Lời mở Chúng ta từng biết đến người con của dòng sông Tô, phủ Hoài Ðức qua những trang văn nổi tiếng trong Dế mèn phiêu lưu kí hay những bức tranh hiền lành vùng dệt lĩnh ven đô không gian nghệ thuật quen thuộc trong sáng tác của nhà văn Tô Hoài Nếu như trước cách mạng, ông nổi tiếng với những tác phẩm viết cho thiếu nhi, thì sau Cách mạng tháng Tám, người ta lại biết đến Tô Hoài nhiều hơn qua những tác phẩm đặc sắc viết về vùng cao trong tập Truyện Tây Bắc mà nổi tiếng nhất có lẽ phải kể đến tá[.]
Trang 1Lời mở: Chúng ta từng biết đến người con của dòng sông Tô, phủ Hoài Ðức qua
những trang văn nổi tiếng trong Dế mèn phiêu lưu kí hay những bức tranh hiền
lành vùng dệt lĩnh ven đô - không gian nghệ thuật quen thuộc trong sáng tác của nhà văn Tô Hoài Nếu như trước cách mạng, ông nổi tiếng với những tác phẩm viết cho thiếu nhi, thì sau Cách mạng tháng Tám, người ta lại biết đến Tô Hoài nhiều
hơn qua những tác phẩm đặc sắc viết về vùng cao trong tập Truyện Tây Bắc mà nổi tiếng nhất có lẽ phải kể đến tác phẩm: Vợ chồng A Phủ - tác phẩm đuợc giải Nhất
về văn xuôi (1954-1955)
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
1.1 Cuộc đời
Nhà văn Tô Hoài (1920 - 2014) tên thật là Nguyễn Sen, sinh tại quê nội Thanh Oai,
Q Hà Ðông, Hà Nội, và lớn lên tại quê ngoại thị trấn Nghĩa Ðô, Từ Liêm, Hà Nội
- Tô Hoài là một trong những nhà văn sáng lập ra Hội Nhà văn Việt Nam, là chủ tịch đầu tiên của Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội
- Các giải thuởng tiêu biểu của ông: Giải nhất tiểu thuyết với tác phẩm Truyện Tây Bắc của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1956, giải A với tiểu thuyết Quê nhà giải
thuởng Hội Văn nghệ Hà Nội năm 1967, giải thuởng Hoa Sen của Hội Nhà văn Á
Phi với tiểu thuyết Miền Tây năm 1970 Ông được trao Giải thuởng Hồ Chí Minh
về văn học - nghệ thuật đợt 1 năm 1996
- Chỉ được học hết bậc Tiểu học, phải làm nhiều nghề để kiếm sống trước khi cầm bút (liên hệ các tác giả: Macxim Gorki (Nga), Nguyên Hồng, Kim Lân (Việt Nam)
để thấy vai trò của “truờng đời” và tự học đối với sự thành công của các nghệ sĩ)
• Gắn bó sâu sắc với lứa tuổi thiếu nhi - cơ sở của những tác phẩm viết cho trẻ em
• Ði nhiều, vốn sống phong phú, đặc biệt trong lĩnh vực phong tục và sinh hoạt đời thuờng – có những trang viết chân xác, đằm thắm về đất và người nhiều vùng đất, nhất là đất và người Tây Bắc
• Có cái nhìn hồn nhiên, trong trẻo mà sắc sảo, hóm hỉnh, thông minh về các sự vật, hiện tượng, con người trong cuộc sống
Ông từ trần trưa 6.7.2014 tại Hà Nội
1.2 Sự nghiệp
- Tô Hoài là nhà văn có sức sáng tạo dồi dào nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại Hơn 60 năm cầm bút, ông để lại gần hai trăm tác phẩm thuộc đủ các thể loại
Tô Hoài
Trang 2- Thể loại: đa dạng,
- Ðề tài: hai đề tài
* Ðồng thoại về thế giới loài vật
* Cuộc sống, số phận và vẻ đẹp người lao động nghèo ở miền xuôi và miền nguợc
- Nội dung:
* Cái nhìn trìu mến, bao dung, nhân ái, độ luợng với trẻ thơ
* Giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo mới mẻ, độc đáo
• Nghệ thuật:
* Khả năng miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật chân xác, sâu sắc, tinh tế
* Cách kể chuyện sống động, hóm hỉnh, có duyên
* Lời văn: giàu tính tạo hình và chất thơ
- Tác phẩm tiêu biểu: Dế mèn phiêu lưu kí (đồng thoại, 1941), O chuột (tập
truyện ngắn về loài vật, 1942), Nhà nghèo (tập truyện ngắn, 1944), Truyện Tây Bắc (tập truyện, 1953), Muời năm (tiểu thuyết, 1967)…
2 Tác phẩm
2.1 Hoàn cảnh ra đời
- 1952: Tô Hoài theo đơn vị bộ đội vào giải phóng Tây Bắc, sống gắn bó với đồng
bào tám tháng “Năm 1952, tôi theo bộ đội chủ lực, tiến quân vào miền Tây, tham
dự chiến dịch giải phóng Tây Bắc… Cái kết quả lớn nhất và trước mắt của chuyến
đi tám tháng ấy là đất nước và con người miền Tây đã để thương để nhớ cho tôi nhiều quá, không thể bao giờ quên”
- Chia tay, Tô Hoài viết tập truyện bằng sự am hiểu tuờng tận cuộc sống, phong tục, nhất là tâm hồn phóng khoáng, tự do phảng chút hoang dại của đồng bằng miền núi; nỗi ám ảnh về những kỉ niệm gắn bó và món nợ ân tình với người Tây Bắc
- “Vợ chồng A Phủ” là một tác phẩm xuất sắc được in trong tập “Truyện Tây Bắc” (1953)
khả năng miêu tả và phân tích tâm lí nhân vật sắc sảo (Ba ý lớn)
• Phần 2: Quá trình vận động từ tự phát tới tự giác của người lao động
2.3 Thành công và hạn chế
Trang 32.3.1 Thành công
“Ý bao quát trong khi tôi viết Truyện Tây Bắc là: Nông dân các dân tộc ở Tây Bắc
bao năm gian khổ chống đế quốc và bọn chúa đất Cuộc đấu tranh giai cấp, riêng
ở Tây Bắc, mang một sắc thái đặc biệt Nhìn luớt qua, nơi thế lực phong kiến còn đương kéo lùi đất nước lại hàng trăm năm trước, chúng ta dễ tuởng những cảnh những người ở đấy cứ muôn thuở lặng lẽ Không, ở nơi rừng núi mơ màng ấy, các dân tộc đã không lặng lẽ chịu đựng Họ đã thức tỉnh Cán bộ của Ðảng tới đâu thì các dân tộc đứng lên tới đấy, trước nhất là những người trẻ tuổi Họ thật đẹp và
yêu đời”
* Ðem vào tác phẩm không khí thời đại
* Thấy được quá trình vận động trong tư tuởng, cuộc sống người lao động: từ cam chịu, khổ nhục đến chủ động giành lấy tự do, hạnh phúc, từ hành động phản kháng
tự phát đến hoạt động cách mạng tự giác
* “Một vấn đề khác nữa là chất thơ trong văn xuôi Ở mỗi nhân vật và trùm lên tất
cả miền Tây, tôi đã đưa vào một không khí vời vợi, làm cho đất nước và con người bay bổng hơn lên”
2.3.2 Hạn chế: Hình tượng nhân vật trung tâm hành động theo sự dàn xếp của tác
giả nhằm chứng minh cho một luận đề: sự giác ngộ đến với cách mạng của quần chúng bị áp bức, đôi chỗ viết dễ dãi
II Ðọc hiểu văn bản
1 Tóm tắt: Mị, một cô gái xinh đẹp, yêu đời, có khát vọng tự do, hạnh phúc, bị
bắt về làm con dâu gạt nợ cho nhà Thống lí Pá Tra Lúc đầu Mị phản kháng nhưng dần dần trở nên tê liệt, chỉ "lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa" Ðêm tình mùa xuân đến, Mị muốn đi chơi nhưng bị A Sử (chồng Mị) trói đứng vào cột nhà A Phủ vì bất bình trước A Sử nên đã đánh nhau và bị bắt, bị phạt vạ và trở thành kẻ ở trừ nợ cho nhà Thống lí Không may hổ vồ mất một con bò, A Phủ đã bị đánh, bị trói đứng vào cọc đến gần chết Mị đã cắt dây trói cho A Phủ, hai người chạy trốn đến Phiềng Sa Mị và A Phủ được giác ngộ, trở thành du kích
2 Chủ đề: Qua việc miêu tả cuộc đời, số phận của Mị và A Phủ, nhà văn đã làm
sống lại quãng đời tăm tối, cơ cực của người dân miền núi duới ách thống trị dã man của bọn chúa đất phong kiến, đồng thời khẳng định sức sống tiềm tàng, mãnh liệt không gì hủy diệt được của những kiếp nô lệ, khẳng định chỉ có sự vùng dậy của chính họ, được ánh sáng cách mạng soi đường sẽ dẫn tới cuộc đời tươi sáng
3 Hình tượng nhân vật
3.1 Nhân vật Mị
3.1.1 Sự xuất hiện của Mị
Trang 4“Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra…”: giọng kể thoảng hương cổ tích ca
dao, chuẩn bị không khí cho mẫu nhân vật cổ tích xuất hiện, tạo tâm thế cho người đọc tiếp nhận một motip quen thuộc
• Không gian: “ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa”, xuất hiện cùng thế giới đồ vật câm lặng
* Vị trí của nhân vật
* Hình ảnh tảng đá câm nín, u uất, bất động, không sinh khí, không sẻ chia (liên hệ
với sự hóa thân của người em trong Sự tích Trầu cau)
• Tu thế: “cúi mặt, mặt buồn ruời ruợi” với nhịp điệu mòn mỏi, thuờng xuyên, lặp lại vô hồn – “lúc nào cũng vậy”
• Ðối lập: hình ảnh một cô gái lẻ loi, đơn độc, u trầm, buồn khổ – cảnh tấp nập, giàu sang nhà thống lí
Nhận xét: tác giả đã phác hoạ hình ảnh người con gái câm lặng như chìm lẫn vào thế giới đồ vật vô tri, không cảm giác Từ đó hé lộ cuộc sống tủi cực, cảnh ngộ éo
le của nhân vật Cách dẫn dắt khéo léo theo điểm nhìn từ xa, bên ngoài tiến gần
hơn vào bên trong để thâm nhập nhân vật; tạo ra mâu thuẫn ở lời kể để vén bức
màn bí mật về một phận người (hỏi ra mới rõ,… cô ấy là vợ A Sử, con trai thống lí
Pá Tra)
3.1.2 Vẻ đẹp
- Mị vốn là đóa hoa đẹp của núi rừng:
+ Nhan sắc rực rỡ tươi thắm tỏa ra sức cuốn hút: Ngày tết, trai làng đến đứng nhẵn
cả chân vách đầu buồng Mị
+ Tâm hồn phong phú, bay bổng, tài hoa: khẽ uốn chiếc lá trên môi là cả thế giới
xa xăm kì diệu sẽ mở ra, Mị thổi sáo giỏi, bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo
- Thế nhưng, hạnh phúc ngắn ngủi và quá đỗi mong manh, bởi Mị sinh ra đã phải
đội trên đầu món nợ truyền kiếp…
3.1.3 Số phận bất hạnh: Con dâu gạt nợ
Câu chuyện Mị về làm dâu:
• Lý do: bố lấy mẹ không đủ tiền cuới, phải vay nhà thống lí, tận khi già mà chưa
trả hết nợ Mẹ chết, thống lí đòi lấy Mị làm con dâu để xoá nợ, mối nợ truyền kiếp,
Trang 5dai dẳng, khó thoát, bóng của kiếp sống nô lệ, cùng khổ đổ lên người dân nghèo qua thế hệ này đến thế hệ khác Câu nói từ bên trong của bố Mị “không thể nào khác được con ơi” giống như một dấu triện đóng lên thân phận nô lệ của Mị
• Phản ứng: đề nghị bố lao động trả nợ chứ quyết không muốn bị bán cho nhà
giàu: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương trả nợ thay cho
bố Bố đừng bán con cho nhà giàu” Ta chợt đau lòng nhớ đến câu nói của cái Tí ngày nào “con van thầy, con van u, thầy u đừng bán con tội nghiệp, để con ở nhà
chơi với em con” (Tắt đèn- Ngô Tất Tố) Ðiều đó cho thấy Mị thà sống vất vả,
nghèo khổ mà tự do còn hơn sống trong giàu sang mà chịu đoạ đày nô lệ Ðó cũng
là khát vọng tự do mãnh liệt và niềm tin trong sáng, hồn nhiên của tuổi trẻ
• Bị nhà thống lí lừa bắt đi, ban đầu “hàng mấy tháng, đêm nào cũng khóc”, nhận
thức sâu sắc tình cảnh quẫn bách của bản thân: sống cũng như chết, Mị đã tìm đến
lá ngón để tự tử Ðây là phản ứng tiêu cực của lòng yêu sống và khát vọng tự do
• Dần dần, cha chết, Mị không còn nghĩ tới cái chết, Mị đã mất đi khả năng phản
ứng với cuộc sống phi nhân tính, thực chất, cô chỉ còn sống đời sống vật chất, còn tinh thần và tâm hồn đã chết, nhẫn nhục, cam chịu, vô hồn
* Cùng với thời gian, “lần lần, mấy năm qua, mấy năm sau”, khi được chết thì Mị lại không buồn chết nữa Cách sử dụng phép đối, cách đếm thời gian chậm rãi, đều đặn cho ta thấy khoảng thời gian đủ để vô hồn hoá con người, nhấn con người vào câm lặng, “Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi” Mị tuởng: mình cũng là con trâu, con ngựa Nhưng không chỉ thế, “Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm
cả đêm cả ngày”- bị bóc lột sức lao động tàn nhẫn Càng ngày, Mị càng lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa Mị đã bị tê liệt khả năng phản ứng với cuộc sống vô nghĩa, phản ứng của con người không còn cảm thấy ý nghĩa cuộc đời, cam chịu sống mảnh đời khuất lấp, quên lãng, như cái cây, tảng đá, đồ vật trong không gian nhà thống lí Từ vị trí con dâu (quyền thế, đáng trọng) đến thân thế: con nợ, người
ở (rẻ rúng, coi thuờng), ta đã đủ thấy cái tàn nhẫn bất công với Mị
• Căn buồng, không gian sống của Mị là một nơi kín mít, chỉ có một chiếc cửa sổ
bé, đúng hơn là chỉ có một lỗ vuông bằng bàn tay, lúc nào trông ra cũng chỉ thấy
mờ mờ trăng trắng, không biết là sương hay là nắng, Mị đã mất hết ý niệm về thời gian Ðó là một không gian tối tăm, bức bối, lạnh lẽo, đầy âm khí- biểu tượng ám gợi về địa ngục trần gian, nơi cầm tù tuổi thanh xuân của con người, biến Mị từ một cô gái trẻ trung phơi phới thành một con người vô cảm, cam chịu
Tóm lại: Mị là hiện thân những đau khổ của người phụ nữ nói riêng, của người
dân miền núi trước Cách mạng nói chung
- Bị bóc lột sức lao động tàn nhẫn, phải làm quần quật như một thứ lao động khổ sai: Tết đến thì lên núi hái thuốc phiện, giữa mùa thì giặt đay, se đay, đến mùa thì
Trang 6đi nương, bẻ bắp bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế, lời văn của Tô Hoài nặng trĩu những day dứt xót xa
- Bị chà đạp về thể xác, bị đánh đập dã man, bị bắt trói bất cứ lúc nào Muốn đi chơi: trói; muốn suởi lửa: trói; làm mất một con bò: trói
- Bị đầy đoạ về tinh thần, Mị trở thành con người vô cảm, bị đè nặng bởi ý nghĩ: ta
là thân đàn bà, bị bắt về trình ma nhà nó rồi, chỉ còn đợi ngày rũ xương ở đây thôi Cuộc sống của Mị ở nhà Thống Lý Pá Tra như ngục thất (ý nghĩa căn buồng
Mị ở) Bị bóng ma vô hình cột chặt cuộc đời nô lệ với nhà Thống lý, nhiều khi trở nên cam chịu, sống mà như chết
Tiểu kết:
Miêu tả cuộc sống làm dâu, nhà văn khám phá một mảng hiện thực mới: cuộc sống, số phận đau khổ của người lao động miền núi – những con người bị cường quyền, thần quyền, cái nghèo, những áp chế về tinh thần đẩy vào tình trạng sống
vô nghĩa, vô cảm Phải chăng cô Mị trẻ đẹp, tràn đầy xuân sắc xuân tình của ngày xưa đã chết? Không, ngòi bút nhân đạo của Tô Hoài đã cho ta thấy, dù lay lắt đói khổ, bị đọa đày cùng cực đến đâu, sức sống của người lao động chỉ tạm thời bị vùi lấp chứ không thể bị triệt tiêu, nó vẫn như đốm than hồng từ lâu âm ỉ cháy, chỉ đợi ngọn gió lành là sẽ bùng lên Và ngọn gió ấy đã tới trong đêm tình mùa xuân, để ta thấy một cô Mị lạc quan, yêu đời đang dần dần hồi sinh trong sự sống
3.1.4 Mị là hiện thân của sức sống tiềm tàng, sức mạnh vùng lên giải phóng
Sức sống tiềm ẩn mà mãnh liệt được thể hiện qua bốn chi tiết:
+ Câu nói phản kháng hôn nhân
+ Ý định ăn lá ngón tự tử
+ Biểu hiện rõ nhất trong đêm hội mùa xuân và đêm đông cởi trói cho A Phủ
3.1.4.1 Sự thức tỉnh và hồi sinh khát vọng sống trong đêm tình mùa xuân
- Khung cảnh:
• Bức tranh mùa xuân: Mùa xuân đã về trên rẻo cao Quyến rũ và say lòng biết
bao là những đêm tình miền núi Năm ấy, Hồng Ngài ăn tết sớm Niềm vui đón xuân như được nhân lên cùng niềm vui thu hoạch mùa màng Vạn vật đổi thay, đất trời như có men say, sự sống đang âm thầm cựa mình xôn xao trong cây cỏ Gió và rét dữ dội thổi vào cỏ gianh vàng ửng, cái màu sắc tươi thắm đang có sức lan tỏa, cựa quậy tự trong linh hồn tạo vật, cái màu sắc tươi vui, đầy sức sống, ánh sáng,
đối lập với không gian sống tăm tối của Mị Trên các mỏm núi: váy hoa xoè như con buớm sặc sỡ, đầy màu sắc, phấn chấn, náo nức Ðám trẻ nô đùa cuời ầm trước sân Tiếng sáo vọng lại thiết tha bồi hồi Thiên nhiên rực rỡ màu sắc, náo nức âm thanh, sự hiện diện của một thế giới căng tràn nhựa sống
• Ðêm tình mùa xuân:
Trang 7* Trong nhà: mọi người nhảy đồng, hát
* Bên ngoài: tiếng sáo gọi bạn yêu lơ lửng ngoài đường, tiếng sáo như có hình, lơ lửng, bồng bềnh, như tình ai không tan, như lòng ai vẫn đợi Ðó là chi tiết trở đi trở lại như một ám ảnh, mời gọi, vương vấn, khơi gợi kí ức và khát vọng yêu, sống trong Mị
* Nội dung tiếng sáo: “Mày có con trai con gái rồi/ Mày đi làm nương/ Ta không
có con trai con gái/Ta đi tìm người yêu”, tiếng sáo mang khát vọng đôi lứa, khát vọng sống
* Không gian, thời gian rạo rực khát vọng, thôi thúc con người tìm đến với men say tình yêu, men say sự sống
- Diễn biến tâm trạng:
• Mị lén lấy hủ rượu, uống ực từng bát…, u uất, mất cảm giác, không sống trong thực tại, mà lặn vào vô thức, như nuốt cả bao nhiêu đau khổ
• Ðột nhiên thấy lòng phơi phới trở lại, có cảm xúc (nhận ra tiếng sáo)
• Nhận thấy mình còn rất trẻ Ý thức về bản thân trở lại: Mị còn trẻ lắm, Mị vẫn còn trẻ, Mị muốn đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi, câu văn như dựng nhân vật dậy, đi lại nôn nao rạo rực trên trang sách
• Lúc sức sống trở về với niềm khao khát nhất thì Mị lại muốn chết: Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ an cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa, nhớ lại chỉ thấy nước mắt ứa ra…khi cảm xúc, ý thức trở về là lúc Mị muốn chết, phi lí
mà logic: ý thức tình trạng sống không bằng chết- giải thoát
• Do tiếng sáo - quên cái chết - xắn miếng mỡ khêu lại đèn, lấy váy, quấn tóc, những động tác nhanh, mạnh, dứt khoát…
* Khát vọng được sống được yêu trở lại, kéo theo hành động: muốn được thấy ánh sáng, muốn làm đẹp, ý thức về sự tồn sinh của mình (Liên hệ chi tiết: Mùi xà phòng trên áo của Ðào trong “Mùa lạc” khi kể cho Huân nghe về duyên mới, sự hồi sinh nữ tính thuờng được các nhà văn sử dụng để biểu trung cho sự trỗi dậy mạnh mẽ, sâu sắc nhất của khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc)
- Sự vùi dập phũ phàng: bị A Sử trói, khát vọng vừa hồi sinh đã bị vùi dập
- Nhưng sợi dây trói của A Sử chỉ trói được thân xác Mị, tâm hồn Mị vẫn bồng bềnh theo những cuộc chơi, những đám chơi Tiếng sáo từ chỗ ở ngoài Mị nay đã thành tiếng lòng của Mị: trong đầu Mị rập rờn tiếng sáo Rập rờn là từ tượng hình,
âm thanh như lá đang reo, như cánh buớm giữa vuờn xuân đang vấy, rạo rực, xôn xao trong lòng thiếu phụ…Cả đêm hôm ấy, Mị lúc mơ, lúc tỉnh Trong bóng tối,
Mị đứng yên lặng, Mị như không biết mình đang bị trói Chân Mị vẫn vùng buớc
đi, đi theo tiếng gọi của tự do Nhưng sợi dây trói thít lại nhắc Mị nhớ cảnh ngục
tù Mị không nghe tiếng sáo nữa Tiếng gọi của sự sống, của tự do đã tắt Chỉ còn tiếng chân ngựa đạp vào vách, khô khan, tàn nhẫn như biểu tượng của thân phận
Trang 8- Ðêm mùa xuân không mảy may làm thay đổi cuộc đời Mị, tuy nhiên nó đã được nhóm lên để chuẩn bị rực cháy trong hành động cứu A Phủ và cứu mình
* Tiểu kết:
Qua nhân vật Mị, nhà văn thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc và mới mẻ:
- Tố cáo thế lực thống trị, cường quyền, thần quyền đã liên kết để cày đạp tước đoạt quyền sống của những con người đáng ra phải được hạnh phúc nhất
- Ðồng cảm sâu sắc với số phận con người nghèo khổ miền núi trước cách mạng
- Khám phá, phát hiện vẻ đẹp, phẩm chất người lao động, đặc biệt là khát vọng sống tự do
1.4.2 Ðêm mùa đông cắt dây trói cứu A Phủ
- Bối cảnh: những đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn, nếu không có ngọn lửa kia Mị cũng chết héo Sáng nào Mị cũng sưởi lửa, hơ tay, lâu lắm rồi, Mị chỉ còn biết, còn ở với ngọn lửa Bị A Sử đánh, đêm sau Mị vẫn ra sưởi, gan lì,
bướng bỉnh Nhà văn gài một chi tiết báo hiệu sự phản kháng của Mị
- Chứng kiến cảnh A Phủ bị bắt, trói:
+ Lúc đầu, Mị thản nhiên: “Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi” Cảnh bị trói đến chết không phải là hiếm hoi ở nhà thống lí Mặt khác, Mị đã chịu đựng quá nhiều đau khổ về thể xác lẫn tinh thần, trơ lì cảm xúc, tê liệt khả năng cảm thông, chia sẻ với cảnh ngộ khốn cùng của người khác Cuộc sống bao năm làm con rùa lầm lũi xó cửa khiến Mị quen cam chịu, nhẫn nhục, sức ì, quán tính quá lớn
+ Hôm sau: lé mắt trông sang, thấy một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm
má đã xám đen lại - chi tiết duy nhất trong đoạn trích thiên về phản ánh nội tâm A Phủ (A Phủ gần như được xây dựng đơn giản hơn Mị: nhân vật của số phận và hành động) nước mắt ở một thanh niên bản lĩnh, gan góc, yêu đời, mạnh mẽ diễn tả sâu xót nỗi đau, sự tủi cực, tình cảnh khốn cùng (có lẽ A Phủ cũng đang hình dung mình sẽ bị trói cho đến chết) Giọt nước mắt tuyệt vọng của người đàn ông khỏe mạnh đã làm thức lên sức mạnh của phái yếu, làm tan chảy cõi lòng giá băng, đánh thức hồi ức đau thương, tuyệt vọng trong quá khứ của Mị Mị chợt nhớ lại mình, thương mình đêm năm trước, cũng bị A Sử trói như thế, nước mắt rơi xuống má, xuống cổ không lau đi được Trời ơi, nó trói người ta đến chết! Mị lại nhớ có người đàn bà đã từng bị trói đến chết trong nhà này Giọt nước mắt nối liền ba số phận Lần đầu tiên, Mị ý thức tội ác của kẻ thù, nhận thấy ta là thân đàn bà, đợi ngày chết
ở đây thôi, người kia việc gì phải chết thế! Nhận thấy việc A Phủ phải chết là một điều vô lí, oan ức, bất công, Mị biết thương người cùng cảnh ngộ
- Ðộc thoại nội tâm: đồng cảm với A Phủ, với những người cùng cảnh ngộ, bất bình, tình thương trỗi dậy
Trang 9- Giả định: A Phủ trốn, Mị bị trói đứng, phải chết trên cái cọc ấy, không sợ: thương
A Phủ quên thân, vị tha chiến thắng vị kỉ
* Tô Hoài đã cắt nghĩa logic hành động của Mị: Mị ý thức tình trạng không còn gì
để mất của mình sâu sắc
- Hành động: rút dao, cắt dây trói cứu A Phủ Ðó là một việc làm táo bạo và hết sức nguy hiểm nhưng nó phù hợp với nét tâm lí của Mị trong đêm mùa đông này Sau khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị cũng không ngờ mình dám làm một chuyện động trời đến vậy Mị thì thào lên một tiếng “đi ngay” rồi Mị nghẹn lại A Phủ
vùng chạy đi còn Mị vẫn đứng lặng trong bóng tối Câu văn được tách riêng thành
một dòng đặc biệt, khoảnh khắc ấy có tính chất quyết định đến cả một cuộc đời Ta
có thể hình dung được nét tâm lí ngổn ngang trăm mối của Mị lúc này Lòng Mị rối bời với trăm câu hỏi: chạy theo A Phủ hay ở đây chờ chết?
- Thế là cuối cùng sức sống tiềm tàng đã thôi thúc Mị phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ Trời tối lắm nhưng Mị vẫn băng đi Buớc chân của Mị như đạp đổ uy quyền, thần quyền của bọn lãnh chúa phong kiến đương thời đã đè nặng tâm hồn
Mị suốt bao nhiêu năm qua Mị đuổi kịp A Phủ và nói lời đầu tiên Mị nói với A Phủ sau bao nhiêu năm câm nín: “A Phủ Cho tôi đi! Ở đây thì chết mất” Ðó là lời nói khao khát sống và khát khao tự do của nhân vật Mị Câu nói ấy chứa đựng biết bao tình cảm và làm quặn đau trái tim bạn đọc Ðó chính là nguyên nhân - hệ quả của việc Mị cắt đứt sợi dây vô hình ràng buộc cuộc đời của mình Thế là Mị và A Phủ dìu nhau chạy xuống dốc núi Hai người đã rời bỏ Hồng Ngài - một nơi mà những kỉ niệm đẹp đối với họ quá ít, còn nỗi buồn đau, tủi nhục thì chồng chất không sao kể xiết Hai người rời bỏ Hồng Ngài và đến Phiềng Sa, nhưng những ngày phía trước ra sao họ cũng chưa biết đến…
- Rõ ràng, trong đêm mùa đông này, sức sống tiềm tàng đóng một vai trò hết sức quan trọng Chính nó đã giúp Mị vuợt lên trên số phận đen tối của mình Mị cứu A Phủ cũng đồng nghĩa với việc Mị tự cứu lấy bản thân mình
- Qua đoạn trích trên, Tô Hoài đã ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ
nữ miền núi nói riêng và những người phụ nữ Việt Nam nói chung Tô Hoài đã rất cảm thông và xót thương cho số phận hẩm hiu, không lối thoát của Mị Thế nhưng bằng một trái tim nhạy cảm và chan chứa yêu thương, Tô Hoài đã phát hiện và ngợi ca đốm lửa còn sót lại trong trái tim Mị Tư tuởng nhân đạo của nhà văn sáng lên ở đó Ðồng thời qua tác phẩm, Tô Hoài cũng đã khẳng định được chân lí muôn đời: ở đâu có áp bức bất công thì ở đó có sự đấu tranh để chống lại nó dù đó là sự vùng lên một cách tự phát như Mị Quả thật qua đó tác phẩm này giúp ta hiểu được nhiều điều trong cuộc sống
* Nhận xét:
• Hành động tự cứu mình của Mị là hành động có tính chất tự phát, nhưng cội nguồn sâu xa của nó là khát vọng sống mãnh liệt
Trang 10• Hành động làm thay đổi vị thế hai con người: nô lệ, cam chịu - tự do, nổi loạn
• Hai nhân vật gặp gỡ nhau trong đau thương, cùng đường, nhờ khát vọng tự do mà vùng lên tự thay đổi cuộc đời
1.5 Một số đặc sắc về nghệ thuật
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật: nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo
Nghệ thuật miêu tả đời sống nội tâm của nhân vật, ít miêu tả hành động bên ngoài, nếu miêu tả thì chú ý những hành động lặp đi lặp lại (thuờng cúi mặt, mặt buồn ruời ruợi)
Muợn hình tượng thiên nhiên để miêu tả tâm trạng (mùa xuân của thiên nhiên của đất trời như gợi lên cả sức sống mùa xuân trong lòng Mị)
Trực tiếp miêu tả diễn biến tâm trạng tinh tế và hợp lý (phân tích cách miêu tả diễn biến tâm trạng Mị theo hai cảnh: Ðêm mùa xuân nghe tiếng sáo gọi bạn và đêm mùa đông cắt dây trói cứu A Phủ)
+ Nghệ thuật kể chuyện: kể chuyện kết hợp nhiều điểm nhìn (bên ngoài, bên trong,
xa, gần), dần dần khám phá thế giới nội tâm sâu thẳm và ngọn lửa sống âm ỉ đằng sau vẻ ngoài vô cảm của Mị
+ Ngôn ngữ, hình ảnh: giàu chất thơ, chân xác Chất thơ ấy, sự chân xác trong miêu tả hiện thực ấy còn được thể hiện rõ hơn nữa trong các nhân vật A Phủ và cha con thống lí Pá tra
3.2 Hình tượng nhân vật A Phủ
3.2.1 Vị trí của nhân vật
3.2.2 Sự xuất hiện: “Một người to lớn chạy vụt ra vung tay ném con quay rất to
vào mặt A Sử Con quay gỗ ngát lăng vào giữa mặt Nó vừa kịp bưng tay lên A Phủ đã xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp" Một đoạn văn ngắn với hàng loạt các động từ cùng lối miêu tả các động tác nhanh, gấp: chạy vụt ra, ném, lăng, xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp cho thấy sức mạnh và tính cách con người A Phủ qua hành động
Cách giới thiệu nhân vật gây ấn tượng, hé mở tính cách quật cường
- Khung cảnh: đêm tình mùa xuân
- Sự kiện: A Phủ đánh A Sử
- Văn cảnh (xét trong hệ thống cốt truyện): khi xung đột trong Mị đang dâng lên, tạo yếu tố kịch tính giữa khát vọng hạnh phúc và hiện thực phũ phàng
3.2.3 Số phận: bất hạnh
- Lai lịch: tuổi thơ đã mồ côi cả cha lẫn mẹ, không còn người thân thích trên đời vì
cả làng không mấy ai qua được trận dịch A Phủ phải đi làm thuê cuốc muớn từ năm 10 tuổi, motip nhân vật mồ côi bất hạnh trong cổ tích