MỤC LỤC Phần I Mở đầu 1 Phần II Nội dung 2 1 Khái quát những vấn đề chung về quản lý, điều hành tổ chức công 2 1 1 Một số khái niệm 2 1 1 1 Khái niệm về tổ chức công 2 1 1 2 Khái niệm về Chính phủ điện tử, Chính phủ số 3 1 2 Hoạt động quản lý, điều hành tổ chức công 3 1 2 1 Khái niệm về quản lý tổ chức 3 1 2 2 Điều hành tổ chức công 3 1 2 3 Các nguyên tắc quản lý, điều hành tổ chức công 3 2 Hoạt động quản lý và điều hành tổ chức công trong bối cảnh xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ.
Trang 1Phần I: Mở đầu 1
Phần II: Nội dung 2
1 Khái quát những vấn đề chung về quản lý, điều hành tổ chức công 2
1.1 Một số khái niệm 2
1.1.1 Khái niệm về tổ chức công 2
1.1.2 Khái niệm về Chính phủ điện tử, Chính phủ số 3
1.2 Hoạt động quản lý, điều hành tổ chức công 3
1.2.1 Khái niệm về quản lý tổ chức 3
1.2.2 Điều hành tổ chức công 3
1.2.3 Các nguyên tắc quản lý, điều hành tổ chức công 3
2 Hoạt động quản lý và điều hành tổ chức công trong bối cảnh xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số 4
2.1 Chính phủ điện tử ở Việt Nam và những tác động tích cực của Chính phủ điện tử đến hoạt động quản lý, điều hành tổ chức công 4
2.2 Những tồn tại, hạn chế của hoạt động quản lý, điều hành tổ chức công trong bối cảnh xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số 8
2.2.1 Những hạn chế về chính sách, thể chế 8
2.2.2 Về năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức 9
2.2.3 Hệ thống quy trình thủ tục hành chính còn nhiều bất cập, chưa theo kịp với tốc độ hiện đại hóa của Chính phủ điện tử 10
2.2.4 Bộ máy cồng kềnh, chưa ổn định 10
2.2.5 Các vấn đề về kinh tế - xã hội tác động đến hoạt động quản lý, điều hành tổ chức công 11
2.2.6 Nguồn lực tài chính cho hoạt động quản lý, điều hành tổ chức công theo hướng hiện đại còn thiếu và chưa đồng bộ giữa các địa phương 11
2.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý, điều hành tổ chức công trong bối cảnh xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số 12
2.3.1 Đổi mới tư duy quản lý phù hợp với bối cảnh mới 12
2.3.2 Tích cực hoàn thiện hệ thống thể chế của nền hành chính công 12
2.3.3 Đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu công nghệ hiện đại vào hoạt động quản lý công của các cơ quan hành chính nhà nước 13
Trang 22.3.4 Nâng cao chất lượng, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức 13 2.3.5 Đầu tư đúng mức về nguồn lực tài chính cho cải cách hành chính 14 2.3.6 Tăng cường, mở rộng sự tham gia của người dân, doanh nghiệp vào nền hành chính hiện đại 14 Phần III: Kết luận 15 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3Phần I: Mở đầu
Ngay từ những năm đầu bước vào thế kỷ 21, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương xây dựng bộ máy nhà nước hiện đại, hiệu quả, trong đó đẩy mạnh phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Nhà nước và xác định đây là động lực góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới Ngày 14 tháng 10 năm 2015, lần đầu tiên Chính phủ có Nghị quyết tập trung về Chính phủ điện tử - đó là Nghị quyết số 36a/NQ-CP – đã mở ra kỳ vọng nâng cao năng lực hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước; đáp ứng, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn; thúc đẩy cải cách hành chính; tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh; nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế khi nước ta đang hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới
Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc xây dựng và hoàn thiện nền quản trị quốc gia hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là yêu cầu hàng đầu Chính phủ Việt Nam đã xác định xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, xã hội số và nền kinh tế số là một trong những ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn 2016-2020 để tạo ra những nền móng vững chắc cho việc chuyển đổi số toàn diện trong giai đoạn 2021-2030, được khẳng định tại Quyết định số 942/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030 Với những chính sách mới kể trên, hoạt động tổ chức và điều hành tổ chức công ở Việt Nam trong thời gian qua có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng hiện đại và hiệu quả Bằng việc quán triệt sâu sắc việc nắm bắt các tác động tích cực của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và xu hướng toàn cầu hóa, số hóa diễn ra mạnh mẽ như một xu hướng tất yếu khách quan, Chính phủ đã
đề ra những chương trình hành động, thực hiện cuộc “cách mạng” cải cách sâu rộng hoạt động quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, trong đó chú trọng đến hiệu lực
và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước
Qua quá trình học tập và nghiên cứu học phần “Kỹ năng quản lý và điều hành tổ chức công”, trong phạm vi bài tiểu luận kết thúc học phần, xin lựa chọn đề tài “Quản lý, điều hành tổ chức công trong bối cảnh xây dựng chính phủ điện tử, hướng tới chính phủ số - Khó khăn và giải pháp” làm nội dung nghiên cứu Trong
đó sẽ trình bày khái quát một số nội dung về quản lý, điều hành tổ chức công, bối cảnh của chính phủ điện tử, hướng tới chính phủ số ở Việt Nam hiện nay và những khó khăn, thách thức, đồng thời kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý, điều hành tổ chức công trong bối cảnh xây dựng chính phủ điện tử, hướng tới chính phủ số ở nước ta
Trang 4Phần II: Nội dung
1 Khái quát những vấn đề chung về quản lý, điều hành tổ chức công 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm về tổ chức công
Tổ chức là một yếu tố tất yếu của xã hội loài người Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về thuật ngữ tổ chức, từ đó cũng xuất hiện nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ này Hiểu một cách chung nhất, tổ chức là một tập hợp của nhiều người cùng làm việc vì những mục đích chung, trong một hình thái cơ cấu nhất định Đó có thể là một trường học, một bệnh viện, một cơ quan nhà nước, một doanh nghiệp, một hiệp hội, một tổ chức từ thiện…
Mặc dù được tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau, nhưng tổ chức nói chung đều mang những đặc điểm như:
- Tổ chức là những đơn vị xã hội bao gồm nhiều người (một tập thể) làm việc vì mục tiêu chung và có cơ cấu tổ chức ổn định, mang tính thứ bậc rõ ràng;
- Có mục đích hoạt động rõ ràng;
- Có những phương thức hoạt động nhất định để đạt mục đích của tổ chức;
- Thu hút và phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được mục đích;
- Hoạt động trong mối quan hệ tương tác với các tổ chức khác;
- Cần đến những nhà quản lý, chịu trách nhiệm liên kết, phối hợp với những con người bên trong và bên ngoài
Về khái niệm tổ chức công (Public Organizations), hiện nay cũng có nhiều khái niệm được đưa ra dựa trên nhiều cách tiếp theo theo nghĩa rộng - hẹp khác nhau
Một cách khái quát, tổ chức công là tổ chức do nhà nước thành lập theo luật định, do nhà nước đầu tư vốn, trực tiếp thực hiện hoặc một phần do tư nhân đầu tư, được nhà nước quản lý, các tổ chức công bao gồm các cơ quan hành chính nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước
Khi nghiên cứu về hoạt động quản lý và điều hành tổ chức công, người ta thường tập trung vào hệ thống cơ quan hành pháp, bao gồm:
- Các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước;
- Đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc cung ứng dịch vụ công;
- Doanh nghiệp nhà nước thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh phục vụ các nhu cầu của xã hội và dịch vụ công ích
Trang 5Mặc dù trên thực tế, khi nói đến hoạt động quản lý, điều hành thì mọi tổ chức (công hay tư, lập pháp, hành pháp, tư pháp) đều phải thực hiện không riêng gì tổ chức công
Khi xem xét, so sánh với các loại tổ chức khác, tổ chức công mang những nét đặc trưng riêng về cách thức thành lập và địa vị pháp lý, về mục tiêu hoạt động,
về các nguồn lực (bao gồm nhân lực, tài chính, cơ sở hạ tầng) và về phạm vi hoạt động của tổ chức công
1.1.2 Khái niệm về Chính phủ điện tử, Chính phủ số
Chính phủ điện tử là chính phủ ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước, tăng cương công khai, minh bạch thông tin, cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp
Chính phủ số là giai đoạn phát triển cao hơn của Chính phủ điện tử, phản ánh mức độ trường thành hơn về mức độ chuyển đổi số trong Chính phủ Chính phủ số
là chính phủ có toàn bộ hoạt động an toàn trên môi trường số, có mô hình hoạt động được thiết kế và vận hành dựa trên dữ liệu và công nghệ số, để có khả năng cung cấp dịch vụ chất lượng hơn, đưa ra quyết định kịp thời hơn, ban hành chính sách tốt hơn, sử dụng nguồn lực tối ưu hơn, kiến tạo phát triển, dẫn dắt chuyển đổi số, giải quyết hiệu quả những vấn đề lớn trong phát triển và quản lý kinh tế - xã hội
Chính phủ điện tử chủ yếu sử dụng công nghệ thông tin – truyền thông để tin học hóa quy trình nghiệp vụ, cung cấp dịch vụ công trực tuyến Chính phủ số sử dụng dữ liệu số, công nghệ số để đưa toàn bộ hoạt động lên môi trường số và tối ưu hoạt động, tạo ra phương thức làm việc mới, cung cấp dịch vụ mới
1.2 Hoạt động quản lý, điều hành tổ chức công
1.2.1 Khái niệm về quản lý tổ chức
Quản lý tổ chức là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát các nguồn lực và mọi hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu lực và hiệu quả cao trong điều kiện môi trường luôn biến động
1.2.2 Điều hành tổ chức công
Điều hành hoạt động của tổ chức là tác động một cách đúng đắn vào toàn bộ hoặc một khâu cần thiết nào đó để khuyến khích người thừa hành làm việc nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho tổ chức
1.2.3 Các nguyên tắc quản lý, điều hành tổ chức công
Hoạt động quản lý, điều hành tổ chức công cần được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây:
Trang 6Thứ nhất, nguyên tắc tuân thủ pháp luật;
Thứ hai, công khai, minh bạch;
Thứ ba, nguyên tắc liên tục và tương đối ổn định;
Thứ tư, nguyên tắc đảm bảo tính tập trung dân chủ;
Thứ năm, nguyên tắc phân công rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân trong tổ chức;
Thứ sáu, nguyên tắc kết hợp hài hoà lợi ích;
Thứ bảy, kiểm tra, kiểm soát thường xuyên;
Thứ tám, nguyên tắc hiệu lực, hiệu quả
2 Hoạt động quản lý và điều hành tổ chức công trong bối cảnh xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số
Thế giới đang có những biến đổi to lớn và toàn diện, sâu sắc Ở Việt Nam, dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong bối cảnh đổi mới, hội nhập, cải cách nền hành chính nhà nước, xây dựng chính phủ điện tử, chính phủ
số và tiến tới xây dựng nền kinh tế số đã ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt của đời sống xã hội Đặc biệt, nó có ảnh hưởng lớn đến hoạt động quản lý công của mọi quốc gia, vì vậy, các nhà quản lý tổ chức công phải đối diện với những thách thức lớn trong việc xác định vấn đề, xây dựng và ban hành chính sách kịp thời, chủ động ứng phó với những rủi ro có thể xảy ra, đồng thời phải đổi mới cách thức tổ chức thực hiện, đáp ứng yêu cầu phục vụ người dân và hội nhập Các yếu tố của bối cảnh chung có tác động nhất định đến hoạt động quản lý điều hành của các nhà quản lý công Vì thế, đổi mới quản lý và điều hành tổ chức công là đòi hỏi mang tính khách quan
Từ khi Đảng và Nhà nước chủ trương xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, hoạt động quản lý và điều hành tổ chức công cũng từng bước được cải cách để nâng cao hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với môi trường quản lý hiện đại
2.1 Chính phủ điện tử ở Việt Nam và những tác động tích cực của Chính phủ điện tử đến hoạt động quản lý, điều hành tổ chức công
Bối cảnh Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số đã làm thay đổi mạnh
mẽ và rõ nhất về tư quy quản lý, điều hành của Nhà nước Đó là từ việc Chính phủ cung cấp các dịnh vụ công để phục vụ cho nhu cầu quản lý của nhà nước là chính sang việc Chính phủ cung cấp dịch vụ công mang tính nền tảng, kiến tạo cho sự phát triển của xã hội, chuyển sang nền hành chính phục vụ Đồng thời, cách thức triển khai cũng có nhiều thay đổi từ việc cung cấp dịch vụ riêng rẽ sang triển khai cung cấp tất cả các dịch vụ thông qua một nền tảng Ranh giới hành chính giữa các
Trang 7bộ, ngành và ranh giới địa lý giữa các địa phương không còn là rào cản trong hoạt động quản lý, cung cấp và thụ hưởng các dịch vụ công
Nghị quyết số 36a/NQ-CP của Chính phủ ngày 14 tháng 10 năm 2015 về chính phủ điện tử đã lần đầu tiên khẳng định mục tiêu “Đẩy mạnh phát triển Chính phủ điện tử, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, phục vụ nhân dân và các doanh nghiệp ngày càng tốt hơn Nâng cao vị trí của Việt Nam về Chính phủ điện tử theo xếp hạng của Liên hợp quốc”
Theo đó, Nghị quyết đã đề ra các chỉ tiêu về phát triển Chính phủ điện tử theo lộ trình từng giai đoạn cụ thể với cải cách toàn diện ba nhóm dịch vụ công trực tuyến (OSI), hạ thầng viễn thông (TII), nguồn nhân lực (HCI), theo phương pháp đánh giá Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc
Nghị quyết số 17/NQ-CP của Chính phủ ngày 07 tháng 3 năm 2019 đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019 –
2020, định hướng đến năm 2025 Trong đó, thống nhất quan điểm chỉ đạo là “Xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số trong giai đoạn hiện nay và thời gian tới” Nghị quyết cũng đồng thời khẳng định “Đổi mới phương thức phục vụ, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, lấy sự hài lòng của cá nhân, tổ chức là thước đo quan trọng trong phát triển Chính phủ điện tử; đảm bảo gắn kết chặt chẽ, đồng bộ ứng dụng công nghệ thông tin với cải cách hành chính, đổi mới lề lối, phương thức làm việc, xác định ứng dụng công nghệ thông tin là công cụ hữu hiệu, thúc đẩy cải cách hành chính”
Từ việc chủ trương, định hướng và xây dựng, hoàn thiện cơ chế chính sách, quản lý, điều hành tổ chức công cũng có nhiều chuyển biến phù hợp với mục tiêu hiện đại hóa nền hành chính và xây dựng Chính phủ điện tử Nhiều nhiệm vụ mới của hoạt động quản lý, điều hành của nhà nước được đặt ra như xây dựng hệ thống điện tử thông suốt, kết nối và liên thông văn bản điện tử, dữ liệu điện tử từ cấp tỉnh đến cấp xã, tạo lập môi trường điện tử để người dân tham gia giám sát và đóng góp cho chính quyền các cấp, thiết lập “Một cửa điện tử Quốc gia”
Bằng quyết tâm của cả hệ thống chính trị, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong xây dựng Chính phủ điện tử Theo đánh giá của Liên hợp quốc
về phát triển Chính phủ điện tử, liên tiếp trong bốn kỳ đánh giá từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đều tăng hạng Năm 2020, Việt Nam xếp thứ 86/193 quốc gia trên thế giới, 23/47 Châu Á và đứng thứ 6 tại khu vực Đông Nam Á
Theo báo cáo, vị trí xếp hạng về các chỉ số thành phần của Việt Nam năm
2020 có sự thay đổi tương đối lớn Chỉ số Hạ tầng viễn thông tăng mạnh, xếp thứ
69, tăng 31 bậc so với năm 2018; Chỉ số Nguồn nhân lực xếp thứ 117, tăng 3 bậc so
Trang 8với năm 2018; Chỉ số Dịch vụ trực tuyến xếp thứ 81, bị giảm 22 bậc so với năm
2018, xếp thứ 59)
Hiện nay một số hệ thống thông tin nền tảng của Chính phủ điện tử đã được đưa vào vận hành, giúp đổi mới lề lối làm việc trong các cơ quan nhà nước cũng như cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân, doanh nghiệp Hiện 100% bộ, ngành địa phương đã kết nối, liên thông gửi, nhận văn bản điện tử với Trục liên thông văn bản quốc gia, tỷ lệ trao đổi văn bản dưới dạng điện tử trên toàn quốc có
tỷ lệ cao, đạt 90,81%; 100% các bộ, ngành địa phương xây dựng nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp bộ, tỉnh Ngoài ra, hệ thống thông tin báo cáo quốc gia, hệ thông thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ (e-Cabinet) được triển khai
đã mang lại hiệu quả cao Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 tăng khoảng ba lần, từ 10,76% năm 2019 lên 30,1% vào tháng 12/2020
Ngày 15 tháng 6 năm 2021, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 942/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030 Theo đó, một số mục tiêu cung cấp dịch vụ chất lượng phục vụ xã hội đến năm 2025 được vạch rõ: “Cơ quan nhà nước cắt giảm, tái cấu trúc, đơn giản hóa, chuẩn hóa, thống nhất các thủ tục hành chính phục vụ xã hội trêm phạm vi toàn quốc, cơ quan nhà nước cung cấp dịch
vụ mới trên nguyên tắc đảm bảo chất lượng dịch vụ, giảm chi phí, tăng năng suất lao động xã hội một cách chủ động, kịp thời đáp ứng nhu cầu của xã hội” Đồng thời, Chiến lược còn xác định mục tiêu huy động sự tham gia rộng rãi của nhân dân, doanh nghiệp vào đóng góp ý kiến cho hoạt động của cơ quan nhà nước, phản ánh những vấn đề của xã hội tới cơ quan nhà nước Một mục tiêu quan trọng của Chiến lược đó là vận hành tối ưu các hoạt động của cơ quan nhà nước Theo đó, cơ quan nhà nước thiết kế mô hình tổ chức, cách thức vận hành dựa trên dữ liệu và công nghệ số, tạo ra môi trường làm việc và công cụ làm việc để cán bộ, công chức, viên chức thực hiện tốt nhất chức năng, nhiệm vụ của mình, thực hiện kết nối và hợp tác
dễ dàng, đưa ra quyết định kịp thời, ban hành chính sách tốt hơn và sử dụng hiệu quả các nguồn lực Bên cạnh đó, mục tiêu thay đổi xếp hạng quốc gia của Việt Nam
về Chính phủ điện tử, Chính phủ số theo đánh giá của Liên hợp quốc
Ngoài ra, trong bối cảnh chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư theo tinh thần Nghị quyết số 52-NQ/TW năm 2019 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 50/NQ-CP năm 2020 của Chính phủ phê duyệt Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW, đồng thời Chính phủ còn đề ra Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Theo đó, tại Kết luận của Thủ tướng Nguyễn Xuân
Trang 9Phúc tại phiên họp của Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử ngày 10 tháng 3 năm
2021 sơ kết hai năm thực hiện Nghị quyết số 17/NQ-CP năm 2019 của Chính phủ
đã đánh giá những kết quả tích cực trong xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số cũng như chuyển biến tích cực của hoạt động quản lý nhà nước trong bối cảnh mới
Khung phát lý cho sự phát triển của Chính phủ điện tử cơ bản được hình thành và tương đối đầy đủ Các bộ, ngành, địa phương đã có nền tảng tích hợp, chia
sẻ dữ liệu cấp bộ, cấp tỉnh để kết nối chia sẻ giữ liệu trong mỗi bộ, mỗi tỉnh và là đầu mối kết nối ra bên ngoài Nhiều cơ sở giữ liệu quốc gia về các lĩnh vực như đăng ký doanh nghiệp, bảo hiểm, y tế, giáo dục, hộ tịch và đặc biệt là Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Các dịch vụ công trực tuyến mức độ cao được phát triển để phục vụ tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp, tỉ lệ dịch vụ công trực tuyến mức
độ 4 đạt khoảng 31%, trong đó có một số bộ, ngành, địa phương cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến đủ điều kiện lên mức độ 4 Việc trao đổi văn bản điện tử giữa các cơ quan nhà nước đã trở thành nề nếp giúp tiết kiệm thời gian và chi phí (trên 90% văn bản điện tử được trao đổi, trên 4,5 triệu văn bản điện tử được gửi, nhận qua Trung liên thông văn bản quốc gia) Theo Văn phòng Chính phủ, hệ thống thông tin họp và xử lý công việc của Chính phủ (e-Cabinet) - vận hành từ ngày 24 tháng 6 năm 2019 - đã giúp quản lý đồng bộ, đầy đủ các phiên họp của Chính phủ, thực hiện biểu quyết điện tử, lấy ý kiến thành viên Chính phủ trên môi trường mạng được nhanh chóng, hiệu quả Cùng với đó, hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ ra mắt từ ngày 13/3/2020, đã kết nối 16 bộ, cơ quan với 20 chế độ báo cáo và 88/200 chỉ tiêu kinh tế-xã hội phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Khi điện tử hóa các báo cáo, quy định từ cấp xã, huyện, tỉnh và bộ, ngành lên Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kết nối qua Hệ thống, ước tính tiết kiệm được cho ngân sách nhà nước 460 tỷ đồng/năm
Việc triển khai Chương trình chuyển đổi số quốc gia đã được khởi động và đạt được những kết quả bước đầu Đặc biệt, nhiều ứng dụng công nghệ số được triển khai và góp phần nâng cao hiệu quả phòng, chống dịch
Có thể khẳng định, những năm qua, công cuộc cải cách hành chính nói chung chung của bộ máy nhà nước được đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả nổi bật, trong đó thay đổi về cơ bản nền quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu lực và hiệu quả, phù hợp với quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Chính phủ và các bộ, ngành chủ động, tích cực, tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô theo hướng chính phủ kiến tạo, chính phủ hành động, phục vụ; tháo gỡ các rào cản; hỗ trợ phát triển Tổ chức bộ máy chính
Trang 10quyền địa phương được sắp xếp lại theo hướng tinh gọn; quan tâm triển khai xây dựng chính quyền đô thị, chính quyền nông thôn, khẩn trương triển khai xây dựng chính quyền điện tử
Rõ ràng rằng, việc xây dựng và hoàn thiện nền quản trị quốc gia hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả ở Việt Nam được gắn chặt với quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Đây là quá trình từng bước, đồng bộ, có tính kế thừa và tiếp cận với các chuẩn mực quốc tế, phù hợp với thực tiễn Các đặc điểm về tính pháp quyền; minh bạch; trách nhiệm giải trình; sự tham gia của người dân; công bằng và không loại trừ; phòng, chống tham nhũng tiếp tục được coi trọng Một số chỉ số phản ánh mức độ hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nền quản trị quốc gia từng bước thăng hạng trong các đánh giá quốc tế, đặc biệt là trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng Nhiều kết quả tích cực cũng thể hiện hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nền quản trị quốc gia ở Việt Nam, trong đó, thể hiện tập trung nhất là sự đổi mới mạnh mẽ trong tổ chức và hoạt động của Chính phủ và các
bộ, ngành, địa phương Thủ tục hành chính được cắt giảm, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp Đồng thời, hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện, sự tham gia của người dân, tính minh bạch thông tin được coi trọng hơn, các chỉ số đo lường chất lượng quản trị công ở các địa phương được đánh giá thường xuyên Công tác phòng, chống tham nhũng tiếp tục thu được nhiều kết quả tích cực
2.2 Những tồn tại, hạn chế của hoạt động quản lý, điều hành tổ chức công trong bối cảnh xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số
Mặc dù có những bước tiến vượt bậc trong xây dựng, hoàn thiện nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, nhưng hoạt động quản lý, điều hành tổ chức công ở nước ta vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục để đáp ứng yêu cầu của xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước
2.2.1 Những hạn chế về chính sách, thể chế
Chủ trương thống nhất, xuyên suốt trong xây dựng và phát triển của nước ta
là xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Một trong những nguyên tắc tối quan trọng trong quản lý nhà nước chính là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, khẳng định tính tối thượng của pháp luật trong hoạt động quản lý, điều hành tổ chức
ệ thống chính sách, pháp luật của tổ chức là toàn bộ thể chế nhà nứớc, thể chế của ngành/lĩnh vực và các quy định, quy chế liên quan đến hoạt động, quản lý
và điều hành tổ chức ao gồm: môi trường pháp lý bảo đảm an toàn, tự do cho các