50 Câu 1 Phân tích khái niệm Văn hoá Thể chất theo quan điểm Văn hoá hiện đại? Thuật ngữ TDTT được dùng ở nước ta đã từ lâu Ngay từ khi bắt đầu sử dụng thuật ngữ này chưa có ai xây dựng cho nó nội dung có tính khoa học Trong những tài liệu chuyên môn gần đây thuật ngữ TDTT đã có nội dung cụ thể Nội dung của thuật ngữ này được biên dịch từ các tài liệu nước ngoài Thực ra nếu dịch theo đúng từ điển thì nội dung khái niệm TDTT đang dùng phải mang tên là VHTC Xong khó có thể đổi thuật ngữ đã quen dù.
Trang 1Câu 1 Phân tích khái niệm Văn hoá Thể chất theo quan điểm Văn hoá hiện đại?
Thuật ngữ TDTT được dùng ở nước ta đã từ lâu Ngay từ khi bắtđầu sử dụng thuật ngữ này chưa có ai xây dựng cho nó nội dung cótính khoa học
- Trong những tài liệu chuyên môn gần đây thuật ngữ TDTT đã
có nội dung cụ thể Nội dung của thuật ngữ này được biên dịch từ cáctài liệu nước ngoài Thực ra nếu dịch theo đúng từ điển thì nội dungkhái niệm TDTT đang dùng phải mang tên là VHTC Xong khó có thểđổi thuật ngữ đã quen dùng từ lâu bằng 1 thuật ngữ mới phù hợp vớinội dung khoa học của nó Nên giải quyết mâu thuẫn này bằng cáchgán cho những nội dung khoa học mà thế giới đã thống nhất bằng cáitên gọi Việt Nam là TDTT
Như vậy TDTT là từ đồng nghĩa với văn hoá thể chất (VHTC)
- Để hiểu sâu sắc về khái niệm TDTT (VHTC) trước hết phảihiểu rõ khái niệm văn hoá Bản thân thuật ngữ văn hoá trong ngôn ngữcủa các dân tộc trên thế giới cũng được dùng rất phong phú
* Văn hoá trong đời sống xã hội và trong đời sống hàng ngày
- Văn hoá trong đời sống xã hội: Thường chỉ những hoạt độngtinh thần của con người và xã hội
- Trong đời sống hàng ngày người ta dùng văn hoá để chỉ hành
vi con người, chỉ trình độ học vấn, cách ứng sử
* Nhưng trong các tài liệu tra cứu thì văn hoá được coi là nhữnghoạt động sáng tạo của con người dựa trên cơ sở di sản văn hoá củanhân loại tạo ra những di sản văn hoá mới (phát huy và nối tiếp - tính
kế thừa)
*Theo quan điểm triết học: Thì văn hoá là tổng hoà các giá trị
vật chất và tinh thần cũng như các phương thức tạo ra chúng, kỹ năng
sử dụng các giá trị đó vì sự tiếp bộ của loài người và sự truyền thụ cácgiá trị đó từ thế hệ này sang thế hệ khác
Văn hoá chia thành 2 lĩnh vực cơ bản: Văn hoá vật chất và vănhoá tinh thần
- Văn hoá vật chất là toàn bộ những giá trị sáng tạo của conngười được thể hiện trong các của cải vật chất do xã hội tạo ra kể cảcác tư liệu sản xuất đến các tư liệu tiêu dùng của xã hội
- Văn hoá tinh thần là toàn bộ những giá trị của đời sống tinhthần bao gồm khoa học và mức độ áp dụng các thành tựu của khoahọc vào sản xuất và sinh hoạt, trình độ học vấn tình trạng giáo dục, y
tế, nghệ thuật, chuẩn mực đạo đức trong hành vi của các thành viên
Trang 2trong xã hội Văn hoá còn bao gồm cả những phong tục tập quán,những phương thức giao tiếp và ngôn ngữ.
- Ranh giới giữa văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần chỉ cótính tương đối
- Văn hoá có tính khách quan hiểu theo nghĩa rộng là tổng hoànhững giá trị vật chất và tinh thần của con người
- Văn hoá là một biểu hiện xã hội không chỉ bao quát quá khứhiện tại mà còn trải rộng trong tương lai
- Văn hoá đó là thuộc tính bản chất tộc loài, con người với chứcnăng giáo dục, nhận thức, định hướng, đánh giá xác định chuẩn mựccủa hành vi, điều chỉnh quan hệ ứng xử, giao tiếp
* Văn hoá có một số đặc điểm cơ bản sau:
- Văn hoá còn có tính chất giai cấp, trong xã hội có giai cấp, vănhoá tinh thần mang tính giai cấp Nó phục vụ lợi ích giai cấp nhấtđịnh Tính giai cấp đó biểu hiện ở chỗ là Văn hoá do ai sáng tạo phảnánh và phục vụ lợi ích của giai cấp nào, những cơ sở vật chất của Vănhoá (các phương tiện thông tin, tuyên truyền, rạp hát, thư viện, trườnghọc, viện bảo tàng ) do ai làm chủ, tính giai cấp còn thể hiện ở chứcnăng giáo dục của Văn hoá, nó giáo dục xây dựng con người theo một
lý tưởng chính trị xã hội, đạo đức thẩm mỹ của một giai cấp một thờinhất định
Văn hoá có tính giai cấp đồng thời còn có tính dân tộc
Mỗi dân tộc còn có tính phát triển riêng, có điều kiện tự nhiên,cách sinh hoạt riêng, có phong tục tập quán, những thói quen, tâm lýriêng Điều đó quy định đặc điểm riêng của văn hoá dân tộc
- Văn hoá tinh thần của một hình thái kinh tế xã hội xuất hiện vàphát triển trên sơ sở vật chất cụ thể và phản ánh trình độ phát triểnnhất định của tồn tại vật chất
- Sự phát triển của văn hoá mang tính chất kế thừa: Trong bất kỳgiai đoạn phát triển nào của văn hoá cũng điều có sự kế thừa văn hoá
đã đạt được trong các giai đoạn trước Trên cơ sở đó tiếp thu và cải tạo
1 cách có phê phán, bổ sung và làm cho nó ngày càng phát triển
- Sự phát triển của văn hoá còn có đặc điểm là giữa các yếu tốcấu thành của văn hoá có mối liên hệ tác động lãn nhau, thúc đẩy nhaucùng phát triển
- Văn hoá XHCN là văn hoá của giai cấp vô sản và nhân dân laođộng có nội dung XHCN, tính chất dân tộc, tính Đảng và tính nhândân sâu sắc Toàn bộ hoạt động văn hoá lấy việc phục vụ con ngườilàm mục tiêu cao nhất
Trang 3* Để làm sáng tỏ khái niệm văn hoá người ta so sánh nó với kháiniệm tự nhiên
- Tự nhiên là toàn bộ thế giới vật chất tồn tại ngoài ý thức conngười, không phụ thuộc vào con người, không là kết quả của conngười Thế giới tự nhiên vận động theo nhưng quy luật tự nhiên của
nó, còn văn hoá là những hoạt động nhằm cải tạo tự nhiên, bắt tựnhiên thoả mãn nhu cầu của con người
- Trong quá trình phát triển của xã hội loài người đã nảy sinhmột loại hoạt động đặc biệt, nó không tác động vào tự nhiên bên ngoài
mà tác động vào phần tự nhiên con người nhằm tới hoàn thiện ngaychính bản thân con người, cải tạo ngay phần tự nhiên trong con người,hoạt động ấy được gọi là TDTT
* Để hiểu được đặc điển của TDTT một cách tương đối toàndiện cần phải phân tích nó theo 3 phương diện: TDTT là một loại hoạtđộng, TDTT là tổng hợp những giá trị vật chất và tinh thần và TDTT
là kết quả của hoạt động
Trong trường hợp này thành phần cơ bản của TDTT là bài tậpthể chất
- Những công trình nghiên cứu sử học khẳng định rằng, nhữngbài tập thể chất cổ xưa có nguồn gốc từ hoạt động lao động, chúngmang theo đặc điểm lao động chân tay Trong quá trình phát triển tiếp
đó TDTT ngày càng có thêm hình thức vận động mới được “thiết kế”
để đáp ứng nhu cầu giải quyết các nhiệm vụ văn hoá, giáo dưỡng, giáodục, củng cố sức khoẻ Điều đó không có nghĩa là mối quan hệ giữaTDTT và lao động đã bị xoá bỏ Theo quan điểm thực dụng thì TDTTmãi mãi vẫn là phương tiện chuẩn bị trước cho thực tiễn lao động Vớiquan điểm này thì TDTT là một hoạt động chuẩn bị Kết quả của hoạtđộng này là trình độ chuẩn bị thể lực Nó là cơ sở cho việc tiếp thu cókết quả các thao tác lao động, lao động có năng suất cao và giải quyết
Trang 4các nhiệm vụ thực tiễn đòi hỏi có kỹ năng kỹ xảo vận động hoànthiện, tố chất thể lực phát triển và khả năng làm việc cao.
- Trên con đường phát triển lâu dài của mình nội dung và hìnhthức của TDTT dần dần được phân hoá phù hợp với các lãnh vực đờisống và hoạt động khác nhau trong xã hội (giáo dưỡng , sản xuất, đờisống hàng ngày, nghỉ ngơi, y học ) Do vậy đã hình thành nên những
bộ phận TDTT có ý nghĩa xã hội (TDTT trường học, TDTT sản xuất,đời sống, hồi phục, chữa bệnh )
- Ngoài những giá trị kể trên trong lĩnh vực TDTT còn bao gồmnhiều giá trị văn hoá khác như những kiến thức khoa học thực dụngchuyên môn, những nguyên tắc, quy tắc và phương pháp sử dụng bàitập thể chất, những tiêu chuẩn đạo đức, những thành tích thể thao,những điều kiện khác được tạo ra phục vụ cho hoạt động TDTT trong
xã hội (tuyên truyền về thể thao và TDTT, các tác phẩm nghệ thuật vềTDTT, các công trình thể thao, trang thiết bị tập luyện )
Trang 5Những tiêu chuẩn cơ bản đánh giá mức độ hoàn hiện thể chấttrong từng giai đoạn lịch sử được quy định trong tiêu chuẩn rèn luyệnthân thể và phân loại đẳng cấp VĐV.
- Vài trò và giá trị thực tế của TDTT trong xã hội phụ thuộc vàođiều kiện sống cơ bản của xã hội
Trong chế độ XHCN, TDTT trở thành tài sản chung và cùng vớicác loại văn hoá khác nó còn có vai trò quan trọng trong phát triểntoàn diện các thành viên xã hội, hơn nữa nó không chỉ là nhân tố hoànthiện thể chất mà còn là 1 trong những phương tiện có hiệu lực nhấtcủa giáo dục đạo đức thẩm mỹ, trí tuệ, hình thành cân đối nhân cách
Từ những vấn đề trên cho phép định nghĩa TDTT như sau:
TDTT là bộ phận hữu cơ của nền văn hoá xã hội Nội dung đặc thù của TDTT là sử dụng hợp lý hoạt động vận động như 1 nhân tố chuẩn bị thể lực cho cuộc sống, hợp lý hoá trạng thái thể chất và phát triển thể chất.
Theo nghĩa rộng TDTT là toàn bộ thành tựu của xã hội trong sự nghiệp sáng tạo những phương tiện, phương pháp và điều kiện nhằm phát triển khả năng thích nghi thể lực của thế hệ trẻ và người trưởng thành.
Trang 6Câu 2: Chứng minh sự phát triển thể chất đồng thời là quá trình
tự nhiên xã hội:
Thể chất chỉ chất lượng thân thể con người Đó là những đặctrưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể đượchình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống
Thể chất bao gồm thể hình, năng lực thể chất và năng lực thíchứng
Thể hình liên quan đến hình thái, cấu trúc của thân thể, bao gồmtrình độ phát triển của cơ thể, những chỉ số tuyệt đối và tương đối củatoàn thân hoặc từng bộ phận và tư thế thân thể
Năng lực thể chất thể hiện khả năng chức năng của các hệ thống,
cơ quan trên cơ thể qua hoạt động cơ bắp là chính Nó bao gồm các tốchất vận động (Sức nhanh, sức mạnh, độ dẻo, tính khéo léo - khả năngphối hợp vận động )
Năng lực thích ứng thể hiện khả năng thích ứng của cơ thể vớihoàn cảnh bên ngoài Không chỉ là sự thích ứng đơn giản mà còn là đềkháng với bệnh tật
- Phát triển thể chất là quá trình biến đổi hình thái, chức năng cơthể con người diễn ra trong suốt cuộc đời của mỗi cá nhân
Sự phát triển thể chất biểu hiện như sự thay đổi về chiều cao, cânnặng thay đổi về hình thái kích thước cơ thể, thay đổi khả năng vậnđộng như các tố chất nhanh, mạnh, bền
- Phát triển thể chất là 1 quá trình tự nhiên đồng thời là quá trình
xã hội
Phát triển thể chất là quá trình tự nhiên vì nó tuân theo nhữngquy luật sinh học tự nhiên, như quy luật phát triển thể chất theo lứatuổi giới tính, quy luật thống nhất hữu cơ giữa cơ thể và môi trường,quy luật thay đổi về hình thái dẫn đến thay đổi về chức năng, theonhững quy luật thay đổi số lượng dẫn đến thay đổi chất lượng
Tuy vậy sự phát triển thể chất của con người còn chịu sự chiphối của môi trường xã hội như điều kiện sống vật chất, điều kiện vệsinh, điều kiện lao động, học tập, nghỉ ngơi
- Sự phát triển thể chất của con người chịu ảnh hưởng của 3 yếutố: Bẩm sinh di truyền, môi trường (điều kiện sống) và giáo dục.Trong đó bẩm sinh di truyền là tiền đề vật chất cho sự phát triển Vídụ: 2 bố mẹ đều khoẻ mạnh thì khi sinh ra con, đứa con đó sẽ có điềukiện thuận lợi phát triển thể chất
Môi trường (điều kiện sống) tác động đến sự phát triển thể chấtmột cách tự phát nghĩa là với điều kiện như ăn uống đầy đủ, lao động
Trang 7đúng mức thì thể chất phát triển tốt và ngược lại, nếu điều kiện sốngkhông tốt thể chất phát triển không tốt.
Giáo dục: Tác động đến sự phát triển thể chất 1 cách tự giác (chủđộng, tích cực hợp lý) Về bản chất giáo dục là quá trình điều khiển sựphát triển thể chất 1 cách hợp lý hoá
Nhưng tốc độ phát triển, xu hướng phát triển phụ thuộc vào điềukiện sống (VD: 1 đứa trẻ thiếu dinh dưỡng chậm lớn)
Vai trò của giáo dục còn thể hiện ở chỗ có thể khắc phục đượcnhững hậu quả tiêu cực của lao động, học tập hoặc những hoạt độngsống khác gây nên
VD: Như chữa các bệnh cong vẹo cột sống hoặc phát triển mấtcân đối giữa các bộ phân cơ thể, hồi phục chức năng của các cơ quan
bị tổn thương, thậm trí thông qua tập luyện có thể tạo ra được nhữngphẩm chất mà bản thân di truyền không có, VD: khả năng làm việctrên không trung hay dưới độ sâu của nước
Như vậy sự phát triển thể chất vừa là quá trình tự nhiên vừa làquá trình xã hội với 3 yếu tố Đây chính là 2 mặt của một quá trìnhphát triển thể chất
- Cả 3 yếu tố này diễn ra đồng thời, có quan hệ chặt chẽ và bổxung cho nhau trong việc phát triển tố chất và nhân cách con người.Trên cơ sở yếu tố bẩm sinh di truyền là tiền đề cũng với điều kiệnsống phù hợp đảm bảo tính khoa học và quá trình giáo dục diễn rađúng lúc sẽ mang lại hiệu quả cao
*Tập luyện TDTT sẽ thúc đẩy và nâng cao sự phát triển thể chấtnhư tăng cường sức khoẻ, thể hình đẹp, cân đối nâng cao các khả chứcphận của cơ thể như tim, phổi, hệ tim mạch, hô hấp (thông khí phổi,Tần số hô hấp, VO2max) nâng cao và phát triển các tố chất thể lực,sức đề kháng với bệnh tật, các năng lực vận động cơ bản của cuộcsống như chạy, nhảy, bò, trườn ngoài ra còn là mục tiêu để rèn luyệnphẩm chất đạo đức, hình thành nhân cách của con người và có thểkhẳng định một điều rằng người nào tập luyện TDTT 1 cách hợp lý thìchắc chắn sẽ có sự phát triển thể chất hơn hẳn người không tập luyệnTDTT mà do sự phát triển của các quy luật tự nhiên (bẩm sinh ditruyền)
Trang 8Câu 3: Phân tích khái niệm giáo dục thể chất:
-> GDTC là một loại hình giáo dục nên nó là một quá trình giáodục có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch để truyền thụ những tri thức
kỹ năng kỹ xảo từ thế hệ này sang thế hệ khác, điều này có nghĩa làGDTC cũng như các loại hình giáo dục khác, nó là một quá trình sưphạm với đầy đủ các đặc điểm của nó (có vai trò chủ đạo của nhà sưphạm , tổ chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh vớinguyên tắc giáo dục thể chất)
Do đó GDTC là 1 hình thức giáo dục nhằm trang bị những kỹnăng kỹ xảo và những tri thức chuyên môn (giáo dưỡng) phát triển các
tố chất thể lực và tăng cường sức khoẻ
Như vậy GDTC có thể chia thành 2 mặt tương đối độc lập là dạyhọc động tác (giáo dưỡng) thể chất và giáo dục các tố chất thể lực:
- Dạy học động tác là nội dung cơ bản của giáo dưỡng thể chất
đó là quá trình truyền thụ và tiếp thu có hệ thống những cách thứcđiều khiển hợp lý sự vận động của con người qua đó hình thành những
kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản cần thiết trong cuộc sống và nhữnghiểu biết có liên quan (tri thức chuyên môn, luật, phương pháp,phương tiện của GDTC) Kỹ thuật các môn thể thao, các hoạt độngsống cơ bản: đi, chạy, nhảy, leo, trèo Kỹ năng, kỹ xảo ngành nghề
du lịch, giải trí
- Bản chất của thành phần thứ 2 trong GDTC là tác động hợp lýtới sự phát triển các tố chất thể lực đảm bảo phát triển các năng lựcvận động như: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo, mềm dẻo
- Việc dạy học động tác và giáo dục các tố chất thể lực có liênquan chặt chẽ làm tiền đề cho nhau thậm trí có thể chuyển lẫn nhaunhưng chúng không bao giờ đồng nhất và quan hệ có khác biệt trongcác giai đoạn phát triển thể chất và giáo dục thể chất khác nhau
VD: 1 VĐV có thể phát triển các tố chất thể lực, nhất là năng lựcphối hợp vận động khéo léo, thì việc vẫn tiếp thu kỹ thuật động tác kỹnăng kỹ xảo sẽ nhanh hơn rất nhiều, kỹ thuật động tác rất đẹp và hợplý
- Như vậy GDTC là một hình thức giáo dục mà ở đó nội dungchuyên biệt là dạy học động tác và giáo dục có chủ định các tố chấtvận động của con người Trong hệ thống giáo dục nội dung đặc trưngcủa GDTC được gắn liền với trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục laođộng
* Mối quan hệ giữa GDTC và VHTC:
Trang 9- Nếu so sánh khái niệm GDTC và VHTC ta có thể kết luận rằngchúng có mối quan hệ chặt chẽ Song sẽ không đúng nếu coi chúnggiống nhau hoàn toàn hoặc xem khái niệm này là 1 phần của kháiniệm kia GDTC không là một phần của VHTC mà là hình thức cơbản sử dụng những giá trị của VHTC trong hệ thống giáo dục nhằmgiải quyết mục đích của GDTC.
- Người ta nói GDTC là dòng kênh để chuyển giao những giá trịVHTC từ thế hệ này sang thế hệ khác, đồng thời đó cũng là 1 trongnhững con đường làm tăng thêm giá trị VHTC vì răng thế hệ trẻkhông tiếp thu một cách đơn giản những gì đã có trước đó, khi đã tiếpthu chúng họ sẽ phát triển chúng lên và tiến tới những thành tựu mới
- GDTC là hiện tượng sư phạm của VHTC như vậy GDTC nóđược tổ chức gia cố và được nhà nước pháp quy công nhận đặc biệt làGDTC ở những nhà trường phổ thông: THCN, CĐ và ĐH
Từ sự phân tích khái niệm GDTC ta thấy GDTC là một hìnhthức giáo dục nhằm giải quyết các nhiệm vụ của GDTC và đẻ thựchiện mục đích của GDTC XHCNVN cho nên chúng ta phải hiểu sâu
về mục đích cũng như các nhiệm vụ của GDTC để thực hiện tốt hơncông tác DGTC trong các nhà trường
*Mục đích GDTC (XHCN Việt Nam).
- Mục đích của giáo dục hay nói đúng hơn là mục đích của conngười đề ra cho mình trong lĩnh vực xã hội thực chất là những dự báokết quả hoạt động
- Mục đích giáo dục là sự phản ánh những nhu cầu khách quancủa xã hội, vì vậy không phải đặt ra mục đích giáo dục 1 cách tuỳ tiện.Điều cơ bản trong xác định mục đích giáo dục là phải nắm vữngnhững yêu cầu kết quả của cuộc sống về phát triển và giáo dưỡng conngười
- Mục đích GDTC được xây dựng trên cơ sở nhu cầu xây dựngXHCN và nó gắn lền với mục đích giáo dục chung Mục đích GDTCcũng là mục đích TDTT của nước ta đã được xác định trong nhữngvăn kiện quan trọng của Đảng cộng sản Việt Nam
“Khôi phục và tăng cường sức khoẻ cho nhân dân, góp phần xâydựng con người mới phát triển toàn diện, phục vụ đắc lực sự nghiệpxây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN”
- Như vậy mục đích GDTC XHCN là sự phản ảnh nhu cầu cụthể của xã hội có cội nguồn từ lao động và quốc phòng, song điều đókhông có nghĩa là thể chất chỉ hoàn toàn thoả mãn nhu cầu thực dụngcủa xã hội, mục đích của GDTC và mục đích giáo dục nói chung trong
Trang 10chế độ xã hội chủ nghĩa phải là sự phản ánh nguyễn tắc cao nhất củaCNXH “tất cả vì con người, vì lợi ích của con người”.
- Từ mục đích GDTC ta có thể xác định được những nhân tốkhách quan cơ bản xác định mục đích GDTC
- Những yêu cầu của sản xuất đối với sức khoẻ thể chất trình độchuẩn bị cho lao động chức năng này tồn tại vĩnh hằng với lao động.Trong sự nghiệp xây dựng XHCN, trong điều kiện sản xuất lớn thì vaitrò của sức khoẻ và trình độ chuẩn bị thể lực, ngày càng được đánh giácao hơn, việc không ngừng thay đổi cơ sở của đại công nghiệp đã làmthay đổi vị trí và chức năng của con người trong quá trình sản xuất Sựtiến bộ trong sản xuất không loại bỏ mà còn tăng cường yêu cầu về thểchất và chuẩn bị thể lực người lao động, những động tác nặng nhọc sẽđược thay thế bằng những động tác khéo léo
- Những yếu cầu về củng cố an ninh quốc phòng của đát nướctrong bất kỳ tình thế nào một quốc gia đều phải thực hiện chức năngquốc phòng Một trong những thành phần quan trọng nhất là tạo nênsức mạnh quân sự là trình độ chuẩn bị thể lực của người chiến sĩ , làphương tiện kỹ thuật hiện đại đòi hỏi quân đội phải có năng lực tiếpthu là sử dụng chúng có hiệu quả trong các tình huống chiến đấu, yêucầu phát huy tối đa thể lực và tinh thần, chiến lược, chiến thuật, hiệnđại
* Nhiệm vụ của quá trình GDTC:
- Mục đích của GDTC được cụ thể hoá trong các nhiệm vụ căn
cứ vào từng đặc trưng của giáo dục thể chất và các mối liên hệ củaGDTC với các mặt giáo dục khác nhau người ta chia thành ba nhiệm
vụ cơ bản của GDTC
1 Nhóm nhiệm vụ GDTC theo nghĩa hẹp:
- Củng cố và tăng cường sức khoẻ phát triển toàn diện cân đốihình thái chức năng cơ thể, phát triển tố chất vận động và khả nănghoạt động thể lực của con người
Nhóm nhiệm này đảm bảo phát triển toàn diện các tố chất vànăng lực thể chất nói chung, hoàn thiện hình thể củng cố sức khoẻ,phát triển duy trì lâu dài khả năng vận động và thể lực chung
Có thể nói rằng nhiệm vụ hàng đầu của GDTC là đảm bảo pháttriển tối ưu ở mỗi cá nhân các tố chất vận động cơ bản cần thiết chocuộc sống: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền và khả năng phối hợp vậnđộng Sự phát triển các tố chất vận động có ảnh hưởng trực tiếp tớikhả năng tiếp thu và hoàn thiện kỹ xảo vận động cũng như chuẩn bịtrình độ thể lực chung trên cơ sở giáo dục tố chất vận động có thể giải
Trang 11quyết những nhiện vụ nhất định về việc hoàn thiện hình thái chứcnăng cơ thể.
- Trong hệ thống GDTC nhiệm vụ hoàn thiện hình thái chứcnăng cơ thể cũng có ảnh hưởng đến hoàn thiện chức năng nhưng việchoàn thiện hình thể chỉ coi là đúng đắn nếu sự tập luyện không vì mụcđích tự thân mà vì mục đích phát triển con người toàn diện hoàn thiệnthể hình còn có ý nghĩa phòng chống bệnh và chỉnh hình VD: Nếu tậpthể hình chỉ nhằm đem lại vẻ đẹp bề ngoài thì tác dụng không triệt đểsâu sắc đến khả năng thể chất, phát triển lệch lạc không đáp ứng yêucầu phát triển toàn diện về tư chất, kỹ năng kỹ xảo, cũng như pháttriển toàn diện các nội dung giáo dục
2 Nhiệm vụ giáo dưỡng thể chất.
- Hình thành và hoàn thiện kỹ năng kỹ xảo vận động quan trọngtrong cuộc sống kể cả kỹ năng kỹ xảo thực dụng và thể thao, trang bịnhững kiến thức chuyên môn
- Chúng ta biết rằng muốn có trình độ chuẩn bị thể lực, mà chỉphát triển tố chất thể lực, thì chưa đủ Mặt khác khả năng vận độngcủa con người được bộc lộ trong các kỹ năng kỹ xảo vận động vì vậynhiệm vụ giáo dưỡng thể chất phải được đặt ra
- Trong quá trình GDTC nhiều năm nội dung cụ thể của giáodưỡng ở các giai đoạn khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm tâm sinh lýlứa tuổi, vào kinh nghiệm vận động mà con người đã tiếp thu được,vào năng khiếu cá nhân, vào đặc điểm hoạt động và nhiều nhân tốkhác, quy tắc chung ở đây là chuyển từ giáo dục chung, rộng rãi sanghoàn thiện chuyên sâu, kỹ năng kỹ xảo chọn lọc trên cơ sở chuẩn bịthể lực toàn diện
- Một nội dung quan trọng nữa của GDTC là trang bị tri thứcchuyên môn, ở đây muốn đề cập tới những kiến thức tiền đề cho việctiếp thu những kỹ năng kỹ xảo vận động và những kiến thức có ýnghĩa xã hội của GDTC về bản chất của GDTC và những hiểu biếtcho tập luyện phải hiểu lý luận phương pháp giáo dục, đặc điểm tâmsinh lý con người, ý nghĩa tác dụng của TDTT, nắm chắc đặc điểmphương tiện, phương pháp, nguyên tắc giáo dục
3 Nhiệm vụ giáo dục theo nghĩa rộng:
- Nhiệm vụ này được thực hiện trên cơ sở thống nhất giải quyếtcác nhiệm vụ giáo dục kỹ năng, những nhiệm vụ phức tạp về hìnhthành 1 nhân cách hoàn chỉnh chỉ được giải quyết trong điều kiệnthống nhất hữu cơ với các mặt giáo dục riêng lẻ Bên cạnh đó phải điđôi với giáo dục đạo đức, nó giường như xuyên suốt toàn bộ thực tiễn
Trang 12giáo dục xã hội, xuyên suốt các mặt giáo dục và hình thức giáo dục,bởi vì hiệu quả cuối cùng của bất kỳ mặt giáo dục nào cũng phụ thuộcchủ yếu vào việc giải quyết toàn diện nhiệm vụ, hình thành lý tưởngtiêu chuẩn đạo đức thói quen đạo đức.
- Việc tách riêng các nhiệm vụ trên chỉ là tương đối, trên thực tếcủa quá trình GDTC bao giờ người ta cũng tiến hành giải quyết đồngthời các nhiệm vụ (như đạo đức, ý trí, thẩm mỹ và trí tuệ, giáo dưỡngthể chất và giáo dục tố chất thể lực)
(Lấy ví dụ, phân tích, chứng minh)
Trang 13Câu 4: Phân tích khái niệm thể thao (vai trò ngày càng tăng của
thể thao trong xã hội hiện đại).
- Trước hết muốn phân tích được khái niệm thể thao thì ta phảihiểu thế nào là thể thao Người ta phân biệt thể thao theo nghĩa rộng
và nghĩa hẹp
* Thể thao theo nghĩa hẹp: Thể thao là một hoạt động thi đấu
- Hoạt động thi đấu được hình thành trong xã hội loài người màthông qua thi đấu con người phô diễn, so sánh khả năng về thể chất vàtinh thần, khái niệm này chỉ nêu lên những đặc điểm bên ngoài đểphân biệt thể thao với các hiện tượng khác Rõ ràng khái niệm nhưvậy không bao quát được hết những biểu hiện cụ thể phong phú củathể thao trong xã hội
- Bản chất của thể thao không chỉ giới hạn là thành tích thể thaothuần tuý mà còn là hoạt động tác động toàn diện tới con người
* Thể thao theo nghĩa rộng: Trước nhất bao gồm hoạt động thi
đấu là sự chuẩn bị tập luyện đặc biệt cho thi đấu thể thao, là mối quan
hệ đặc biệt giữa người với người cũng với ý nghĩa xã hội với thànhtích thi đấu góp chung lại
- Thể thao là một hiện tượng xã hội :
+ Đối với cá nhân, thể thao là khát vọng của con người khôngngừng mở rộng khả năng giới hạn của mình được thực hiện thông quanhiệm vụ đặc biệt, tham gia thi đấu gắn liền với khắc phục khó khănngày càng tăng Thể thao là thế giới cảm xúc do thắng lợi hay thất bạimang lại Nó còn là lĩnh vực tiếp xúc độc đáo giữa người với người.Thể thao còn có ý nghĩa sâu sắc hơn thế nó là hình thức vận động của
xã hội, của thời đại, là tổng hợp quan hệ phức tạp giữa người vớingười, là một hình thức hoạt động của thời đại mang tính đại chúng
- Để đạt tới thành tích thể thao cao con người phải tập luyện hệthống thông qua lượng vận động lớn khắc phục khó khăn về tâm lý,cho nên thể thao là một phương tiện, phương pháp hữu hiệu nhất đểphát triển thể chất Theo cách diễn đạt trên thì khái niệm thể thao có 1phần đồng nghĩa với văn hoá thể chất nhưng chỉ có 1 phần mà thôi vàtrong quan hệ nhất định khái niệm văn hoá thể chất rộng hơn khái nệmthể thao, vì văn hoá thể chất không chỉ bao gồm một phần lớn thể thao
mà còn gồm nhiều thành phần khác như: Thể thao trường học, thể dụcchữa bệnh, thể dục vệ sinh Như vậy VHTC có quan hệ rộng rãi vớithể thao nhưng không có nghĩa trùng hợp hoàn toàn VD: Những mônthể thao không liên quan nhiều đến thể chất như: Cờ vua, Cờ tướng thì
mô hình là thể thao, nhưng không thuộc VHTC, TDTT ví như 1 hình
Trang 14lập phương, thể thao phần lớn nằm trong nó nhưng có 1 nhánh nằm rangoài.
Trang 15Câu 5: Phân tích TDTT là 1 hoạt động
Thuật ngữ TDTT được dùng ở nước ta có lẽ vào những năm sauhoà bình lặp lại Ngay từ khi bắt đầu sử dụng thuật ngữ này, chưa có
ai xây dung cho nó nội dung có tính khoa học Khó có thể giải thíchthuật ngữ TDTT, phương pháp cắt nghĩa từng chữ như: Thể là thânthể, dục là giáo dục, thể dục nghĩa là giáo dục thân thể
TDTT là 1 hiện tượng, nó thể hiện trong xã hội rất quan trọng và
đa dạng cho nên khi phân tích TDTT như 1 hoạt động xuất phát từ 3luận điểm:
Thành phần cơ bản của VHTC khi xem xét như 1 hoạt động làcác bài tập thể chất Bài tập thể chất có nguồn gốc từ lao động, nó rađời từ cổ xưa, chúng mang theo đặc điểm của chân tay và mang tínhthực dụng trực tiếp trong những ngày đầu trong quá trình phát triển,tiếp đó VHTC ngày càng có thêm hình thức vận động mới được “thiếtkế” để đáp ứng nhu cầu giải quyết các nhiệm vụ văn hoá giáo dục,giáo dưỡng củng cố sức khoẻ và bài tập thể chất dần mất đi tính thựcdụng trực tiếp, nhưng không có nghĩa là mối quan hệ VHTC và laođộng bị xoá bỏ Theo quan điểm thực dụng thì VHTC là 1 hoạt động
sẽ tồn tại mãi mãi vì lao động không bao giờ mất đi và VHTC mãi vẫn
là phương tiện chuẩn bị trước cho thực tiễn lao động Với quan điểmnày thì VHTC là 1 hoạt động chuẩn bị Kết quả của hoạt động này làtrình độ chuẩn bị thể lực Nó là cơ sở cho việc tiếp thu có kết quả cácthao tác lao động, lao động có năng suất, hoàn thiện kỹ năng, kỹ xảovận động, phát triển tố chất thể lực và khả năng làm việc cao
Trang 16VHTC là tổng hoà những giá trị vật chất và tinh thần được sángtạo ra trong xã hội để đảm bảo hiệu quả cần thiết của hoạt động này.
Trong mỗi thời kỳ phát triển của VHTC, những giá trị này (vậtchất và tinh thần) trở thành đối tượng hoạt động, tiếp thu, sử dụng củanhững người tham gia hoạt động VHTC Ở đây muốn đề cập đếnnhững phương tiện, phương pháp tập luyện được sử dụng rộng rãi nhưTDTT, trò chơi vận động và rất nhiều bài tập thể chất khác
Trên con đường phát triển lâu dài của mình, nội dung và hìnhthức của VHTC dần dần được phân hoá đối với các lĩnh vực khácnhau trong đời sống xã hội và hoạt động (giáo dưỡng, sản xuất, nghỉngơi, giải trí, văn học ) Do vậy đã hình thành nên những bộ phậnVHTC có ý nghĩa xã hội (VHTC trường học, VHTC sản xuất, đờisống ) Hiệu lực của những bộ phận VHTC này như tổng hợp nhữngphương pháp, phương tiện giải quyết các nhiệm vụ giáo dục, giáodưỡng tăng cường sức khoẻ ngày càng tăng Đồng thời ý nghĩa củatừng bộ phận VHTC cũng tăng lên tương ứng
Ngoài những giá trị kể trên còn có những giá trị quan trọng khácnhau như kiến thức khoa học, thực dụng chuyên môn, những nguyêntắc, quy tắc và phương pháp sử dụng Bài tập thể chất, những tiêuchuẩn đạo đức, những thành tích thể thao, những điều kiện được tạo ranhư: Các tác phẩm nghệ thuật về TDTT, các công trình thể thao, trangthiết bị tập luyện mà chúng ta không thể kể siết
2.VHTC là kết quả của hoạt động.
Đó chính là những kết quả sử dụng những giá trị vật chất và tinhthần kể trên trong xã hội Trong số những kết quả này phải kể đếntrước tiên đó là trình độ chuẩn bị thể lực, mức độ hoàn thiện kỹ năng,
kỹ xảo vận động, mức độ phát triển kỹ năng vận động, thành tích thểthao và những kết quả hữu ích khác đối với xã hội và cá nhân
Kết quả hiện thực bản chất nhất của việc sử dụng các giá trịVHTC trong đời sống xã hội là số người đạt được chỉ tiêu hoàn thiệnthể chất
Hoàn thiện thể chất là mức độ hợp lý của trình độ chuẩn bị thểlực chung và phát triển thể lực cân đối Mức độ hợp lý này phù hợpvới yêu cầu của lao động và những hoạt động sống khác, phản ánhmức độ phát triển tương đối cao năng khiếu thể chất cá nhân, phù hợpvới quy luật phát triển toàn diện nhân cách và bảo vệ sức khoẻ lâu dài
Vai trò giá trị thực tế của VHTC trong xã hội phụ thuộc vàonhưng điều kiện sống cơ bản của nó Điều kiện sống xã hội qui địnhđặc điểm sử dụng hoạt động và phát triển VHTC Tuỳ thuộc vào
Trang 17những điều kiện ấy mà kết quả thực tế tác động của VHTC tới conngười có sự khác nhau mang tính chất nguyên tắc.
Tất cả những vấn đề nêu trên cho phép khái quát khái niệm trongđịnh nghĩa sau:
- Theo nghĩa hẹp: VHTC là 1 bộ phận hữu cơ của nền văn hoá
xã hội Nội dung đặc thù của VHTC là sử dụng hợp lý hoạt động vậnđộng như một nhân tố chuẩn bị thể lực cho cuộc sống, hợp lý hoátrạng thái thể chất và phát triển thể chất
- Theo nghĩa rộng: VHTC là toàn bộ những thành tựu của xã
hội trong sự nghiệp sáng tạo những phương tiện, phương pháp và điềukiện nhằm phát triển khả năng thích nghi thể lực cho thế hệ trẻ vàngười trưởng thành
Từ những khái niệm và luận điểm nêu trên cho ta thấy, TDTT là
1 hoạt động
Trang 18Câu 6: Phân tích chức năng của TDTT
-> Trước hết muốn phân tích được chức năng của TDTT thì phảihiểu được nguồn gốc và sự phát triển TDTT
-> TDTT nảy sinh như một biểu tượng có bản chất xã hội Tưliệu lịch sử cho thấy TDTT đã hình thành cùng với hoạt động laođộng
Nhưng hình thức lao động nguyên thuỷ đã đòi hỏi ở con người
có năng lực thể chất, phát triển những thao tác lao động đã trở thànhbài tập thể chất (chạy, nhảy, ném, vượt chướng ngại vật) để chuẩn bịtrước cho thế hệ trẻ khả năng săn bắt thú, sau đó chiến tranh cũng ảnhhưởng mạnh mẽ tới TDTT Cùng với việc phân chia giai cấp trong xãhội, TDTT đã được sử dụng vào những mục đích khác nhau các lễ hộivai trò của giải trí cũng ảnh hưởng phát triển TDTT
- Ngày nay nền kinh tế xã hội phát triển, TDTT cũng được pháttriển mạnh mẽ như một hiện tượng xã hội có liên quan tới nhiều mặtkhác nhau của thực tiễn xã hội, và ngày càng thâm nhập sâu vào cấutrúc chung của con người đáp ứng nhu cầu tập luyện của mỗi thànhviên trong xã hội
- TDTT còn có quan hệ với đời sống tinh thần xã hội với tưtưởng và chính trị của nó
- Chức năng TDTT không phải tự nó được thực hiện mà phảithông qua hoạt động tích cực của con người nhằm sử dụng những giátrị Văn hoá tương ứng chỉ có trực tiếp tập luyện các chức năng TDTTmới thực hiện được
- Những khái niệm về chức năng hình thức TDTT đang tồn tạinhững hướng giải quyết khác nhau về chức năng của TDTT thườngthấy 2 thái cực
+ Một trường phái gần chức năng TDTT và các thuộc tính riêng
và tuyệt đối hoá chúng vì vậy đã thu hẹp rất nhiều vai trò XH TDTT
+ Trường phái thứ 2 lại liệt kê tràn lan các chức năng kể cả chứcnăng không thuộc về TDTT các nhà xã hội học XHCN lại thiên về đề
Trang 19cao giá trị của TDTT họ kể ra các chức năng của TDTT giáo dục conngười và phát triển toàn diện liên kết và xã hội hoá nhân cách Giáodục đạo đức và chính trị, củng cố sức khoẻ, hoàn thiện thể chất, chốngđói, vận động giao tiếp và nâng cao uy tín quốc gia.
2 Để làm sáng tỏ chức năng thực tế của TDTT cần nắm vững những luận điểm, phương pháp sau đây:
- Cơ sở để xác định chức năng và hình thức TDTT chỉ gồmnhững thuộc tính khách quan vố có của nó trên thực tế và những liên
hệ khách quan đối với những hiện tượng khác của thực tế Nói khác đi
là không nên gắn cho TDTT thuộc tính này hay thuộc tính kia nếuchưa đủ bằng chứng thực tế vì vậy đã thu hẹp rất nhiều vai trò xã hộicủa TDTT VD: Không nên gắn cho TDTT tất cả các chức năng Vănhoá tinh thần bởi vì trên thực tế TDTT không có toàn bộ tổ hợp chứcnăng đó
- Cần phân biệt chức năng đặc thù của TDTT như là chức năngthể hiện đặc điểm của nó mà các ngành xã hội khác không có, khôngphải tất cả việc sử dụng TDTT trong xã hội đều có thể liệt vào loạichức năng đặc thù VD: Quy tụ con người trong hoạt động TDTT,hoặc sử dụng TDTT và tạo dựng các mối quan hệ quốc tế không tồntại trong bản thân TDTT, mà tuỳ thuộc vào các tổ chức lãnh đạo xãhội Do đó cần phân biệt chức năng đặc thù và chức năng chung củaTDTT như một mặt văn hoá xã hội
- Chức năng TDTT cần được xem xét trong tổng thể thống nhấtvới hình thức bởi vì chức năng và hình thức không tồn tại tách rờinhau mà thống nhất và quy định lẫn nhau
- Trong đánh giá tổng thể chức năng TDTT cũng như xác địnhđặc điểm của TDTT bộ phận cần phải đi từ chỗ cho rằng TDTT thuộcvào cấu trúc xã hội chung liên quan mật thiết với các lĩnh vực kháctrong đời sống xã hội, cấu trúc đời sống chung của con người có ảnhhưởng lớn tới cấu trúc TDTT xã hội Trong đó đặc điểm của các hìnhthức TDTT khác nhau ở khía cạnh khác phản ánh các lĩnh vực xã hội
sử dụng TDTT VD: TDTT được sử dụng trực tiếp trong sản xuất (laođộng sản xuất) khác hẳn với TDTT trong điều kiện gia đình, cả 2 loạithể dục đó lại khác hẳn TDTT trong hệ thống giáo dục, giáo dưỡng
- Do đó khi nghiên cứu chức năng và hình thức TDTT khôngnên giới hạn ở một số lĩnh vực hoạt động TDTT mà phải đi sâu vào tất
cả các lĩnh vực xã hội mà trong đó TDTT có vai trò to lớn cũng nhưtrong TDTT đặc thù
Trang 20- Trong quá trình phát triển của lịch sử TDTT đã thay đổi tuỳthuộc vào điều kiện sống cơ bản của xã hội Đồng thời giữa các thangbậc khác nhau của sự pt đó tồn tại sự kế thừa quy luật khi phân tíchchức năng và hình thức TDTT cần tập trung vào những đặc điểmtương đối ổn định của nó cùng với mỗi đặc trưng thu được trong mỗihình thức xã hội riêng biệt VD: TDTT trường học được tiếp thu từXHTB đến XHCN.
- Mặc dù những đặc điểm nêu trên chưa bao hàm được toàn bộcác luận điểm phương pháp nhận thức TDTT nhưng chúng đã tạo rađược tiền cơ bản cho định lượng nghiên cứu bản chất TDTT
3 Các chức năng của TDTT.
a) Các chức năng đặc thù của TDTT
- Chức năng đặc thù của TDTT là những chức năng tồn tại trongTDTT làm cho nó trở thành 1 lĩnh vực Văn hoá đặc biệt, không mộtlĩnh vực Văn hoá nào có thể thực hiện được chức năng đặc thù củaTDTT Như vậy chức năng đặc thù chung cho tất cả các loại hìnhTDTT là thuộc tính khách quan vốn có của nó cho phép thoả mãn nhucầu tự nhiên của con người về vận động tích cực để hợp lý hoá trongthái thể chất pt cơ thể phù hợp với quy luật cũng có sức khoẻ và đảmbảo thích nghi thể lực cần thiết cho cuộc sống
- Trong những điều kiện XH nhất định chức năng đặc thù củaTDTT như 1 nhân tố hoàn thiện thể chất, nhân cách và pt toàn diện
- Ý nghĩa chức năng đó của TDTT đối với nhân loại được xácđịnh trước nhất bởi con người được hình thành trong lịch sử như 1thực tế hoạt động vận động tích cực đã và sẽ là mãi mãi vẫn là điềukiện cần thiết cho pt, cho hoạt động chức năng bình thường và chobản thân sự tồn tại của con người Loại bỏ vận động tích cự hoặc thuhẹp nó tới mức tối thiểu tất yếu dẫn tới nguy hại cơ thể sống Khôngphải ngẫu nhiên người ta nói nhiều về nguy cơ đói vận động là cănbệnh thế kỷ Tự động hoá, cơ giới hoá sản xuất và đời sống hàng ngày
đã thu hẹp quá nhiều vận động cơ bắp Đó chính là nguyên nhân củacăn bệnh tim mạch (phì mỡ, tâm thần đang hoành hành ở các nướccông nghiệp phát triển Tất nhiên không phải tiến bộ kỹ thuật có sứmệnh làm sai lệch thể chất con người Hậu quả cụ thể của tiến bộ kỹthuật đối với con người phụ thuộc vào đặc điểm chính trị xã hội vànhững điều kiện cơ bản xã hội tạo ra cho mỗi thành viên Trong đóđưa TDTT vào cuộc sống thường ngày là một trong những điều kiệnquyết định trong việc loại trừ ảnh hưởng tiêu cực sản xuất hiện đại tới
sự phát triển thể chất con người
Trang 21- Như đã nêu trên chức năng TDTT được chuyên biệt hoá tuỳtheo đặc điểm chế độ xã hội và hình thức hoạt động sống của conngười xuất phát từ quan điểm đó có thể tách TDTT thành 1 số bộ phậnvới chức năng đặc thù của mình.
* Chức năng đặc thù của TDTT bao gồm:
1 Chức năng giáo dưỡng:
- Chức năng giáo dưỡng được thể hiện trong việc sử dụng TDTTtrong hệ thống giáo dục chung nhằm hình thành cho thế hệ trẻ vốn kỹnăng kỹ xảo vận động cơ bản quan trọng trong cuộc sống VD: Giảngdạy TDTT trong trường phổ thông theo chương trình của Bộ quy định,hướng dẫn kinh nghiệm vận động cho trẻ
2 Chức năng thực dụng:
- Chức năng này của TDTT được thể hiện trước nhất trong sửdụng TDTT chuẩn bị thể lực chuyên môn cho hoạt động lao độngcũng như nâng cao năng suất lao động (TDTT nghề nghiệp có nộidung phát triển kỹ năng kỹ sảo cũng như tố chất thể lực tương ứng vớiyêu cầu của nghề nghiệp, ví dụ như với thợ lặn)
3 Chức năng thể thao:
- Chức năng thể thao là chức năng khai thác và mở rộng giới hạnthể thao và những khả năng liên quan trực tiếp với nó ở con người,chức năng thể thao được thực hiện trong lĩnh vực thể thao thành tíchcao
4 Chức năng nghỉ ngơi, giải trí phục hồi sức khoẻ:
- Chức năng này được thực hiện khi sử dụng TDTT trong lĩnhvực tổ chức TDTT nhàn rỗi, trong hệ thống biện pháp hồi phụcchuyên môn, trong trường hợp này TDTT là 1 nhân tố hữu hiệu chốnglại mệt mỏi đáp ứng nhu cầu cảm xúc và hồi phục chức năng cơ thể
b) Các chức năng văn hoá, giáo dục chung và các chức năng xã hội có liên quan tới sử dụng TDTT trong xã hội:
- Việc thực thi bất kỳ chức năng nào của TDTT cũng liên quan 1cách khách quan tới những tác động không chỉ về mặt thể lực mà cả
về phẩm chất tâm lý và nhân cách Vì vậy các chức năng đặc thù củaTDTT thực tế không tách rời với những chức năng văn hoá, giáo dụcchung của nó
- Về nguyên tắc tất cả các chức năng văn hoá chung đều đượcthể hiện trong TDTT Trong đó chức năng thẩm mỹ được chuẩn mực
và thông tin thể hiện rõ hơn cả trong TDTT
1 Chức năng thẩm mỹ của TDTT:
Trang 22- Chức năng thẩm mỹ của TDTT liên quan trực tiếp tới nhữngthuộc tính của nó cho phép thoả mãn nhu cầu con người về tăngcường sức khoẻ, pt thể chất cân đối và hoàn thiện giá trị thẩm mỹ củaTDTT còn thể hiện ở tư thế đi, đứng đẹp, tác phong nhanh nhẹn, hoạtbát và nhiều giá trị khác tiếp thu được qua tập luyện TDTT.
2 Chức năng định chuẩn mực của TDTT:
- Định chuẩn mực là đánh giá trình độ chuẩn bị thể lực, trình độtài nghệ thể thao, là 1 nội dung quan trọng của hoạt động TDTT xãhội Những chuẩn mực đó không chỉ đánh giá mà là định hướng chomỗi cá nhân trên con đường tiếp tục hoàn thiện, khi công nhận vàtruyền bá rộng rãi các chuẩn mực đó có ảnh hưởng mạnh mẽ tới thái
độ với TDTT của con người Chúng kích thích con người sử dụngTDTT vì lợi ích cá nhân và xã hội ở các nước XHCN tồn tại 2 loạichuẩn mực TDTT đó là: tiêu chuẩn rèn luyện thân thể một số môn thểthao góp lại như: chạy, nhảy, bơi và tiêu chuẩn đẳng cấp thể thao(đòi hỏi phải có trình độ, độ khó của bài tập phân ra đẳng cấp: kiệntướng, cấp I )
3 Chức năng thông tin của TDTT:
- Khi nói về chức năng thông tin của TDTT là muốn nói tới vaitrò quan trọng của nó trong việc tuyên truyền giữa các thế hệ về trithức TDTT Những giá trị và tinh thần được tạo ra trong lĩnh vựcTDTT và những thành tựu của con người trong việc hoàn thiện nhữngphẩm chất của mình
- Ngày nay thông tin TDTT đặc biệt là thông tin thể thao lànhanh chóng trở thành nội dung thường xuyên trong các chương trìnhtruyền thông đại chúng Đó là sự phản ánh vai trò ngày càng tăng củaTDTT trong đời sống văn hoá xã hội và thúc đẩy ngày càng nhiềungười tham gia hoạt động TDTT Tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng,TDTT có thể thực hiện nhiều chức năng xã hội khác như giao tiếp, mởrộng quan hệ ngoại giao, quan hệ quốc tế, nâng cao uy tín quốc gia, xãhội hoá nhân cách và liên kết xã hội
4 Chức năng nâng cao uy tín quốc gia trên trường quốc tế:
- TDTT là phương tiện ngoại giao liên kết thắt chặt tình đoàn kết
giữa các đội tuyển quốc gia trên thế giới, nâng cao uy tín quốc giathông qua TDTT, TDTT làm cho mọi người xích lại gần nhau hơn (ýnghĩa Ôlympic)
Trang 23Câu 7: Phân tích hình thức của TDTT XH (cấu trúc của TDTT).
- Có thể quy ước của TDTT xã hội thành một số bộ phận tươngứng với xu hướng và phạm vi sử dụng của nó ở các nước có điều kiệnkinh tế chính trị thuận lợi, TDTT xã hội được cấu thành từ năm bộphận tương đối độc lập nhau là TDTT cơ sở, TT, TT thực dụng nghềnghiệp, TDTT hồi phục, TDTT vệ sinh
1 TDTT cơ sở:
- TDTT cơ sở là một bộ phận nền móng của TDTT xã hội Nóthuộc về hệ thống giáo dục phổ thông, bộ phận TDTT trường học thựchiện chức năng giáo dưỡng hình thành cho thế hệ trẻ vốn kỹ năng kỹxảo cơ bản phương tiện TDTT trường học điển hình gồm có: Hệ thốngbài tập thể dục mà nhờ chúng hình thành nên kỹ năng điều khiển riêngbiệt và phối hợp động tác, hệ thống các bài tập sử dụng hợp lý trong dichuyển, hệ thống các bài tập đối kháng cá nhân, đối kháng và hỗ trợtrong những hình thức hoạt động phức tạp
Quá trình sư phạm có tổ chức nhiều năm sử dụng TDTT vàomục đích giáo dục, giáo dưỡng gọi là GDTC cơ bản các chương trìnhgiáo dục thể chất trong trường phổ thông, chuyên nghiệp là TDTT cơ
sở, các câu lạc bộ quần chúng là nền móng cho thể thao
2 Thể Thao:
- Thể thao là một bộ phận của TDTT xã hội thực hiện chức năng
mở rộng giới hạn khả năng GDTC và tinh thần con người TrongXHTT gồm 2 bộ phận là thể thao thành tích cao (thể thao đỉnh cao) vàthể thao cho mọi người (thể thao quần chúng)
* Thể thao thành tích cao có mục đích trực tiếp là thành tíchtuyệt đối, hoạt động thể thao thành tích cao chiếm 1 giai đoạn lớntrong cuộc đời VĐV, đối với họ hoạt động thể thao chiếm ưu thế trongchế độ sống, cuộc sống của VĐV cấp cao phải được tổ chức đặt biệtphù hợp với hệ thống tập luyện và thi đấu Đối với VĐV thể thaothành tích cao, thể thao là nghề nghiệp (thời gian, chế độ sống, nhiệm
vụ hoạt động Tất cả nhằm vươn tới giữ vững thành tích là hình ảnhcác VĐV đỉnh cao, VĐV quốc gia, quốc tế.)
- Từ lâu ở nhiều nước, nhất là các nước phương tây đã có thểthao nghề nghiệp (quyền anh, bóng đá) Tuy nhiên ở nước ta vấn đềthể thao chuyên nghiệp, thể thao nhà nghề đang là vấn đề còn nhiều ýkiến khác nhau
* Thể thao cho mọi người (thể thao quần chúng):
- Thể thao quần chúng khác với thể thao thành tích cao ở mức độthành tích cần vươn tới Thể thao thành tích cao lấy kỷ lục nhân loại,
Trang 24kỷ lục châu lục làm đích phấn đấu, trong khi đó mục đích thể thaoquần chúng được xác định phù hợp với khả năng cá nhân, vấn đề cơbản của thể thao quần chúng là sức khoẻ, là trình độ chuẩn bị thể lựcchung, như vậy thể thao là phương pháp, các buổi tập thể thao vì sứckhoẻ chịu sự chi phối cao hoạt động nghề nghiệp (tiêu chuẩn, chế độ,điều kiện sống của 2 loại hình thức thể thao trên hoàn toàn khác nhau,một cái chặt chẽ tất cả vì thành tích, một cái thuộc điều kiện hoàncảnh cụ thể để hoạt động).
3 TDTT thực dụng:
- Bộ phận TDTT thực dụng gồm 2 loại Thực dụng nghề nghiệp và thựcdụng quân sự, TDTT thực dụng được sử dụng trong hệ thống đào tạo chuyên môncho 1 hoạt động cụ thể và trực tiếp cho hoạt động đó Mục đích sử dụng TDTTtrong lĩnh vực sản xuất là nâng cao chất lượng nghề nghiệp và năng sất lao động.TDTT thực dụng tạo ra tiền đề để tiếp thu nghề có hiệu quả để hợp lý hoá hoạtđộng nghề và tác động của nó tới cơ thể con người
- TDTT thực dụng có mối liên hệ mật thiết với TDTT cơ sở Mối liên hệhữu cơ của chúng thể hiện trước nhất ở việc chuẩn bị thể chất thực dụng nghềđược xác định trên cơ sở những tiền đề đã được chuẩn bị thể chất chung tạo ra.Ngoài ra trong thành phần của TDTT thực dụng còn có những chi tiết TDTT cơ sở
và thể thao đã được cải tiến
4 TDTT sức khoẻ - hồi phục:
- Từ lâu các bài tập đã được sử dụng làm phương tiện chữa bệnh
và hồi phục chức năng cơ thể bị tổn thương hoặc mất đi do bệnh tật,chấn thương mệt mỏi quá mức do bệnh tật và nhiều nguyên nhânkhác Việc sử dụng các động tác riêng lẻ hoặc chế độ vận động vàomục đích lên trên Thực ra đã có lịch sử lâu đời trong y học và nay trởthành bộ phận quan trọng trong hệ thống bảo vệ sức khoẻ dưới dạngthể dục chữa bệnh Những thập kỷ gần đây, hệ thống các biện pháphồi phục thể thao và những chi tiết khác của TDTT đã được hìnhthành nhanh chóng Ngày nay hồi phục thể thao trở thành bộ phận hữu
cơ của hệ thống đào tạo VĐV Trong đó chúng đóng vai trò quantrọng bậc nhất trong hồi phục khả năng thích nghi sau thời gian dài tậpluyện, thi đấu căng thẳng, cũng như khắc phục hậu quả chấn thươngthể thao
- TDTT sức khoẻ - hồi phục còn được sử dụng rộng rãi trong tổ chức laođộng khoa học, ý nghĩa của TDTT sức khoẻ - hồi phục ngày càng tăng lên trong
xã hội hiện đại Xã hội ngày nay càng phát triển, tổ chức lao động cũng đổi mới,lao động trí óc lấn át lao động thể lực, ngay cả lao động thể lực cũng phải đáp ứngnhu cầu cao của sản xuất hiện đại như: Máy móc, dây chuyền, lao động trong điều
Trang 25kiện phức tạp vì vậy con người cần phải thích ứng điều đó cũng nói nên yêu cầucủa thể thao sức khoẻ hồi phục ngày càng tăng lên trong xã hội hiện đại.
5 TDTT giải trí:
- Bộ phận TDTT giải trí được pt mạnh mẽ ở các nước âu mỹ.Hình thức đơn giản của TDTT giải trí là thể dục vệ sinh trong cuộcsống hàng ngày của mỗi cá nhân (hành quân, du lịch săn bắn, câucá ) Đặc điểm của TDTT giải trí thể hiện ở việc sử dụng những hìnhthức vận động tích cực như nhân tố hợp lý hoá trạng thái chức năng cơthể (thư giãn, tinh thần và cảm xúc tích cực) Bộ phận TDTT giải tríkhông gây tác động sâu sắc làm cải biến thể chất, nhưng chúng có vaitrò quan trọng trong điều khiển tức thời trạng thái chức năng cơ thể,tạo ra tiền đề nhất định cho lối sống tích cực, trạng thái tâm lý hàohứng, kết hợp với các bộ phận TDTT khác TDTT giải trí nghỉ ngơi sẽ
có tác dụng bảo vệ sức khoẻ và nâng cao khả năng vận động thể lựcchung Cần nhấn mạnh rằng hiệu quả của TDTT nghỉ ngơi giải trí phụthuộc rất nhiều vào việc kết hợp nó với bộ phận TDTT khác, trướcnhất là TDTT cơ sở Như đã nói thể thao giải trí tác động sâu sắc đếnthể chất, vì thế đã có được ảnh hưởng tích cực, chính nó phải gắn liềnvới một số loại hình TDTT khác, trong đó có TDTT cơ sở là hợp lýnhất
Trang 26Câu 8: Mối quan hệ tương hỗ giữa cách mạng khoa học kỹ thuật
và TDTT.
- Sự phát triển mạnh mẽ (bùng nổ) trí thức khoa học, kỹ thuậtđược gọi là cách mạng KHKT Cuộc cách mạng KHKT có tác độngnhiều mặt, sâu sắc tới đời sống XH và con người Ngày nay KHKTdường như trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp làm riêng cho năngsuất lao động, tạo ra cả cải dồi dào cho xã hội Trong quá trình xâydựng CNXH, cách mạng KHKT giữ vị trí then chốt
- Từ góc độ kinh tế chính trị, cách mạng KHKT là sự thay đổi vềchất, thay đổi tận gốc trong lực lượng sản xuất hiện đại là sự thay đổitoàn bộ các thành phần của hệ thống đó và trước nhất kỹ thuật bướcvào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ tự động hoá Nền sản xuất bằngmáy mà trong đó người thợ phải trực tiếp tham gia vào quá trình côngnghệ, phải thực hiện chức năng kỹ thuật máy móc đang dần dầnnhường chỗ cho sản xuất tự động, nơi mà con người giữ vai trò chủđạo Bản chất cách mạng KHKT là làm thay đổi vị trí con người trongsản xuất Đó là cách mạng KHKT mang lại cho TDTT nhưng điềukiện để bộc lộ giá trị vai trò của mình
* Mỗi quan hệ giữa TDTT với cách mạng KHKT rất phong phú và có thể xem xét theo 2 hướng:
+ Hướng thứ 1: Cách mạng KHKT thúc đẩy sự phát triển
TDTT và thể thao điều đó được thể hiện ở chỗ cách mạng KHKT tăngcường sự phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật cho TDTT và thể thao tạo
ra những máy móc, thiết bị kỹ thuật sử dụng trong tập luyện, tạo rakhả năng xác định nhanh chóng và chính xác thành tích thi đấu, hoànthiện hoạt động của trọng tài và thông tin cho khán giả Ngoài ra sựphát triển chung của KHKT còn thúc đẩy sự phát triển của lý luận vàphương pháp TDTT, phương pháp HLTT, đồng thời cho phép dùngphương tiện kỹ thuật để tổ chức và quản lý phong trào TDTT
- Sự tiến bộ của kỹ thuật hiện đại còn cho phép áp dụng phươngpháp công nghiệp trong xây dựng các công trình thể thao mà bản thânchúng một mặt có tác dụng phát triển các môn thể thao, nâng caothành tích thể thao Mặt khác đảm bảo tiện nghi cho khán giả và VĐVtham gia cuộc thi Sự phát triển của KHKT ngày nay đã tạo ra khảnăng xây dựng bể bơi mùa đông, sân trượt băng mùa hè, nhờ nhữngtiến bộ đó mà có thể tiến hành tập luyện quanh năm và nâng cao thànhtích thể thao Khó có thể hình dung ra thể thao hiện đại mà không cóchất nhựa tổng hợp mới như bằng những chất liệu tổng hợp người ta
Trang 27chế tạo ra băng tuyết nhân tạo, xào nhảy, thuyền đua, bảng bóng rổ,sân tennis, đường chạy sân điền kinh
- Nhờ có sự phát triển của KHKT mà ngày nay trong thực tiễn,con người sử dụng rộng rãi các máy móc và thiết bị có độ nhạy cảmchính xác cao phản ứng nhạy với tác động bên ngoài Nhưng máy móc
và thiết bị kỹ thuật có thể được chế tạo đưa trên những nguyên tắcđiều khiển học, cơ học truyền xa, tự động học, các máy móc được sửdụng ngày càng rộng rãi để xác định trạng thái chức năng cơ thể ởtrạng thái tĩnh và trong vận động
- Ngày nay nhờ có máy móc và các bài test phức tạp người ta cóthể nhận biết trước mức độ phát triển của các tố chất vận động của conngười mức độ phù hợp của tố chất với đặc điểm hoạt động môn thểdục Nói cách khác bằng máy móc, thiết bị hiện đại, các HLV các nhà
sư phạm, các cán bộ khoa học có thể dự đoán với độ tin cậy cao về tàinăng trẻ em trong vận động thể lực
- Cách mạng KHKT còn cho phép sử dụng phương tiện kỹ thuậthiện đại vào lĩnh vực tuyên truyền TDTT cũng như thông tin nhanh(vô tuyến truyền hình, film ảnh ) trên thực tế người ta đã có khả năngtruyền đi bất kỳ điểm nào trên hành tinh chúng ta những buổi tườngthuật thi đấu thể thao Nhờ có kỹ thuật và phương tiện thông tin hiệnđại mà những ngày có những cuộc thi đấu lớn (vô địch châu lục, vôđịch thế giới ) cả trái đất dường như trở thành sân vận động khổng lồvới hàng triệu khán giả hàng triệu cổ động viên Ngoài ra 1 yếu tố nữarất quan trọng là nhờ có các phương tiện kỹ thuật hiện đại nên đã chophép công tác NCKH trong TDTT đạt hiệu quả cao hơn rất nhiều như:Thông tin, xử lý số liệu chính xác làm cho các kết quả nghiên cứu có
độ tin cậy cao hơn rất nhiều
* Hướng thứ 2: Cách mạng KHKT có liên quan tới việc sử
dụng phương tiện TDTT và thể thao để chống lại ảnh hưởng củanhững nhân tố bất lợi trong sản xuất Ai cũng biết rằng cùng với sựphát triển cơ giới hoá, tự động hoá sản xuất thì vận động thể lực củacon người sẽ được thu hẹp rất nhiều việc giảm đáng kể hoạt động tậpluyện trong sản xuất sẽ dẫn đến bệnh “đói vận động” như vậy giữathành tựu KHKT và tính tích cực của vận động tồn tại mâu thuẫn, mâuthuẫn đó có thể phát biểu ngắn gọn như sau: “càng tốt, càng nguy” ởnhiều nước văn minh đã nhiễm nhiều chứng bệnh do thiếu vận độnggây nên như: Bệnh tim mạch, bệnh tâm thần, bệnh phì mỡ Mâu thuẫn
đó, hiểm hoạ đó chỉ có thể giải quyết có hiệu quả bằng vận động
Trang 28- Như vậy vai trò của TDTT và thể thao trước nhất được thể hiện
ở việc (bù trừ vận động) nhưng đó không phải là chức năng duy nhấtcủa TDTT Tiến bộ KHKT đặt ra vấn đề độ tin cậy của con ngườitrong hệ thống sản xuất Ngay bây giờ đã có những công việc đặt rayêu cầu cao đối với con người Sản xuất ngày nay đã đòi hỏi huấnluyện chuyên môn cho hoạt động làm việc trong điều kiện Bắc, Namcực, các chuyến bay vũ trụ, nghiên cứu đại dương, làm việc trong tàungầm
- Sự phát triển mạnh mẽ KHKT, văn hoá trong xã hội hiện đạisản sinh ra số lượng thông tin khổng lồ mà con người gọi là sự “bùng
nổ thông tin” Tất cả thông tin đó dồn vào hệ thần kinh trung ương củacon người Sự vận động cơ bắp giảm đi và lượng vận động tâm lý tănglên cũng gây ảnh hưởng xấu tới cơ thể con người Trong trường hợpnày TDTT tạo ra những tác động tích cực mà không có hoạt động nàothay đổi được
- Cách mạng KHKT tạo ra điều kiện giảm ngày giờ làm việc vàkết cục là thời gian nhàn rỗi tăng lên, thời gian đó cần phải sử dụnghợp lý để hoàn thiện cá nhân Một lần nữa chúng ta thấy mối quan hệtương hỗ Như vậy trong mỗi trường hợp thì TDTT là thành phần cầnthiết của đời sống cá nhân và xã hội
Trang 29CÁC PHƯƠNG TIỆN GIÁO DỤC THỂ CHẤT.
Câu 1: Chứng minh rằng bài tập TDTT hoặc bài tập thể chất là phương tiện chuyên môn cơ bản của GDTC.
- Các phương tiện GDTC được sử dụng để tác động đến các đốitượng tập luyện nhằm đạt được những mục đích của GDTC, chúngbao gồm các bài tập thân thể (bài tập TDTT) các tác động của tựnhiên, môi trường như: nước, ánh nắng mặt trời, khí hậu, thời tiết vàcác yếu tố vệ sinh, trong đó các bài tập TDTT được coi là phương tiệnchuyên biệt, cơ bản của GDTC và xuyên suốt quá trình GDTC
2 Nguồn gốc của bài tập thể chất:
- Bài tập thể chất ra đời từ cổ xưa nên nó gắn liền với lao động.Nhân tố quan trọng nhất làm nảy sinh bài tập thể chất là điều kiệnsống vật chất và hoạt động của con người mà trước hết là hoạt độnglao động, hầu hết các bài tập thể chất có liên hệ trực tiếp đến các tácđộng của lao động, ngoài lao động thì các hoạt động quân sự, nghệthuật, tôn giáo cũng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của bàitập thể chất
- Trong xã hội nguyên thuỷ các bài tập mang tính thực dụng trựctiếp Các bài tập nảy sinh và đáp ứng nhu cầu của lao động được gọi làbài tập tự nhiên
- Cùng với sự phát triển của xã hội loài người thì bài tập mất dầntính thực dụng trực tiếp và các bài tập tự nhiên dần dần được thay thếbằng bài tập phân tích Bài tập phân tích là các bài tập được sáng tạo
ra để giải quyết nhiệm vụ giái dục, giáo dưỡng và chữa bệnh
* Mặc dù bài tập thể chất được hình thành trên cơ sở tác độnglao động và có những điểm thống nhất với lao động về những biến đổisinh lý, sinh hoá diễn ra trong cơ thể nhưng 2 hiện tượng này không
có cùng bản chất
- Lao động là quá trình con người tác động vào tự nhiên, cải tạo
tự nhiên, bất tự nhiên đáp ứng nhu cầu của mình thông qua lao độngtrong sản xuất hiện đại lao động chân tay được giảm nhẹ sẽ làm thu
Trang 30hẹp vận động thể lực và kết quả là hạn chế sự phát triển thể lực củacon người.
- Trong khi đối tượng của bài tập thể chất là thể chất và tinh thầncủa con người và tác động đến cơ thể theo quy luật của quá trìnhGDTC Nhờ bài tập thể chất mà con người có thể định hướng trướctác động tới con người để phát triển thể chất và tinh thần Mục đíchcủa bài tập thể chất là sức khoẻ, là con người phát triển toàn diện
Để phân tích và nắm được những đặc điểm chung nhất của cácbài tập TDTT chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu những vấn đề dưới đây:Cũng như mọi hiện tượng và sự vật, các bài tập TDTT có nội dung vàhình thức của chúng
- Nội dung: Bài tập TDTT bao gồm các thành phần tạo nên bài
tập đó và các quá trình cơ bản sảy ra trong cơ thể do việc thực hiện bàitập đó tạo nên Các quá trình này quyết định tác dụng của bài tập đốivới người tập Các quá trình sảy ra trong cơ thể rất phức tạp, đa dạng
và có thể được xem xét từ các góc độ khác nhau: Tâm lý, sinh lý, sinhhoá Về mặt sinh lý học, nội dung bài tập TDTT là những biến đổitrong hoạt động chức năng của cơ thể khi thực hiện bài tập, làm cho
cơ thể chuyển sang một mức hoạt động cao hơn so với lúc yên tĩnh,Nhờ vậy mà có thể hoàn thiện được những khả năng chức phận của cơthể Người ta còn tính tới cả những biến đổi trước và sau khi thực hiệnbài tập Tuỳ theo đặc điểm bài tập, những biến đổi sinh lý có thể đạtđược mức khá lớn VD: thông khí phổi có thể tăng lên 30 lần, lượnghấp thụ O2 tăng đến 20 lần, lưu lượng phút của máu tăng đến 10 lầnkèm theo các quá trình mệt mỏi, tích luỹ các sản phẩm ôxy hoá.Những biến đổi sinh lý đó kích thích quá trình hồi phục và thích nghicủa cơ thể trong và sau lúc thực hiện bài tập, vì vậy được coi là nhân
tố có tác dụng mạnh mẽ, làm tăng các khả năng chức phận và hoànthiện những đặc điểm cấu trúc cơ thể
Khi xem xét nội bài tập TDTT từ góc độ sư phạm, điều quantrọng là xem xét tác dụng tổng hợp của các bài tập đó đối với sự pháttriển của năng lực vận động của cơ thể và sự hình thành các kỹ năng,
kỹ xảo vận độn cũng như sự tác động đến hành vi, nhân cách ngườitập
Để nắm được nội dung (bản chất) của bào tập TDTT nào đó, nhà
sư phạm không cần hiểu những biến đổi sinh lý, sinh hoá và nhữngbiến đổi khác xảy ra trong cơ thể do ảnh hưởng của bài tập mà điềuchủ yếu là hiểu được phương hướng tác dụng của bài tập đối với việcthực hiện những nhiệm vụ giáo dục và giáo dưỡng đã đặt ra
Trang 31Không nên chỉ xem xét bản chất của bài tập TDTT đơn thuần từgóc độ sinh vật học, những tác dụng đối với năng lực vận động của cơthể, mà bỏ qua hay xem nhẹ những tác dụng rất quan trọng về tâm lỳ
- Hình thức của bài tập TDTT là cấu trúc (hay tổ chức) bên
trong và bên ngoài của nó Hình thức bài tập phục thuộc vào các đặcđiểm nội dung của nó
Cấu trúc bên trong của bài tập thể hiện ở mối quan hệ và sự phốihợp, tác động lần nhau giữa các quá trình khác nhau của hoạt độngchức của cơ thể trong lúc thực hiện bải tập: Các quá trình phối hợpthần kinh - cơ, sự phối hợp và tác động lẫn nhau giữa hoạt động của
hệ vận động và hệ thực vật, cấu trúc của quá trình chuyển hoá nănglượng (tương quan giữa các quá trình có ôxy và không có ôxy)
Cấu trúc bên ngoài của bài tập TDTT là hình dáng có thể nhìnthấy của nó, thể hiện đặc trưng ở quan hệ giữa các thông số khônggian, thời gian và lực của các động tác tạo thành bài tập
Hình thức và nội dung của bài tập TDTT liên quan hữu cơ vớinhau, trong đó nôi dung là mặt quyết định và đậm hơn Điều đó có ýnghĩa là, để thực hiện được 1 hoạt động vận động quy định nào đó caohơn khả năng hiện có, trước hết phải thay đổi một cách tương ứng mặtnội dung của nó Tức là phải nâng cao khả năng chức phận của cơ thể,các năng lực vận động (tố chất thể lực) chủ yếu tương ứng với mức
mà hoạt động vận động đó đòi hỏi
Trang 32Nội dung thay đổi thì hình thức bài tập cũng thay đổi VD: sứcmạnh hoặc sức bền thay đổi thì biên độ và tần số động tác cũng có thểthay đổi.
Hình thức cũng ảnh hưởng đến nội dung Hình thức chưa hoànthiện của bài tập sẽ cản trở sự biểu hiện tối đa các khả năng của cơthể Ngược lại, hình thức hoàn thiện sẽ tạo điều kiện sử dụng có hiệuquả (tối ưu) các năng lực thể chất VD: Cùng một tốc độ chuyển độngnhư nhau, người có kỹ thuật bơi hợp lý sẽ tiêu hao năng lượng ít hơnnhiều so với những người mới biết bơi, hoặc cùng dùng sức như nhaunhững người có kỹ thuật hơn sẽ bơi nhanh hơn
Sử dụng bài tập thể chất hoặc bài tập TDTT thì ta có thể giảiquyết được các nhiệm vụ của giáo dục thể chất
- Mục đích của GDTC được cụ thể hoá trong các nhiệm vụ căn
cứ vào từng đặc trưng của giáo dục thể chất và các mối liên hệ củaGDTC với các mặt giáo dục khác nhau người ta chia thành ba nhiệm
vụ cơ bản của GDTC
1 Nhóm nhiệm vụ GDTC theo nghĩa hẹp:
- Củng cố và tăng cường sức khoẻ phát triển toàn diện cân đốihình thái chức năng cơ thể phát triển tố chất vận động và khả nănghoạt động thể lực của con người
Nhóm nhiệm này đảm bảo phát triển toàn diện các tố chất vànăng lực thể chất nói chung, hoàn thiện hình thể củng cố sức khoẻ,phát triển duy trì lâu dài khả năng vận động và thể lực chung
Có thể nói rằng nhiệm vụ hàng đầu của GDTC là đảm bảo pháttriển tối ưu ở mỗi cá nhân các tố chất vận động cơ bản cần thiết chocuộc sống: Sức nhanh, sức mạnh, sức bền và khả năng phối hợp vậnđộng Sự phát triển các tố chất vận động có ảnh hưởng trực tiếp tớikhả năng tiếp thu và hoàn thiện kỹ xảo vận động cũng như chuẩn bịtrình độ thể lực chung trên cơ sở giáo dục tố chất vận động có thể giảiquyết những nhiện vụ nhất định về việc hoàn thiện hình thái chứcnăng cơ thể
- Trong hệ thống GDTC nhiệm vụ hoà thiện hình thái chức năng
cơ thể cũng có ảnh hưởng đến hoàn thiện chức năng nhưng việc hoànthiện hình thể chỉ coi là đúng đắn nếu sự tập luyện không vì mục đíchphát triển con người toàn diện hoàn thiện thể hình còn có ý nghĩaphòng chống bệnh và chỉnh hình VD: Nếu tập thể hình chỉ nhằm đemlại vẻ đẹp bề ngoài thì tác dụng không triệt để sâu sắc đến khả năngthể chất, phát triển lệch lạc không đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện
Trang 33về tư chất, kỹ năng kỹ sảo, cũng như phát triển toàn diện các nội dunggiáo dục.
2 Nhiệm vụ giáo dưỡng thể chất.
- Hình thành và hoàn thiện kỹ năng kỹ xảo vận động quan trọngtrong cuộc sống kể cả kỹ năng kỹ xảo thực dụng và thể thao trang bịnhững kiến thức chuyên môn
- Chúng ta biết rằng muốn có trình độ chuẩn bị thể lực, mà chỉphát triển tố chất thể lực, thì chưa đủ Mặt khác khả năng vận độngcủa con người được bộc lộ trong các kỹ năng kỹ xảo vận động vì vậynhiệm vụ giáo dưỡng thể chất phải được đặt ra
- Trong quá trình GDTC nhiều năm nội dung cụ thể của giáodưỡng ở các giai đoạn khác nhau phụ thuộc vào đặc điểm tâm sinh lýlứa tuổi, vào kinh nghiệm vận động mà con người đã tiếp thu được,vào năng khiếu cá nhân, vào đặc điểm hoạt động và nhiều nhân tốkhác, quy tắc chun ở đây là chuyển từ giáo dục chung, rộng rãi sanghoàn thiện chuyên sâu, kỹ năng kỹ xảo chọn lọc trên cơ sở chuẩn bịthể lực toàn diện
- Một nội dung quan trọng nữa của GDTC là trang bị tri thứcchuyên môn, ở đây muốn đề cập tới những kiến thức tiền đề cho việctiếp thu những kỹ năng kỹ xảo vận động và những kiến thức có ýnghĩa xã hội của GDTC về bản chất của GDTC và những hiểu biếtcho tập luyện phải hiểu lý luận phương pháp giáo dục, đặc điểm tâmsinh lý con người, ý nghĩa tác dụng của TDTT, nắm chắc đặc điểmphương tiện, phương pháp, nguyên tắc giáo dục
3 Nhiệm vụ giáo dục theo nghĩa rộng:
- Nhiệm vụ này được thực hiện trên cơ sở thống nhất giải quyếtcác nhiệm vụ giáo dục kỹ năng, những nhiệm vụ phức tạp về hìnhthành 1 nhân cách hoàn chỉnh chỉ được giải quyết trong điều kiệnthống nhất hữu cơ với các mặt giáo dục riêng lẻ Bên cạnh đó phải điđôi với giáo dục đạo đức, nó giường như xuyên suốt toàn bộ thực tiễngiáo dục xã hội, xuyên suốt các mặt giáo dục và hình thức giáo dục,bởi vì hiệu quả cuối cùng của bất kỳ mặt giáo dục nào cũng phụ thuộcchủ yếu vào việc giải quyết toàn diện nhiệm vụ, hình thành lý tưởngtiêu chuẩn đạo đức thói quen đạo đức
- Việc tách riêng các nhiệm vụ trên chỉ là tương đối, trên thực tếcủa quá trình GDTC bao giờ người ta cũng tiến hành giải quyết đồngthời các nhiệm vụ (như đạo đức, ý trí, thẩm mỹ và trí tuệ, giáo dưỡngthể chất và giáo dục tố chất thể lực)
Trang 34Câu 10: Phân tích các nhân tố tác động (yếu tố ảnh hưởng) của bài tập thể chất
Bài tập thể chất là các hoạt động vận động do con người sáng tạo
ra để sử dụng vào mục đích GDTC Hay nói 1 cách đầy đủ hơn: Bàitập thể chất là những hoạt động vận động chuyên biệt do con ngườisáng tạo ra một cách có ý thức, có chủ đích, phù hợp với các quy luậtGDTC Người ta dùng chúng để giải quyết nhiệm vụ GDTC đáp ứngnhững yêu cầu phát triển thể chất và tinh thần của con người Giữahình thức và nội dung của bài tập thể chất có quan hệ hữu cơ, nộidung là mặt quyết định nó đóng vai trò chủ định trong quan hệ vớihình thức Hình thức củng cố tác động đến nội dung, hình thức bài tậpchưa hoàn chỉnh sẽ làm cản trở sự biến đổi tối đa các khả năng chứcphận Xong hiệu quả tác động của bài tập thể chất không chỉ phụthuộc vào hình thức và nội dung của nó mà còn phụ thuộc vào nhiềuđiều kiện khác Tất nhiên các bài tập TDTT có tác dụng sâu sắc và đadạng đối với con người Khi thực hiện các bài tập, trong cơ thể conngười diễn ra những biến đổi, sinh lí, tâm lí, sinh hoá phức tạp Dẫnđến sự biến đổi của các cơ quan vận động và các cơ quan nội tạng.Tập luyện thường xuyên và đúng phương pháp có tác dụng hoàn thiệntất cả các cơ quan và hệ thống, nâng cao năng lực hoạt động của cơthể, phòng chống một số bệnh tật Ngoài ra, hoạt động được tổ chứctốt còn có tác dụng giáo dục những phẩm chất ý trí, đạo đức, nhâncách Xong, nếu các bài tập thể lực được sử dụng không đúng, khôngphù hợp những nguyên tắc và phương pháp GDTC thì chẳng nhữngkhông có lợi, mà còn có thể có hại Vì vậy, nhà sư phạm cần nắmvững những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả bài tập - nhân tố chungnhất xác định tác động hợp lí của bài tập thể chất, sự tổ chức buổi tậpđúng phương pháp sư phạm và tuân theo các quy luật GDTC Ngoài
ra, cần chú ý các nhân tố xác định tác động của bài tập thể chất sau:
1 Đặc điểm cá nhân người tập: Tuổi, giới tính, tình trạng sức
khoẻ và thể lực, điều kiện lao động, học tập sinh hoạt, nghỉ ngơi Cùngmột bài tập có thể gây nên những hiệu quả khác nhau, tuỳ thuộc vàođặc điểm cá nhân người tập Một LVĐ nhẹ đối với VĐV cấp cao cóthể là nặng, quá sức đối với người mới tập
Thí dụ: Cùng một bài tập (chạy 1500m) nhưng những người cótuổi, giới tính trạng thái sức khoẻ và trình độ chuẩn bị thể lực khácnhau thì hiệu quả của bài tập mang lại sẽ khác nhau
2 Đặc điểm của bài tập (độ phức tạp, những yếu tố mới, tính
hấp dẫn ) và thái độ của người tập đối với người thực hiện bài tập
Trang 35Các bài tập được thực hiện một cách gò ép, không thích thú, không có
sự cố gắng của bài tập thì không thể có tác dụng như những bài tậpđược thực hiên một cách hào hứng, tự giác, chủ động Ở đây nhữngyếu tố mới và tính hấp dẫn có tính quan trọng Thí dụ: Bài tập bơi cótác dụng khác bài tập thể dục
3 Đặc điểm của môi trường thực hiện bài tập: Thời tiết, địa
hình, dụng cụ, thiết bị, điều kiện vệ sinh của địa điểm tập luyện Sựthay đổi các đặc điểm môi trường sẽ làm thay đổi tác dụng của bài tập
Sử dụng tác dụng tự nhiên của thiên nhiên và các yếu tố vệ sinh
có thể coi là những biện pháp để nâng cao hiệu quả của các bài tập thểlực trong lí luận và phương pháp giáo thể chất riêng Tuy vậy cũngcần lưu ý, không chỉ trong giáo dục thể chất mới cần như vậy, sử dụngtác động tự nhiên của thiên nhiên (ánh sáng mặt trời, không khí, nước)
là biện pháp quan trọng để nâng cao sức khoẻ và năng lực hoạt độngcủa con người Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáodục thể chất là cũng cấp những kiến thức cơ bản của các yếu tố tựnhiên đối với cơ thể và bồi dưỡng những kĩ năng thực hành để ápdụng chúng Trong quá trình giáo dục thể chất các yếu tố thiên nhiênđược sử dụng theo hai hướng để tạo điêu kiện thuận lợi cho việc nângcao hiệu quả các bài tập thể lực và để rèn luyện cơ thể Môi trường tựnhiên thuận lợi làm tăng tác dụng của bài tập, cho phép áp dụng lượngvận động lớn hơn, tổ chức nghỉ ngơi hợp lí, gây cảm xúc hứng thú chongười tập luyện Tập luyện ở các vùng cao, nơi có áp suất khí quyển
và hàm lượng ôxy trong không khí giảm, có tác dụng rất tốt trongnâng cao năng lực hoạt động chức năng của cơ thể Sau khi tập luyện
ở vùng cao chuyển xuống đồng bằng, trong một thời gian nhất định,VĐV có thể thực hiện lượng vận động lớn hơn, do đó mà đạt đượcthành tích cao hơn, chủ yếu là những môn đòi hỏi sức bền Do đó,người ta coi các điều kiện tự nhiên ở các vùng cao cũng có những tácdụng tập luyện đặc biệt Việc sử dụng các yếu tố tự nhiên phải dựatrên những kiến thức về sự thống nhất của cơ thể với môi trường ảnhhưởng của các tác động khác nhau của môi trường đối với cơ thể conngười Rèn luyện cơ thể là nhiệm vụ quan trọng của giáo dục thể chất.Mục đích của rèn luyện cơ thể là tạo cho cơ thể có khả năng ổn định,thích ứng và giữ được trạng thái cân bằng trước những tác động khôngthuận lợi của các yếu tố tự nhiên: Nóng, lạnh, bức xạ mặt trời, đặc biệt
là khi chúng dao động đột ngột Để rèn luyện cơ thể toàn diện, cầnlàm cho cơ thể thích nghi dần dần với những tác động khác nhau củacác yếu tố tự nhiên (nước, không khí, ở các nhiệt độ khác nhau - cả
Trang 36nóng, cả lạnh, làm quen với ánh nắng ) Việc áp dụng thường xuyênnhững biện pháp rèn luyện cơ thể cũng có tác dụng rèn luyện ý chí,nghị lực Kết hợp bài tập thể lực với các biện pháp rèn luyện cơ thể sẽnâng cao sức đề kháng của cơ thể đối với những tác động không thuậnlợi của môi trường trạng thái chao đảo, rung, nóng, lạnh, không trọnglượng
Thực hiện các biện pháp vệ sinh: Bao gồm vệ sinh cá nhân vệsinh công cộng trong lao động, sinh hoạt nghỉ ngơi, ăn uống, tập luyện
và vệ sinh môi trường là những yêu cầu bắt buộc đối với quá trìnhgiảng dạy và tập luyện TDTT Ở đây, cơ sở vật chất kĩ thuật, thiết bị,dụng cụ, trang phục có vai trò đáng kể Trong quan niệm hiện nay, vệsinh còn bao gồm cả nước, thực hiện những quan hệ giao tiếp cởi mở,vui vẻ, hiểu biết lẫn nhau, tránh trạng thái căng thẳng (stress) Với ýnghĩa đó , bản thân hoạt động TDTT được tổ chức tốt cũng là mộtbiện pháp vệ sinh có giá trị
4 Phương pháp tập: Phương pháp tập quyết định chủ yếu đến tác động
của bài tập Ví dụ: Cùng một bài tập chạy nhưng sử dụng hai phương pháp khácnhau (chạy biến tốc và phương pháp đồng đều) thì sẽ gây ra những đổi biến sinh lítrong cơ thể sẽ khác nhau cơ bản
Tóm lại: Kết hợp việc tập luyện TDTT với việc thực hiện các biện pháp vệ
sinh và rèn luyện cơ thể trong các điều kiện tự nhiên là một trong những nhân tốquan trọng nâng cao tác dụng và hiệu quả của quá trình GDTC
Câu 11: Trình bày các cách phân loại bài tập TDTT?
Phân loại các bài tập TDTT có nghĩa là sắp xếp chúng thànhnhững nhóm sao cho những loại hình bài tập trong mỗi nhóm có sựgiống nhau về những tính chất cơ bản nhất
Hiện nay có nhiều cách phân loại bài tập TDTT khác nhau Mỗicách phân loại dựa vào những tiêu chí (những dấu hiệu) khác nhau vànhằm những mục đích khác nhau
Để đáp ứng những yêu cầu về mặt sư phạm, tức là dựa vàonhững dấu hiệu khách quan của bài tập, để dự kiến kết quả giáo dục,rèn luyện có thể đạt được sau khi áp dụng vào những bài tập đó màngười ta sử dụng cách phân loại dựa trên đặc điểm của chế độ hoạtđộng cơ bắp và cách đánh giá kết quả cuối cùng của bài tập Cụ thểcác bài tập được phân chia thành các nhóm sau đây:
- Các môn sức mạnh tốc - tốc độ mà đặc điểm tiêu biểu là cócường độ công suất gắng sức tối đa, như các môn chạy cự ly ngắn, cácmôn nhảy, ném, đẩy…
- Các môn sức bền trong các bài tập có chu kỳ, như chạy cự lychung bình và dài, đi bộ, bơi, chèo thuyền và đua xe đạp
- Các môn đòi hỏi năng lực phối hợp vận động như: Thể dụcdụng cụ, thể dục nghệ thuật, nhảy cầu, trượt băng nghệ thuật…
Trang 37- Các môn đòi hỏi biểu hiện tổng hợp các tố chất vận động trongđiều kiện, các tình huống và hình thức vận động luôn luôn thay đổi,như tất cả các môn đối kháng cá nhân, các môn bóng.
Các chuyên ngành khoa học còn có cách phân loại khác hoặc cụthể hơn để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu của mỗi chuyên ngành khácnhau Để đáp ứng những yêu cầu về quản lý, người ta phân loại cácbài tập thành các nhóm: Các môn thể thao dân tộc, các môn thể thaoquốc phòng (quân sự hoá), các môn thể thao kỹ thuật
Cách phân loại chung nhất và thông dụng nhất là phân loại dựatrên các hệ thống phương tiện và phương pháp GDTC đã được hìnhthành trong lịch sử, đó là thể dục, thể thao, trò chơi và du lịch Mặc dù
ý nghĩa thực tiễn của các phân loại này không nhiều nhưng giúp chúng
ta có được cái nhìn tổng quát về các hình thức hoạt động vận động chủyếu của các bài tập TDTT
Dưới đây sẽ trình bày sơ lược về sự phân loại này
* Thể dục:
Thể dục có rất nhiều loại hình phong phú Trong lịch sử đã từngtồn tại nhiều hệ thống thể dục khác nhau (các bài tập có dụng cụ,không dụng cụ, các bài tập theo nhóm…) Ngày nay người ta thườngchia thể dục thành 3 nhóm: Thể dục cơ bản, thể dục có khuynh hướngthể thao và thể dục bổ trợ
Đặc điểm chung của các loại hình thể dục là có thể sử dụng đểhình thành từng bước, có phân biệt và có chọn lọc từng mặt và từngphần hợp thành của động tác (phương hướng, biên độ…) Vì vậy thểdục là phương tiện quan trọng để huấn luyện động tác, làm tăng thêm
“vốn” động tác và khả năng sử dụng chúng trong những điều kiện thayđổi Đặc điểm quan trọng nữa của thể dục là khả năng tác động cóchọn lọc và riêng biệt đến cấu trúc và chức năng cơ thể Cụ thể là cóthể tác động không những đến từng nhóm cơ, mà cả đối với từng mặtriêng biệt trong trạng thái động của cơ Nhờ đó thể dục có thể sử dụng
để phát triển thể lực chung, để chuẩn bị chuyên biệt cho một số hoạtđộng mang tính chất ngành nghề riêng biệt cũng như để khắc phụcmột cách có hiệu quả những khuyết tật trong sự phát triển của các cơquan vận động
đi trên mũi chân…), các bài tập đơn giản với dụng cụ và trên dụng cụ,
Trang 38bài tập múa đơn giản, trò chơi vận động có sử dụng các động tác thểdục.
Thể dục vệ sinh cũng thuộc loại thể dục cơ bản, có mục đíchphát triển thể lực và củng cố, nâng cao sức khoẻ Thể dục vệ sinh thựchiện dưới hình thức tập luyện cá nhân hay tập thể hàng ngày là biệnpháp quan trọng đối với việc giáo dục thể chất cho các tầng lớp nhândân Nó có rất nhiều hình thức và nội dung khác nhau, có thể đáp ứngđược yêu cầu, sở thích và đặc điểm cá nhân người tập Các môn thểdục ở ta quen gọi là thể dục dưỡng sinh và thể dục nhịp điệu có thể coi
là một hình thức của thể dục vệ sinh
- Thể dục có khuynh hướng thể thao:
Bao gồm các môn thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật, nhào lộn
và gần đây có thêm thể dục hình thể thẫm mỹ Đó là những môn thểthao riêng biệt có yêu cầu và luật thi đấu riêng Mục đích trực tiếp củacác môn thể dục này là nâng cao trình độ tài nghệ thực hiện các độngtác quy định và giành thứ hạng cao trong thi đấu
Thể dục dụng cụ gồm có những môn chính là các bài tập tự do,nhảy ngựa và các bài tập trên dụng cụ như: Xà đơn, xà kép (đối vớinam), xà lệch, cầu thăng bằng (đối với nữ)
Thể dục nghệ thuật là môn thể thao chỉ dành cho nữ, gồm cácbài tập dụng cụ (vòng, bóng), các bài tập không dụng cụ dựa trên độngtác tự nhiên (đi, chạy, nhảy và tung, ném), kết hợp đa dạng với cácđộng tác thay đổi phương hướng, các yếu thăng bằng, các động tácuốn sóng của thân, các điệu nhảy dan gian và hiện đại
Nhào lộn là môn thể thao bao gồm các động tác lộn, xanto, chuốitay, xoạc… được thực hiện một người hoặc từng đôi và theo nhóm.Nhào lộn trên lưới bật (batút) được coi là một môn nhào lộn riêng
Thể dục hình thể lấy việc tập luyện để tạo nên vẻ đẹp cân đốicủa cơ thể và sự phát triển nổi bật của các nhóm cơ làm mục đích trựctiếp
Các môn thể dục dụng cụ, thể dục nghệ thuật, nhào lộn dướidạng đơn giản hoá có thể dược sử dụng như một phương tiện quantrọng trong chương trình GDTC đối với học sinh Tất nhiên việc nàyđòi hỏi những điều kiện tương ứng về nhà tập và dụng cụ
- Thể dục bổ trợ:
Các môn thể dục bổ trợ gồm: Thể dục bổ trợ trong trường học(thể dục trước giờ, thể dục giữa giờ học), thể dục trong sản xuất, thểdục bổ trợ nghề nghiệp, thể dục bổ trợ thể thao Đó là những bài tậprất đa dạng, được xây dựng và lựa chọn phù hợp với những mục đíchchuyên nghiệp của mỗi loại đối tượng tập luyện, bảo đảm chuẩn bị và
hỗ trợ cho hoạt động chính đạt kết quả tốt hơn
- Thể thao:
Thể thao là những hoạt động vận động chuyên biệt phong phú,
đa dạng, có đặc điểm chung là xu hướng vươn tới thành tích cao nhấttrong một hoạt động vận động chuyên sâu nhất định Đặc trưng chủ
Trang 39yếu của các hoạt động thể thao là luôn gắn với các hình thức thi đấu,
đọ sức, đấu trí, tranh tài, chuyên môn hoá sâu, các mức độ khác nhau,
sự nỗ lực cao về thể lực, ý chí và hoạt động trí óc
Thi đấu thể thao bao giờ cũng là những hoạt động sôi nổi, hứngthú, thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội rộng rãi, là nguồn kíchthích để cải tiến quá trình tổ chức, đào tạo, huấn luyện, nghiên cứukhoa học, kỹ thuật, cải tiến các thiết bị, dụng cụ thể thao, là động lựcquan trọng thúc đẩy việc tập luyện của VĐV, động viên cổ vũ cáchoạt động thể thao quần chúng
Chuyên môn hoá hẹp trong môn thể thao hiện đại đã trở thànhđiều kiện không thể thiếu được để đạt thành tích cao Việc chuyênmôn hoá thường gắn liến với quá trình tập luyện dài hạn (nhiều năm),
có hệ thống, với lượng vận động lớn và các mặt chuẩn bị chuyên mônrất chuyên biệt, đồng thời phải dựa trên nền tảng vững chắc của sựchuẩn bị thể lực chung
Sự nỗ lực cao nhất về thể lực, ý chí và hoạt động chí óc la yêucầu không chỉ liên quan đến quá trình tập luyện và thi đấu của VĐV,
mà còn đặt ra nhiều vấn đề đối với huấn luyện, bảo đảm cho nhữnghoạt động gần như ở giới hạn cao nhất của khả năng con người màkhông gây lên hậu quả xấu
Về mặt xã hội, các hoạt động thể thao ngày càng có ý nghĩa tolớn đối với việc thúc đẩy sự phát triển của TDTT quần chúng, nângcao sức khoẻ… đồng thời có những mối liên hệ đa dạng với các lĩnhvực chính trị văn hoá Thể thao ngày nay còn là phương tiện giao lưuvăn hoá tăng cường sự hiểu biết giữa các dân tộc
Do số lượng các môn thể thao ngày nay rất nhiều cho nên vẫnchưa có sự phân loại thống nhất được thừa nhận rộng rãi Song trongthực tế có một số cách phân loại như sau:
- Các môn thể thao hiện đại: Bao gồm các môn trong chươngtrình Olympic
- Các môn thể thao dân tộc: Là những môn có truyền thống lâuđời và chỉ có riêng ở 1 số dân tộc
- Các môn thể thao kỹ thuật: Là những môn gắn với việc sửdụng và điều khiển các phương tiện kỹ thuật
Ngoài ra căn cứ vào hình thức tổ chức và trình độ người ta cònphân biệt:
- Thể thao quần chúng: Là những môn có khả năng phổ cập rộngrãi đơn giản về luật, không yêu cầu cao về chuyên môn
- Thể thao thành tích cao: Là lĩnh vực hoạt động của nhữngngười có năng khiếu và tài năng đặc biệt
Tuỳ theo mức độ chuyên biệt hoá người ta còn phân biệt thể thaonghiệp dư và thể thao chuyên nghiệp Thể thao nhà nghề là một lĩnhvực riêng của thể thao, đôi khi có luật lệ riêng và coi đây là một nghề
* Trò chơi:
Trang 40Là một trong những bài tập thể lực xuất hiện sớm Nó phản ánhđời sống thực tiễn, cách điệu hoá các hoạt động của con người Phầnlớn các trò chơi bao gồm các hành vi vận động như chạy, nhảy, leotrèo được gọi là trò chơi vận động Nó có những đặc điểm chung là :Luôn có sự đua tranh phối hợp trong sự tác động qua lại của ngườicùng chơi; luôn có những tình huống mới xuất hiện đòi hỏi người chơinhanh chí và sáng tạo; trong mỗi trò chơi, mỗi người tham gia thườnggiữ một vai trò nhất định.
Tác dụng của trò chơi vận động hoàn thiện các kỹ năng vậnđộng,nân cao các tố chất thể lực, rèn luyện các phẩm chất ý chí
Các trò chơi vận động được chia thành 3 nhóm: Trò chơi môphỏng,trò chơi thể thao đơn giản và trò chơi thể thao
- Trò chơi mô phỏng: Cơ sở của loại trò chơi này bao giờ cũng làmột chủ đề phản ánh một hiện tượng nào đó trong đời sống Trò chơi
mô phỏng tự do không có nội dung và cấu trúc cố định ,không có luậtquy định chặt chẽ
-Chơi thể thao đơn giản : Là những trò chơi phản ánh gián tiếpnhững hiện tượng của đời sống thực tiễn Kết cấu và tổ chức của loạitrò chơi này được quy định bằng luật chơi quy ước được người chơithừa nhận
Các trò chơi thể thao đơn giản bao gồm có:
+ Trò chơi không chia thành đội: Bao gồm một nhóm thamgia, trong đó mỗi người hoạt động đơn độc theo vai trò của mình trongcuộc chơi và lợi ích chơi của bản thân(VD: Cướp cờ)
+ Trò chơi chia thành đội: Bao gồm các nhóm có lực lượngtương đương nhau, hoạt động đối lập với nhau theo luật chơi đơn giản
và có sự giám sát của trọng tài(VD: Kéo co)
+ Trò chơi tiếp sức đồng đội, trong đó mỗi đội phải thựchiện các bài tập đơn giản dưới hình thức tiếp sức sao cho toàn độihoàn thành nhiệm vụ quy định đúng luật và nhanh nhất
Do tính chất đơn giản, hấp dẫn, dễ tổ chức và có nhiều tác dụngtốt nên các trò chơi tiếp sức có vị trí đáng kể và được áp dụng rông rãitrong GDTC ở trường học
- Các trò chơi thể thao: Chính là các môn bóng ,tức là nhữngmôn thể thao được chia thành đội với những thành viên tương đối ổnđịnh, có luật chơi chặt chẽ và mỗi thành viên thường có vai trò nhấtđịnh, thường xuyên trong đội Các môn cá nhân như bóng bàn, quầnvợt… cũng thuộc trò chơi thể thao
* Du lịch:
Các cuộc đi dạo, tham quan, du lịch, dã ngoại thường có thờigian ngắn dài khác nhau nhằm nghỉ ngơi tích cực, nâng cao sức khoẻ
và bồi dưỡng kỹ năng vận động được coi là những môn du lịch
Du lịch có nhiều nội dung hoạt động, kết hợp các hình thức dichuyển chủ động với các hoạt động-các trò chơi vận động…