1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích tác phẩm Tuyên ngôn độc lập - Hồ Chí Minh

19 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích tác phẩm Tuyên ngôn độc lập - Hồ Chí Minh
Tác giả Hồ Chí Minh
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử và văn học Việt Nam
Thể loại Bài luận phân tích
Năm xuất bản 1945
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 326,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ Việt Nam, dải đất mảnh mai gầy guộc nằm bên bờ biển Đông suốt lịch sử 4000 năm luôn phải gồng mình lên để sớm chắn bão giông chiều ngăn nắng lửa; gần hai ngàn năm phải chống ngoại bang xâm lược, đô hộ, đồng hoá; độc lập, tự do cho dân tộc, chủ quyền quốc gia đã trở thành lẽ sống còn truyền từ đời này sang đời khác Hơn 1000 năm trước, khi quân xâm lược Tống (Trung Quốc) kéo sang giày xéo bờ cõi, chúng ta đã tuyên bố "Sông núi nước Nam vua Nam ở" Hơn năm trăm năm sau, sau thắng lợi của sự nghiệ[.]

Trang 1

MỞ: Việt Nam, dải đất mảnh mai gầy guộc nằm bên bờ biển Đông suốt lịch sử 4000

năm luôn phải gồng mình lên để sớm chắn bão giông chiều ngăn nắng lửa; gần hai ngàn năm phải chống ngoại bang xâm lược, đô hộ, đồng hoá; độc lập, tự do cho dân tộc, chủ quyền quốc gia đã trở thành lẽ sống còn truyền từ đời này sang đời khác Hơn 1000 năm trước, khi quân xâm lược Tống (Trung Quốc) kéo sang giày xéo bờ cõi, chúng ta đã tuyên bố "Sông núi nước Nam vua Nam ở" Hơn năm trăm năm sau, sau thắng lợi của

sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi ách đô hộ nhà Minh, trong bài Cáo bình Ngô, chúng

ta lại một lần nữa tuyên bố nền độc lập trong không khí hào sảng: "Như nước Đại Việt

ta hùng cứ một phương" Vẫn với một tinh thần ấy và hơn cả như thế, Tuyên ngôn độc lập của Bác đã trở thành đỉnh mốc đánh dấu bước phát triển lớn nhất trong lịch sử phát triển quốc gia dân tộc

I Tìm hiểu chung

1 Tác giả

2 Tác phẩm

2.1 Hoàn cảnh ra đời của bản tuyên ngôn

- Ngày 19/8/45 chính quyền về tay nhân dân

- Ngày 26/8 tại Hàng Ngang - Hà Nội người soạn thảo bản tuyên ngôn độc lập

- Ngày 2/9/45 tại quảng trường Ba Đình, người thay mặt chính phủ đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

2.2 Đối tượng và mục đích sáng tác của bản tuyên ngôn

- Đối tượng:

+ Tuyên ngôn độc lập huớng tới không chỉ đồng bào trong cả nuớc

+ Nhân dân trên thế giới, trước hết là nhân dân tiến bộ ở Pháp và Mỹ

+ Đặc biệt là các lực lượng thù địch và cơ hội quốc tế đang mang dã tâm một lần nữa

nô dịch đất nước ta

- Mục đích:

+ Khẳng định quyền tự do độc lập của dân tộc Việt Nam

+ Bao hàm một cuộc tranh luận ngầm nhằm bác bỏ luận điệu xảo trá của kẻ thù truớc

dư luận thế giới

Lời văn:

- Ngày 19 tháng 8 năm 1945, chính quyền ở Hà Nội về tay nhân dân Ngày 26 tháng 8 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu cách mạng Việt Bắc về tới Hà Nội Tại

Hồ Chí Minh

Trang 2

căn nhà số 48, phố Hàng Ngang, Người biên soạn bản Tuyên ngôn Độc lập Ngày 2.9.1945, tại quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người thay mặt Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc bản Tuyên ngôn Độc lập trước hàng chục vạn đồng bào: “Hôm nay sáng mồng 2 tháng 9/Thủ đô hoa vàng nắng Ba Đình/Muôn triệu tim chờ, chim cũng nín/Bỗng vang lên tiếng hát ân tình/Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh/ Người đứng trên đài, lặng phút giây/Trông đàn con đó, vẫy hai tay/Cao cao vầng trán, ngời đôi mắt/Độc lập bây giờ mới thấy đây” Cả đất nước ngây ngất trong niềm hạnh phúc được sống trong kỉ nguyên mới, chấm dứt bao năm sống trong nô lệ tủi nhục dưới ách thống trị của thực dân phong kiến

- Tuyên ngôn độc lập được viết trong một hoàn cảnh đặc biệt khác thường: đất nước đã giành đuợc độc lập nhưng bọn đế quốc thực dân - đặc biệt là thực dân Pháp đang lăm le quay trở lại nhằm nô dịch đất nước ta một lần nữa Nấp sau quân Đồng minh vào tước khí giới quân đội Nhật: tiến vào từ phía Bắc là quân đội Tưởng Giới Thạch, sau lưng là

đế quốc Mĩ; tiến vào từ phía Nam là quân đội Anh, sau lưng là quân viễn chinh Pháp Chúng nhân danh phe Đồng minh với chiêu bài: lấy lại mảnh đất bảo hộ đã bị bọn Phát xít Nhật chiếm đóng trong chiến tranh Chúng ta phải chống thực dân Pháp - một thành viên chủ chốt của phe Đồng minh nhưng lại nhất thiết không thể chống Đồng minh Đây

là một vấn đề trọng yếu và cũng vô cùng tinh tế, đòi hỏi sự khôn khéo, sáng suốt và bản lĩnh của ng- ười lãnh đạo

2.3 Bố cục

- Đoạn 1: Từ đầu đến “đó là lẽ phải không ai có thể chối cãi được” cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn

- Đoạn 2: Tiếp đó đến “Dân tộc đó phải được độc lập” - Tố cáo tội ác của thực dân Pháp

và khẳng định thực tế lịch sử là nhân dân ta kiên trì đấu tranh và nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước VNDCCH

- Đoạn 3: Còn lại: Lời tuyên ngôn và những tuyên bố về ý chí bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc

II Đọc hiểu văn bản

1 Cơ sở pháp lí của bản tuyên ngôn

- Bác dẫn hai bản tuyên ngôn: Tuyên ngôn Độc lập của nước Mĩ (1776); Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp (1791) -> Hai bản tuyên ngôn được cả thế giới thừa nhận nội dung phù hợp với mơ ước và quyền lợi của con người Đó là chân

lí không ai có thể chối cãi Việc trích dẫn ấy có giá trị sâu sắc Bác tỏ ra trân trọng những danh ngôn bất hủ để chặn đứng âm mưu trở lại xâm lược nước ta của thực dân Pháp

- Người trích dẫn lời bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mĩ: “Tất cả mọi người…hạnh phúc” Bác rất linh hoạt khi kết hợp với ý kiến của mình “suy rộng ra câu ấy có nghĩa là” từ khẳng định quyền con người, Bác đã chuyển nhanh sang quyền của các dân tộc

Trang 3

“tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, daâ tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”

- Người trích dẫn bản Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp:

“Người ta sinh ra… quyền lợi” Người khẳng định: “đó là lẽ phải không ai có thể chối cãi được” Bác xoáy sâu vào quyền bình đẳng mọi mặt của con người Con người hiểu theo nghĩa không phân biệt chủng tộc, màu da, tổ quốc Con người nhân loại Vậy có lí

do gì Pháp xâm lược Việt Nam?

- Bác dẫn lời cha ông họ Ông cha họ đã từng khẳng định, từng tuyên ngôn hùng hồn đanh thép Có lẽ nào chúng lại vô tình đi ngược lại và phản bội lời lẽ của ông cha chúng? Đây chính là phương pháp luận của Bác, là nghệ thuật “gậy ông đập lưng ông” khôn khéo và tế nhị

Lời văn: Phần mở đầu bản tuyên ngôn có giá trị nổi bật về tư tưởng và nghệ thuật lập

luận, tiêu biểu cho phong cách chính luận HCM Tác giả đã khẳng định độc lập dân tộc trên cơ sở những lí lẽ không thể chối cãi

Ngay từ những dòng đầu tiên, Hồ Chí Minh nêu lên những chân lý vĩnh cửu về quyền

tự do của dân tộc, quyền sống của mỗi con người đã được thừa nhận qua nhiều thời kỳ lịch sử ở ngay chính những quốc gia mà bấy giờ chính quyền của họ đang đi ngược lại nguyên tắc đó Bác đã dẫn lời hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của Mỹ và của Pháp, chứa đựng những tư tưởng lớn, đã được thừa nhận của nhân loại, để làm cơ sở pháp lí cho bản tuyên ngôn của VN Cách lập luận của tác giả vừa khôn khéo vừa kiên quyết

- Cách lập luận ấy khôn khéo bởi vì:

+ Thu hút sự chú ý của dư luận Dẫn Tuyên ngôn độc lập của nước Mĩ, Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp chính là biểu hiện của sự mở ra, hoà vào đời sống cộng đồng thế giới của dân tộc Chỉ mới đây thôi, dân tộc còn nô lệ, đất nước còn chưa có tên riêng (mang tên xứ An Nam thuộc Pháp), xã hội còn là xã hội phong kiến thuộc địa cũ kĩ, tù đọng Hôm nay chúng ta đã là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đứng giữa nhân loại trên thế giới Những nội dung, khí phách như thế đã cất lên, vang động khắp hoàn cầu

+ Gợi lại cho người Mĩ và người Pháp nhớ lại những hoàn cảnh tương tự như Việt Nam Cách đó 200 năm, người Mĩ cũng bị áp bức, bị làm nhục như Việt Nam, cũng bị những người Âu châu sang khai thác Câu nói nổi tiếng của thủ tướng Anh Uy-liêm: “Hễ Mĩ làm ra dù một sợi len, một miếng sắt móng ngựa là bản chức sẽ cho lĩnh sang đóng đầy

xứ ngay lập tức” Năm 1775, dưới sự lãnh đạo của người anh hùng Oa-sinh-tơn, lãnh đạo nhân dân nổi dậy chống đế quốc Anh đã thống trị họ từ đầu thế kỉ XVII Ngày 4-7-1776, họ tuyên bố Độc lập và thành lập Liên bang Bắc Mĩ Hoa Kì (quen gọi là nước Mĩ) 15 năm sau bản tuyên ngôn của Mĩ là tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp không chịu được cảnh phải cõng trên lưng, đội trên đầu quyền lực tối cao của chế

độ quân chủ, trong đó luật pháp là do ý thích của nhà vua đặt ra Như vậy mấy trăm năm trước người Pháp lật đổ chế độ quân chủ, người Mĩ đánh đuổi thực dân, mấy trăm năm

Trang 4

sau, người Việt cùng một lúc đánh đổ cả chế độ phong kiến và chế độ thực dân, cùng chung khát vọng độc lập tự do như người Mĩ người Pháp Vừa nhắc nhớ, vừa có ý đặt ngang hàng cuộc cách mạng tháng Tám của ta với hai cuộc cách mạng của Pháp và Mỹ Quả thật hai cuộc cách mạng nói trên mở ra một giai đoạn mới trong sự phát triển của lịch sử xã hội loài người thì cuộc cách mạng tháng Tám của ta cũng mở ra một kỷ nguyên mới Đó là kỷ nguyên dành độc lập dân tộc ở các nuớc thuộc địa, là kỷ nguyên sụp đổ của chủ nghĩa thực dân Với những trích dẫn hai câu nổi tiếng trong bản Tuyên ngôn của Mĩ và Pháp, Hồ Chí Minh muốn khẳng định chân lí lịch sử và niềm tự hào dân tộc, khẳng định tầm vóc thời đại của cuộc Cách mạng tháng Tám

+ Người đã thể hiện sự tôn trọng những danh ngôn bất hủ đã được cả thế giới thừa nhận, những chân lý dù đó là của Mỹ hay của Pháp Ở đây không hề có sự lầm lẫn giữa nhân dân Mỹ, dân tộc Pháp với bọn xâm lược Mỹ, Pháp

+ Từ quyền bình đẳng và tự do của con người mà tác giả suy rộng ra về quyền bình đẳng

tự do của các dân tộc trên thế giới Đây là một cách vận dụng khéo léo và đầy sáng tạo nhưng vẫn đảm bảo tính chặt chẽ trong lập luận Tư tưởng về ''Quyền của các dân tộc''

là một đóng góp lớn của Tuyên ngôn độc lập: ''cống hiến nổi tiếng của cụ HCM vào kho tàng tinh hoa tư tưởng nhân loại Bởi vì tư tưởng này là sự nâng cao giá trị, tầm vóc nhân bản của tư tưởng, của nguyên tắc về quyền của con người'' (Giáo sư Singô Sibita) Nghĩa là con người phải biết vươn tới quyền lợi của cộng đồng Mặt khác, tư tưởng nguyên tắc ''Quyền của các dân tộc '' còn là cơ sở để nhân loại thấy rằng giai cấp tư sản trong khi nêu cao nhân quyền, dân quyền lại mở rộng quyền xâm phạm tàn bạo, bóc lột

dã man các dân tộc khác Đó là vô nhân đạo và phi nghĩa Thế là từ phạm trù nhân quyền

- nền móng tư tưởng của cách mạng tư sản - Bác đã chuyển sang phạm trù chống thực dân - nền móng của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào rồi sẽ trở thành một trong

ba dòng thác cách mạng trên thế giới Chỉ trong một câu văn ngắn gọn, ta vẫn nhận ra một Hồ Chí Minh như nguời giương cao bó đuốc sáng ngời của tư tưởng giải phóng dân tộc

+ Việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn vừa nhằm đề cao những giá trị hiển nhiên của tư tưởng nhân đạo và văn minh của nhân loại, vừa tạo tiền đề cho lập luận sẽ nêu ở mệnh

đề tiếp theo

- Khôn khéo nhưng vẫn kiên quyết: Bác đã dùng lời lẽ bản tuyên ngôn của Mỹ, Pháp để phủ nhận chính âm mưu xâm lược của hai cường quốc này Qua thủ pháp nghệ thuật

“gậy ông đập lưng ông”, dường như tác giả đã ngầm cảnh cáo nếu Pháp xâm lược Việt Nam thì chính họ đã phản bội lại truyền thống tốt đẹp của dân tộc họ đã đúc kết thành chân lý ghi trong bản tuyên ngôn Họ sẽ vấy bẩn lên lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái mà cha ông họ từng giương cao

Kết tiết 1: Tuyên ngôn độc lập là đỉnh cao của văn học yêu nước, đỉnh cao của văn chính luận Trong cả cuộc đời làm văn viết văn của Bác thì hai lần nguời cảm thấy sung sướng

và sảng khoái nhất khi đặt bút viết đó là lần viết “Bản án chế độ thực dân Pháp” để lại

Trang 5

bản cáo trạng đanh thép kết tội chúng” và lần viết Tuyên ngôn độc lập để tuyên bố cáo chung chế độ thực dân ấy Tác phẩm đã xây dựng được một kết cấu chặt chẽ, lí lẽ hùng hồn, lập luận đanh thép, lời văn hàm súc, trong sáng Nếu người Mĩ tự hào vì có bản tuyên ngôn độc lập 1776, người Pháp có Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1791 thì dân tộc Việt Nam có quyền kiêu hãnh vì có Tuyên ngôn độc lập, tác phẩm kết tinh tâm hồn, ý chí, khát vọng của con người Việt Nam

- Chỉ bằng đoạn văn ngắn mở đầu, Tuyên ngôn độc lập đã đưa ra căn cứ, lí lẽ xác đáng cho lập luận Quá trình dẫn dắt tới căn cứ, lập luận này hết sức chính xác, chặt chẽ, thể hiện độ nhạy bén chính trị, sự sắc sảo trí tuệ cao độ Với đoạn mở đầu, tác giả đã tạo cơ

sở lý luận vững chắc để triển khai lập luận ở phần sau

- Chúng ta đã từng biết đến chất trí tuệ sắc sảo của Nguyễn Ái Quốc qua truyện Những trò lố hay Va ren và Phan Bội Châu hiện đại bằng tiếng Pháp, chất cổ điển hài hòa với tinh thần hiện đại của Hồ Chí Minh qua Nhật kí trong tù bằng chữ Hán, thì đến với Tuyên ngôn độc lập, ta còn biết đến một áng văn chính luận mẫu mực giàu tính luận chiến của nhà Cách mạng Hồ Chí Minh Đây cũng là tác phẩm mà Hồ Chí Minh cảm thấy hài lòng nhất trong cuộc đời viết văn, làm báo dày dạn kinh nghiệm của mình

2 Bác vạch tội cũng là tranh luận ngầm với thực dân Pháp

- Bác hạ từ “thế mà”, hai từ ấy như đảo ngược lại hoàn toàn, phủ nhận hoàn toàn thái độ của thực dân Pháp Nghĩa là chúng đã phản bội lại lời lẽ của cha ông chúng

- Từ đây bản tuyên ngôn đã đưa ra những chứng cứ sự thật Thực chất, Bác đã ngầm tranh luận với Pháp và công bố trước dư luận

+ Chúng kể công “bảo hộ” Việt Nam nhưng thực chất là chúng đã dâng Đông Dương hai lần cho Nhật

+ Chúng kể công ''khai hoá'' Việt Nam nhưng thực chất là chúng bóc lột, áp bức đẩy dân tộc ta tới nguy cơ diệt chủng trong nạn đói 1945

+ Chúng nhân danh Đồng minh trở lại Việt Nam >< thực chất chúng phản bội Đồng minh, đầu hàng Nhật, khủng bố Việt Minh là lực lượng đứng trong phe Đồng minh đánh Nhật

+ Chúng nêu lên những ràng buộc về mặt pháp lí của Việt Nam với Pháp bởi những hiệp ước này khác thì bản tuyên ngôn khẳng định từ 1940, Việt Nam là thuộc địa của Nhật

và Việt Minh đã giành lại chủ quyền cho dân tộc mình từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp Như thế mọi ràng buộc có tính pháp lí trên đã bị huỷ bỏ

-> Lời lẽ của Bác cụ thể, dẫn chứng rõ ràng, văn viết có hình ảnh (tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong các biển máu), tác động mạnh mẽ tới người đọc, người nghe

- Bác tuyên bố thoát li hẳn mọi quan hệ thực dân với Pháp

+ Xoá bỏ mọi hiệp ước mà Pháp đã kí ở VN

+ Khai sinh ra nước VNDCCH

Trang 6

+ Thể hiện quyết tâm chống mọi âm mưu của thực dân Pháp

+ Bày tỏ niềm tin với Đồng minh

Lời văn:

Lòng yêu nước, nguyện vọng độc lập dân tộc của nhân dân ta đuợc khẳng định chắc chắn trên cơ sở thực tiễn Tác phẩm là cuộc tranh luận ngầm về chủ nhân đích thực của đất nước Việt Nam, phủ nhận quyền của Pháp, khẳng định quyền tự do của Việt Nam Nghệ thuật lập luận trong cuộc “tranh luận ngầm” nhằm bác bỏ những luận điệu xảo trá của thực dân, đế quốc đã được thể hiện sáng rõ:

a) Bản Tuyên ngôn đã dựng lên bản cáo trạng đanh thép về tội ác của thực dân Pháp + Nếu Pháp nêu chiêu bài có công khai hoá đối với Việt Nam, Việt Nam vốn là thuộc địa của Pháp thì bản Tuyên ngôn vạch rõ: Pháp chính là kẻ xâm lược, gây bao tội ác, và

đã bán đứng Vn cho Nhật Bản Tuyên ngôn tố cáo một cách toàn diện tội ác này về chính trị, kinh tế

Về chính trị: Chúng tuyệt đối không cho dân tộc ta chút quyền tự do dân chủ nào, chúng chia nuớc ta thành ba kỳ với ba chế độ khác nhau Mục đích là chia rẽ tình đoàn kết dân tộc, ngăn cản sự nghiệp thống nhất đất nuớc của nhân dân ta Chúng đàn áp những nguời yêu nuớc thương nòi, tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu Chúng thực hiện chính sách ngu dân, lập nhà tù nhiều hơn truờng học Chúng đầu độc nhân dân ta bằng ruợu cồn và thuốc phiện để ta suy kiệt giống nòi

Về kinh tế: Chúng cuớp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu, bóc lột sức lao động, chúng thực hiện chính sách thuế hà khắc, vô nhân đạo khiến mọi tầng lớp nhân dân không ngóc đầu lên đuợc

Tội ác lớn nhất của thực dân Pháp và phát xít Nhật là đã gây ra thảm hoạ nạn đói năm

1945 khiến hai triệu nguời chết đói (Thơ Tố Hữu: Con đói lả ôm chân mẹ khóc/ Mẹ đợ con đấu thóc cầm hơi/Kiếp người cơm vãi cơm rơi/biết đâu nẻo đất phương trời mà đi Hay “Nửa đêm thuế thúc trống dồn/ Sân đình máu chảy đường thôn lính đầy)

+ Để phủ nhận chiêu bài của Pháp rêu rao rằng Pháp có công đứng về phe Đồng minh chống phát xít bảo vệ Việt Nam, tác giả đã tố cáo tội ác của Pháp là đã đầu hàng Nhật một cách nhục nhã, bán rẻ nuớc ta cho Nhật Bản Tuyên ngôn chỉ rõ: chỉ trong vòng 5 năm mà đã hai lần Pháp quỳ gối mở cửa nuớc ta rước Nhật Tố cáo hành động này của Pháp, một lần nữa bản tuyên ngôn đã phủ nhận quyền của Pháp đối với Việt Nam

- Trong phần thứ hai của Tuyên ngôn độc lập, đoạn tố cáo tội ác về chính trị và về kinh

tế của thực dân Pháp trong hơn 80 năm đô hộ Việt Nam đuợc viết ngắn gọn, cô đúc, trong khi đoạn văn nói về việc Pháp bán nuớc ta cho Nhật, về việc ta giành lại nuớc từ tay Nhật lại được viết khá tỉ mỉ, kỹ càng Vì sao vậy?

- Vì vào lúc ấy, trước công luận trong nước ta và trên thế giới, tội ác của bọn thực dân

ở thuộc địa đã là một thực tế quá hiển nhiên Trong khuôn khổ một bản Tuyên ngôn -

Trang 7

một loại hình văn bản rất cần sức mạnh của sự nén dồn, cô đúc, những tội ác này hoàn toàn có thể nêu dưới dạng những lời kết án gọn gàng, đanh thép

- Nhưng những điều Bác nói đến trong đoạn văn sau lại khác Bác Hồ đã sáng suốt lường trước được rằng, sẽ không ít nguời vô tình hoặc hữu ý cho rằng chúng ta giành độc lập

từ tay thực dân Pháp Thiếu một chút sáng suốt, một chút khôn khéo ở đây, ta dễ có thể

bị quy là chống lại một thành viên chủ chốt của đồng minh, chống lại những điều ước cho những nước thắng trận có quyền thu lại những mảnh đất cũ của mình

- Một điều có tầm quan trọng sống còn đối với nền độc lập của đất nước như thế, không thể nào coi nhẹ Nên dù là Tuyên ngôn, Bác Hồ vẫn phải dụng công phân giải, bằng hàng loạt câu văn chia thành các vế phân biệt với nhau, với sự nhấn rất mạnh trong ngữ điệu Ví như:

“Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” đuợc ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nuớc ta hai lần cho Nhật”

“Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nuớc ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa”

“Sự thật là dân ta đã lấy lại nuớc Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”

Đó là những câu văn mang ý nghĩa sinh tử trong một bản tuyên ngôn

- Về nghệ thuật: Đoạn văn tố cáo tội ác thực dân Pháp là một điển hình mẫu mực về văn chương chính luận Những dẫn chứng đưa ra đều có sự chọn lọc Đặc biệt lời văn vừa súc tích vừa truyền cảm Bác không viết “chúng đàn áp các cuộc khởi nghĩa của ta một cách dã man” mà viết: “chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu” Hành động đàn áp đã được diễn đạt bằng hình tuợng “tắm” Mức độ dã man đã được hình tượng hoá thành “bể máu” Cách diễn đạt hình tượng này vừa lột trần đuợc bộ mặt quỷ sứ khát máu nguời của bọn thực dân, vừa diễn tả được nỗi đau thê thảm của nhân dân ta, những nguời dân vô tội đang quằn quại trong “vòng tử địa” (Đuờng Kách mệnh) Đúng là tư tưởng chính trị đã đuợc thể hiện bằng một câu văn miêu tả tuyệt vời có sức lay động mạnh mẽ cả nhận thức và tình cảm của người đọc

3 Bản tuyên ngôn thể hiện quyết tâm lớn

- Khép lại bản tuyên ngôn Bác trịnh trọng tuyên bố: “Nước VN có quyền … ấy” đoạn văn ngắn, lời gọn và ý sâu

- Độc lập dân tộc còn đuợc khẳng định trên cơ sở thực tiễn về phía Việt Nam Ở đây, Tuyên ngôn đã khẳng định “Việt Nam có quyền và thực tế đã là một nước giành được

tự do độc lập”

+ Thực tế Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập bởi vì chính nhân dân Việt Nam chứ không phải ai đã đứng về phe đồng minh chống phát xít: “Một dân tộc đã gan góc chống ách đô hộ của thực dân Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít Nhật suốt mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải đuợc độc lập” Trong một đoạn văn ngắn hai lần xuất hiện từ gan góc, bốn lần dùng

Trang 8

từ dân tộc Hai đoạn văn của bản Tuyên ngôn lặp lại như hai nhát dao chém xuống mỗi lúc một mạnh hơn Nguời đòi quyền cho dân tộc nên 20 lần nhắc tới chữ quyền trong những câu văn hào hùng đanh thép

+ Không những khẳng định quyền mà bản Tuyên ngôn còn khẳng định thực tế Việt Nam

đã giành được độc lập Cách lập luận của tác giả ở đây cũng thật chặt chẽ, sắc sảo Bác chỉ rõ Việt Nam không còn là thuộc địa của Pháp vì Pháp đã bán rẻ Việt Nam cho Nhật Nước ta cũng không còn là thuộc địa của Nhật vì sau khi Nhật đầu hàng đồng minh thì nhân dân ta đã giành lại nước từ tay Nhật Hơn nữa Việt Nam đã có Chính phủ lâm thời đại diện chân chính cho nhân dân Việt Nam Để khẳng định sự thật này, Nguời viết Tuyên ngôn độc lập láy đi láy lại hai lần chữ “sự thật” “Sự thật là, sự thật là” và cuối cùng thì “Nuớc Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập” Đây là những điệp khúc tiếp nối nhau tăng thêm âm huởng hùng biện của bản tuyên ngôn

+ Một câu hỏi đặt ra đối với dư luận quốc tế lúc bấy giờ là “dân tộc Việt Nam có khả năng làm chủ vận mệnh của mình hay không? HCM đã đưa ra những lí lẽ sắc bén để khẳng định: Nếu TD Pháp phản bội đồng minh, dâng Đông Dương hai lần cho Nhật thì thì dân tộc Việt Nam đã anh dũng chống Nhật, giành lại độc lập Nếu thực dân Pháp tàn bạo, vô nhân đạo trong hành động thẳng tay khủng bố Việt Minh, giết tù chính trị trước khi bỏ chạy, thì nhân dân Việt Nam vẫn giữ thái độ khoan hồng, nhân đạo Một dân tộc bất khuất, kiên cường và nhân nghĩa như thế hoàn toàn xứng đáng và đầy đủ khả năng để có thể bảo vệ quyền tự quyết của mình

+ Người khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền”, “và sự thật đã thành một nước tự do độc lập” Bác vừa khẳng định vừa tuyên bố công khai Mấy tiếng “có quyền”, và “sự thật” mạnh mẽ rắn chắc như chân lí

+ Người bày tỏ quyết tâm: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” Bác vừa thể hiện quyết tâm lớn lại vừa như kêu gọi đồng bào cả nước đồng lòng, chung sức để giữ gìn độc lập, tự do đã giành được

- Vị trí của những câu kết

“Chúng tôi tin rằng các nuớc Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam

Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống Phát xít mấy năm, dân tộc đó phải đuợc tự do! Dân tộc đó phải đuợc độc lập!”

- Những câu văn được diễn đạt giống như định luật, định lí với đầy đủ giả thiết và kết luận Một cách đặt câu như thế giúp rất nhiều cho câu văn và cho sự lập luận trở nên đanh thép, hùng hồn, không thể nào bác bỏ

Trang 9

- Nếu cần phải tìm trong bản Tuyên ngôn này một câu văn chứa đựng đầy đủ hơn cả nội dung của toàn tác phẩm thì cần phải chọn câu: “Nước Việt Nam có quyền huởng tự do

và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự độc lập”

- Như vậy, phần kết thúc bản tuyên ngôn, tác giả tiếp tục khẳng định lòng yêu nước, nguyện vọng độc lập dân tộc của nhân dân ta vừa trên cơ sở công lý vừa trên cơ sở thực tiễn Về mặt công lý, nếu họ đã công nhận quyền độc lập dân tộc tự quyết tại hai hội nghị: Tê-hê-răng (1943) và Cựu Kim Sơn (1945) thì họ nhất định sẽ phải công nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam Nhân dân ta sẽ phát huy truyền thống yêu nước bất khuất để giữ vững quyền tự do độc lập ấy: “Toàn thể dân tộc Việt Nam… quyền tự

do độc lập ấy”

- Bản Tuyên ngôn đã kết thúc bằng câu văn khẳng định lòng yêu nước giống như một lời thề quyết tử cho tổ quốc quyết sinh Đặt trong quá trình phát triển của văn học Việt Nam, Tuyên ngôn độc lập là đỉnh cao của văn học yêu nước Từ “Nam quốc sơn hà”,

“Bình ngô đại cáo” đến Tuyên ngôn độc lập là những chặng đường khác nhau của cùng một chân lý “Không có gì quý hơn độc lập tự do”

III Kết luận

1 Giá trị của bản tuyên ngôn

- Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử, chính trị hết sức quan trọng và có ý nghĩa

vô cùng to lớn:

+ Văn kiện ấy đã trang trọng tuyên ngôn về nền độc lập của tổ quốc Việt Nam sau ngót trăm năm phải sống dưới xiềng xích thực dân

+ Văn kiện ấy còn tuyên bố sự cáo chung của chế độ quân chủ đã tồn tại mấy mươi thế

kỉ

+ Văn kiện ấy còn là phát súng mở màn cho phong trào đấu tranh giải phóng ở các nước thuộc địa trên toàn thế giới

- Tuyên ngôn Độc lập là một bài văn chính luận mẫu mực: văn phong khúc chiết, ngắn gọn, lập luận chặt chẽ đanh thép, lời lẽ hùng hồn và đầy sức thuyết phục

2 Nghệ thuật

- Là áng văn chính luận mẫu mực

- Lập luận chặt chẽ thống nhất trong toàn bài

- Cách sử dụng từ ngữ phù hợp, văn giàu hình ảnh, khắc sâu ấn tượng, kết hợp cảm xúc…

2.1 Bản Tuyên ngôn độc lập có kết cấu chặt chẽ lập luận đanh thép

Tác phẩm gồm 3 phần có mối quan hệ hữu cơ bổ sung cho nhau:

+ Phần 1 nêu cơ sở pháp lý, đặt cơ sở lý luận

+ Phần 2 soi sáng chứng minh bằng thực tiễn

Trang 10

+ Phần cuối rút ra kết luận

Các phần lại liên hệ với nhau bằng những liên từ, những cụm quan hệ từ chặt chẽ như những mắt xích

- Phần thứ nhất - phần nêu chân lí – đã nêu được nguyên lí làm cơ sở cho bản tuyên ngôn, đó là “quyền được hưởng độc lập, tự do, bình đẳng, hạnh phúc” của mọi dân tộc trên thế giới”, kết thúc ở câu: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi đuợc”

+ Kết thúc phần đầu chuyển sang phần hai, tác giả sử dụng liên từ “Thế mà” như để báo truớc những hành động Pháp đuợc dẫn ra tiếp theo sẽ trái hẳn lẽ phải và nhân đạo, chứng

tỏ rằng chúng đã phản bội chính ngay những điều đuợc nêu lên trong các bản Tuyên ngôn của chúng

+ Kết thúc phần II chuyển sang phần 3 tác giả sử dụng cụm liên từ “bởi thế cho nên” như để khẳng định hai phần trên là nguyên nhân còn phần cuối là kết quả Đã coi quyền

tự do, bình đẳng giữa các dân tộc là lẽ phải không thể chối cãi, đã coi việc chúng ta giành lại được đất nuớc từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp là thực tế không thể nào bác bỏ, thì việc chúng ta thoát li hẳn các mối quan hệ thực dân với Pháp để trở thành một nước tự do độc lập phải là một sự đương nhiên, chính đại quang minh như trời đất, sáng tỏ như nhật nguyệt Rõ ràng, Tuyên ngôn độc lập là một chỉnh thể thống nhất, với các yếu tố quan hệ hết sức chặt chẽ với nhau Cách lập luận của tác giả là dùng lời lẽ của đối phuơng để bác bỏ đối phương và luôn có sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn

2.2 Giọng văn thay đổi linh hoạt phù hợp với đối tuợng và nội dung

- Nói với công luận quốc tế thì giọng văn uyên bác, thể hiện một trí tuệ sắc sảo, dẫn những lời tuyên ngôn nổi tiếng làm cơ sở cho lập luận

- Viết với đồng bào cả nước thì lời văn tình cảm thiết tha Về điều này Chế Lan Viên đã nhận xét thật chính xác: “Vì nói với đồng bào lời văn của bản Tuyên ngôn xiết bao xúc động…sau 13 chữ “quyền” là 14 câu, câu nào cũng có chữ “chúng” mở đầu nặng như búa tạ: “Chúng tuyệt đối không cho”, “chúng thi hành những luật pháp dã man”, “chúng cuớp không ruộng đất” và mỗi chữ chúng ấy như xiết xuống chữ “ta” làm xúc động lòng ngời: “chúng cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta, tuyệt đối không cho nhân dân ta chút quyền tự do dân chủ nào”

- Khi khẳng định độc lập, tự do thì lời văn trang trọng thiêng liêng “Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố”

- Khi tố cáo tội ác kẻ thù thì giọng văn bi thiết

- Khi nêu cao truyền thống yêu nuớc thì giọng văn hào hùng sảng khoái

2.3 Ngôn ngữ vừa chính xác vừa gợi cảm, truyền cảm

Vì là văn kiện chính trị nên mỗi chữ mỗi lời cần phải chính xác tuyệt đối Vì là tác phẩm văn học nên mỗi chữ mỗi lời lại có sức mạnh gợi cảm truyền cảm lớn lao

Ngày đăng: 28/05/2022, 15:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w