1 Điều 239 BLTTHS 2015 có quy định:

“Đối với vụ án do Viện kiểm sát cấp trên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp trên quyết định việc truy tố Chậm nhất là 02 tháng trước khi kết thúc điều tra, Viện kiểm sát cấp trên phải thông báo cho Viện kiểm sát cấp dưới cùng cấp với Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án để cử Kiểm sát viên tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án Ngay sau khi quyết định truy tố, Viện kiểm sát cấp trên ra quyết định phân công cho Viện kiểm sát cấp dưới thực hành quyền công tố

và kiểm sát xét xử; sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng, Viện kiểm sát cấp dưới có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử theo đúng quy định của Bộ luật này”.

Qua đó, ta thấy có trường hợp VKS cấp trên thực hiện quyền công tố và kiểm sát điều tra thì VKS cấp dưới thực hànhquyền công tố và kiểm sát xét xử

3 Khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung thì VKS phải chuyển hồ sơ cho CQĐT để tiến hành điều tra.

Nhận định: Sai

CSPL: khoản 3 Điều 236 BLTTHS 2015

Giải thích:

Theo khoản 3 Điều 236 thì VKS vẫn có thể tự mình tiến hành một số hoạt động điều tra mà xét thấy không cần thiết phải

trả hồ sơ cho CQĐT: “3 Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra nhằm kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ để quyết định việc truy tố hoặc khi Tòa án yêu cầu điều tra bổ sung mà xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra.”

4 Khi cần thiết, VKS có quyền tiến hành một số hoạt động điều tra trong giai đoạn truy tố.

Vì vậy, khi cần thiết thì VKS có quyền tiến hành một số hoạt động điều tra trong giai đoạn truy tố

5 Vụ án có thể được phục hồi khi VKS đã ra quyết định đình chỉ vụ án.

Trang 6

Vì vậy, nếu hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì VKS không thể ra quyết định phục hồi vụ án.

1 VKS nào có thẩm quyền quyết định việc truy tố bị can A, B?

Hành vi giết 4 người của A và B được thực hiện tại tỉnh N nên theo khoản 1 Điều 269 BLTTHS 2015 thì Tòa án nhân dânthuộc tỉnh N có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án trên

Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định việc truy tố bị can A, B là Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N Vì theo Khoản 1 Điều

239 BLTTHS 2015 thì thẩm quyền truy tố thì Viện kiểm sát được xác định theo thẩm quyền xét xử của Tòa án đối với vụ án màthẩm quyền xét xử vụ án của A và B thực hiện hành vi giết 4 người (Điều 123 BLHS 2015) tại Tỉnh N thuộc Tòa án Nhân dânTỉnh N theo điểm c khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 268 BLTTHS 2015

2 VKS nào có trách nhiệm thực hành quyền công tố tại phiên tòa?

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N sẽ có trách nhiệm thực hành quyền công tố tại phiên tòa Vì theo khoản 1 Điều 239BLTTHS 2015 thì Viện kiểm sát cấp nào thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra thì Viện kiểm sát cấp đó quyết định việctruy tố Do Tòa án nhân dân tỉnh N có thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh N thực hành quyềncông tố tại phiên tòa

3 Lệnh tạm giam bị can A, B của CQĐT BCA vẫn còn thời hạn VKS có thể tiếp tục sử dụng lệnh tạm giam này không hay phải ra lệnh tạm giam mới? Cơ sở pháp lý?

VKS có thể tiếp tục lệnh tạm gia bị can A, B của CQĐT BCA vẫn còn thời hạn

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 18 TTLT 04/2018:

“2 Ngay sau khi nhận hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên phải kiểm tra thời hạn tạm giam bị can để báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát xem xét, quyết định như sau:

a) Nếu thời hạn tạm giam để điều tra theo lệnh tạm giam của Cơ quan điều tra hoặc theo quyết định gia hạn tạm giam của Viện kiểm sát vẫn còn mà bằng hoặc dài hơn thời hạn quyết định việc truy tố quy định tại khoản 1 Điều 240 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với tội phạm đang xem xét quyết định việc truy tố và xét thấy cần thiết phải tiếp tục tạm giam bị can trong giai đoạn truy tố thì Viện kiểm sát tiếp tục sử dụng lệnh tạm giam hoặc quyết định gia hạn tạm giam đó mà không phải ra lệnh tạm giam mới;”.

4 VKS phát hiện A là người chưa thành niên nhưng CQĐT đã không chỉ định người bào chữa cho A trong giai đoạn điều tra VKS giải quyết như thế nào?

* TH1: Người bị buộc tội khi thực hiện hoạt động điều tra, truy tố, xét xử là người dưới 18 tuổi

Căn cứ theo điểm o khoản 1 Điều 4 và điểm b khoản 1 Điều 76 thì CQĐT đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vì đãkhông chỉ định người bào chữa cho A (người chưa thành niên) trong giai đoạn điều tra, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợiích chính đáng của A, có thể gây ra thiệt hại về vật chất, tinh thần cho A Do đó, trong trường hợp này VKS ra quyết định trả hồ

sơ vụ án để CQĐT điều tra bổ sung theo quy định điểm d khoản 1 Điều 245 BLTTHS 2015 và điểm b khoản 1 Điều 6 TTLT02/2017/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP

“Điều 6 Phối hợp thực hiện trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong các trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 245 và điểm d khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng hình sự

1 Khi có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì Viện kiểm sát, Tòa án trả hồ

sơ để điều tra bổ sung:

b) Không chỉ định, thay đổi hoặc chấm dứt việc chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội theo quy định tại Điều 76 và Điều 77 của Bộ luật Tố tụng hình sự;”

Trang 7

* TH2: Người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi nhưng khi thực hiện hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì họ đã đủ 18 tuổi.Theo khoản 2 Điều 6 TTLT 02/2017/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP thì VKS không cần trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

“2 Viện kiểm sát, Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, nhưng không xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng;

b) b) Người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi nhưng khi thực hiện hoạt động điều tra, truy

tố, xét xử thì họ đã đủ 18 tuổi.”

5 Khi đang xem xét quyết định việc truy tố thì B bỏ trốn VKS giải quyết như thế nào?

Theo Điều 247 BLTTHS 2015 thì VKS vẫn tiếp tục truy tố B và không tạm đình chỉ vụ án cũng như không truy nã B vìthời hạn quyết định việc truy tố chưa hết

Bài tập 2

A và B bị VKSND tỉnh X truy tố về tội giết người Giả sử TAND tỉnh X xác định những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ

vụ án chưa đủ cơ sở kết luận A và B phạm tội giết người và trả hồ sơ để VKS điều tra bổ sung Nhận thấy không thể tự mình bổsung được nên VKS trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung

Câu hỏi:

1 Thời hạn để điều tra bổ sung trong trường hợp này được pháp luật quy định là bao lâu?

Do xác định những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chưa đủ cơ sở kết luận A và B phạm tội giết người nên TAND

đã trả hồ sơ lại để yêu cầu bổ sung Nên căn cứ theo khoản 2 điều 174 BLTTHS 2015, thời hạn điều tra bổ sung không quá 01tháng Đồng thời, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung 01 lần và HĐXX được trả hồ sơ điều tra

bổ sung 01 lần Thời hạn điều tra bổ sung được tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ và yêu cầu điều tra

2 Giả sử kết quả điều tra bổ sung cho thấy A và B phạm tội cố ý gây thương tích thì VKS giải quyết như thế nào?

Trong trường hợp này VKS phải ra bản cáo trạng mới truy tố A và B về tội phạm cố ý gây thương tích thay thế bản cáotrạng cũ về tội giết người và chuyển hồ sơ đến Tòa án theo Khoản 1 Điều 246 BLTTHS 2015

3 Giả sử trong giai đoạn truy tố, có kết luận giám định tư pháp xác định bị can mắc bệnh hiểm nghèo nên đã ra quyết định tách vụ án Hỏi quyết định của VKS có đúng không? Tại sao?

Trường hợp bị can A được xác định mắc bệnh hiểm nghèo, nếu việc tách vụ án không ảnh hưởng đến việc xác định sự thậtkhách quan, toàn diện và đã có quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can A thì VKS có quyền ra quyết định tách vụ án.Căn cứ theo khoản 2 Điều 242 BLTTHS 2015

“2 Viện kiểm sát quyết định tách vụ án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây nếu xét thấy việc tách đó không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện và đã có quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can:

a) Bị can bỏ trốn;

b) Bị can mắc bệnh hiểm nghèo;

c) Bị can bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.”

BÀI 8: XÉT XỬ SƠ THẨM VAHS

Trang 8

3 TAND cấp tỉnh và TAND cấp quân khu chỉ được xét xử sơ thẩm những VAHS về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

“2 Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án quân sự cấp quân khu xét xử sơ thẩm những vụ án:

a) Vụ án hình sự về các tội phạm không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực; b) Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài;

c) Vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực nhưng có nhiều tình tiết phức tạp khó đánh giá, thống nhất về tính chất vụ án hoặc liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành; vụ án mà bị cáo là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, người có chức sắc trong tôn giáo hoặc có uy tín cao trong dân tộc ít người”.

Do đó, TAND cấp tỉnh và TAND cấp quân khu có thể xét xử về nhiều loại tội phạm không chỉ là tội phạm đặc biệt nghiêmtrong Ví dụ: về VAHS có yếu tố nước ngoài, những vụ án thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện và TAND cấp khu vựcnhưng có tình tiết phức tạp, hay vụ án mà bị cáo là những người có thẩm quyền THTT trong TTHS,.…

4 Mọi trường hợp VKS rút toàn bộ quyết định truy tố, Tòa án phải ra quyết định đình chỉ vụ án

1 Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 hoặc các điểm 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 157 của Bộ luật này.

b) Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa”

Và Khoản 1 Điều 325 khi VKS rút toàn bộ quyết định truy tố tại phiên tòa trước khi nghị án thì:

“Điều 325 Xem xét việc rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên tòa

2 Trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì trước khi nghị án, Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia phiên tòa trình bày ý kiến về việc rút quyết định truy tố đó”.

Nếu VKS rút trong khi nghị án thì căn cứ vào Khoản 4 Điều 326 BLTTHS 2015:

“4 Trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử vẫn giải quyết những vấn đề của vụ án theo trình tự quy định tại khoản 1 Điều này Nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội thì Hội đồng xét xử tuyên bị cáo không

có tội; nếu thấy việc rút quyết định truy tố không có căn cứ thì quyết định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp”.

Qua đó ta thấy, không phải trường hợp nào VKS rút toàn bộ quyết định truy tố thì Tòa án đều phải đình chỉ vụ án, nếutrong trường hợp theo Điều 325 thì khi VKT rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham giaphiên tòa trình bày ý kiến về việc rút quyết định truy tố đó, còn ở Điều 326 thì Hội đồng xét xử vẫn giải quyết những vấn đề của

vụ án theo trình tự, nếu có căn cứ xác định bị cáo không có tội thì Hội đồng xét xử tuyên bị cáo không có tội; nếu thấy việc rútquyết định truy tố không có căn cứ thì quyết định tạm đình chỉ vụ án và kiến nghị Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Việntrưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp chứ không có đình chỉ vụ án

5 HĐXX sơ thẩm có thể quyết định bắt bị cáo để tạm giam ngay sau khi tuyên án.

Trang 9

CSPL: điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 272 BLTTHS 2015.

Giải thích:

Vì TAQS có thể xét xử sơ thẩm những VAHS mà bị cáo không phải là quân nhân tại ngũ hoặc là người đang phục vụ trongquân đội được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 272 BLTTHS 2015 Ngoài ra TAQS có thẩm quyền xét xử tất cả tội phạm xảy

ra trong địa bàn thiết quân luật nên bị cáo có thể không phải là quân nhân tại ngũ hoặc là người đang phục vụ trong quân đội

7 Khi vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì Tòa án phải chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án có thẩm quyền để tiến hành xét xử.

Khi xét thấy vụ án vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án đã trả hồ sơ thì Viện kiểm sát chuyển lại hồ sơ vụ án đến Tòa

án kèm theo văn bản nêu rõ lý do; nếu Tòa án xét thấy vụ án vẫn không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì việc giải quyết tranh chấp thẩm quyền xét xử thực hiện theo Điều 275 của Bộ luật này Viện kiểm sát phải thực hiện theo quyết định của Tòa án

9 Khi cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh VKS truy tố thì Tòa án phải trả hồ sơ để VKS điều tra bổ sung.

chứ không phải để điều tra bổ sung

10 Trong mọi trường hợp, bị cáo không được trực tiếp đặt câu hỏi với người TGTT khác tại phiên tòa.

11 TAND cấp huyện không có quyền kết án một bị cáo với mức hình phạt trên 15 năm tù.

Nhận định: Sai

CSPL: Điều 268 BLTTHS 2015

Giải thích:

Trang 10

Theo khoản 1 Điều 268 BLTTHS 2015 thì TAND cấp huyện XXST những VAHS về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạmnghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm quy định tại điểm a, b, c, d Điều khoản này Tội phạm rất nghiêmtrọng theo Điều 9 BLHS 2015 có khung hình phạt cao nhất là 15 năm tù Tuy nhiên, TAND cấp huyện có quyền kết án một bịcáo với mức hình phạt trên 15 năm tù nếu bị cáo phạm nhiều tội và tổng hợp hình phạt là trên 15 năm tù.

Vì vậy, TAND cấp huyện có quyền kết án một bị cáo với mức hình phạt trên 15 năm tù

12 Khi VKS rút quyết định truy tố trước ngày mở phiên tòa thì Tòa án phải đình chỉ vụ án.

Vì vậy, không phải khi nào VKS rút quyết định truy tố trước ngày mở phiên tòa thì TA phải đình chỉ vụ án

13 Sau khi kết thúc việc xét hỏi, Kiểm sát viên có quyền kết luận về tội nặng hơn đối với bị cáo.

đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm tuyên phạt A 03 năm tù giam

Câu hỏi:

1 Nhận xét về cách giải quyết của VKS.

Cách giải quyết trên của VKS phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 155 BLTTHS 2015 vì việc rút đơn yêu cầu của B là

do bị ép buộc bởi gia đình của A nên VKS vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng với vụ án (VKS giữ nguyên bản cáo trạng và Tòa án mởphiên tòa xét xử sơ thẩm)

2 Tại phiên tòa sơ thẩm, B tự nguyện rút yêu cầu khởi tố vụ án thì HĐXX sẽ giải quyết như thế nào?

Tại phiên tòa sơ thẩm, B tự nguyện rút yêu cầu khởi tố vụ án thì HĐXX sẽ xét xử theo thủ tục rút gọn căn cứ vào khoản 2Điều 155, Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự ra quyết định đình chỉ vụ án

CSPL: Công văn 254 TANDTC-PC

Tình tiết bổ sung thứ hai

Giả sử A là người chưa thành niên và tại phiên tòa sơ thẩm A từ chối người bào chữa chỉ định cho mình, nhưng người đạidiện của A không từ chối

3 Nêu hướng giải quyết của HĐXX?

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 77 BLTTHS 2015:

“Điều 77 Thay đổi hoặc từ chối người bào chữa

1 Những người sau đây có quyền từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa:

a) Người bị buộc tội;

b) Người đại diện của người bị buộc tội;

c) Người thân thích của người bị buộc tội.”

Căn cứ vào d.2 điểm d Mục 3 Phần II Nghị quyết số 03-2004

“Trong trường hợp bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà cả bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo vẫn giữ nguyên ý kiến từ chối người bào chữa thì cần phải ghi vào biên bản phiên tòa và tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung mà không có sự tham gia của người bào chữa đã dược cử Nếu chỉ có bị cáo từ chối người bào chữa, còn người đại diện hợp pháp của bị cáo không từ chối người bào chữa hoặc chỉ có người đại diện hợp pháp của bị cáo từ

Ngày đăng: 28/05/2022, 15:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w