Mẫu 02 TMSK I THÔNG TIN CHUNG 1 Tên sáng kiến Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2A trường Tiểu học số 2 xã Pắc Ta 2 Tác giả Họ và tên Vũ Thị Thu Huyền Năm sinh 02011980 Nơi thường trú Xã Mường Than – huyện Than Uyên – tỉnh Lai Châu Trình độ chuyên môn Đại học Tiểu học Chức vụ công tác Giáo viên Tiểu học Chủ nhiệm lớp 2A Nơi làm việc Trường Tiểu học số 2 xã Pắc Ta Điện thoại 01668316727 Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến 100% 3 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến Chuyên môn.
Trang 1I THÔNG TIN CHUNG.
1 Tên sáng kiến:
Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2A trường Tiểu học số 2 xã Pắc Ta
2 Tác giả:
Họ và tên: Vũ Thị Thu Huyền
Năm sinh: 02/01/1980
Nơi thường trú: Xã Mường Than – huyện Than Uyên – tỉnh Lai Châu Trình độ chuyên môn: Đại học Tiểu học
Chức vụ công tác: Giáo viên Tiểu học - Chủ nhiệm lớp 2A
Nơi làm việc: Trường Tiểu học số 2 xã Pắc Ta
Điện thoại: 01668316727
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100%
3 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chuyên môn Tiểu học
4 Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ 28 tháng 8 năm 2017 đến tháng 3
năm 2018
5 Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường Tiểu học số 2 xã Pắc Ta
Địa chỉ: Xã Pắc Ta – huyện Tân Uyên – tỉnh Lai Châu
Điện thoại: 02316253888
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1 Sự cần thiết, mục đích của việc thực hiện sáng kiến.
1.1 Sự cần thiết của việc thực hiện sáng kiến.
Để tạo dựng thế hệ trẻ trong tương lai “Vừa hồng, vừa chuyên” thì thế hệ giáo viên chúng ta cần được trang bị đầy đủ kĩ năng, kiến thức sâu rộng và phương pháp dạy học tích cực truyền thụ tới học sinh giúp các em lĩnh hội kiến thức Để từ đó các em có nền tảng tư duy phát triển lên các lớp cao hơn và có nhiều hiểu biết sâu rộng Là người giáo viên Tiểu học
Trang 2sống và làm việc dưới mái trường xã hội chủ nghĩa Bản thân đã trải qua những năm tháng khi còn là học sinh cắp sách đến trường Nên tôi hiểu phần nào về tâm tư của các em, như là học tập tốt hơn để được bạn, thầy
cô, cha mẹ khen ngợi Để có vinh dự như ngày hôm nay, ngoài nỗ lực của bản thân tôi luôn biết ơn, công lao dạy dỗ chỉ bảo ân cần của người thầy, người cô hằng ngày trên bục giảng, đêm về trên những trang giáo án để làm sao học sinh hiểu bài, nắm vững được kiến thức Nay bản thân tôi đã trưởng thành và là cô giáo, được vinh dự đứng trên bục giảng mang con chữ tới cho các em ở những bản làng Nhưng tôi vẫn không quên những lời thầy dạy năm xưa “Luôn phấn đấu đi lên dù ở bất cứ hoàn cảnh nào”
Hiện nay tôi đang trực tiếp giảng dạy lớp 2A trường Tiểu học số 2
xã Pắc Ta Đối tượng học sinh chiếm tới 75,8% là con em dân tộc Dao, dân tộc Thái, dân tộc H’mông, ngoài dạy các em kiến thức trong các môn học, rèn kĩ năng diễn đạt hằng ngày, tôi còn quan tâm đến việc rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho các em, vì vậy tôi chọn sáng kiến
“Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2A trường Tiểu học số 2 xã Pắc Ta”.
Quá trình rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh cần nhiều thời gian, công sức, chăm chút những đường nét sao cho đúng theo quy định của ngành, quá trình này diễn ra thường xuyên lặp lại để tạo thành kĩ năng, kĩ xảo Khi học sinh có kĩ năng thì các em sẽ tư duy được và rút ra bài học cho bản thân, dù thực hiện công việc khác cũng tương tự như vậy phải luôn cẩn thận thì mới
có kết quả cao
Đơn vị Trường Tiểu học số 2 xã Pắc Ta nằm cạnh quốc lộ 32 Là điểm trung tâm của 5 thôn bản, rất thuận tiện cho việc đi lại của học sinh, tuy nhiên lớp tôi chủ nhiệm đa số là con em dân tộc ít người (Dao, Thái, H’mông) Điều kiện kinh tế người dân nơi đây vô cùng khó khăn, còn ảnh hưởng nặng nề của nhiều tập tục lạc hậu Văn hóa dân trí thấp Gia đình học sinh chưa thực sự nhận biết được tầm quan trọng việc học tập của con em
Trang 3mình Với môn Tiếng Việt, chữ viết chưa đúng độ cao, độ rộng, các nét nối giữa các chữ chưa đều và đúng với mẫu chữ hiện hành Các em còn viết sai nhiều lỗi chính tả Vì vậy trong nhiều năm tôi giảng dạy và học hỏi từ đồng nghiệp nên đã rút ra được một số kinh nghiệm trong việc rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh Qua việc rèn chữ viết giúp cho các em viết đúng chính tả, đúng độ cao, độ rộng của các chữ, viết đẹp Khi các em đã đạt được kĩ năng viết đúng, viết đẹp, việc trình bày bài viết của các môn khác sẽ được cải thiện, khả năng tiếp thu kiến thức các môn học từ đó khả quan hơn Vì vậy tôi đặt ra mục
đích cho sáng kiến này là “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2A trường Tiểu học số 2 xã Pắc Ta”
1 2 Mục đích của việc thực hiện sáng kiến
- Học sinh hiểu được quy trình viết các chữ, các luật chính tả và áp dụng vào viết chính tả, tập viết và trình bày các môn học khác cho đúng chính tả
- Giúp học sinh nắm được kĩ thuật viết các chữ đúng mẫu và cỡ chữ, trình bày bài khoa học
- Học sinh ngồi viết đúng tư thế
- Học sinh nêu thành thạo luật chính tả của lớp 1 công nghệ giáo dục
- Giúp giáo viên có được cách dạy học phù hợp với đối tượng học sinh
2 Phạm vi triển khai thực hiện:
- Phạm vi nghiên cứu: 38 học sinh lớp 2A - Trường Tiểu học số 2 xã
Pắc Ta
Nghiên cứu trong khoảng 8 tháng, bắt đầu nghiên cứu từ đầu năm học đến tháng 3 thì khảo sát chất lượng thực hiện
- Đối tượng nghiên cứu: “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng
chính tả cho học sinh lớp 2A trường Tiểu học số 2 xã Pắc Ta.”
3 Mô tả sáng kiến:
a Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
* Hiện trạng chung
Trong năm học 2017- 2018, tôi làm công tác chủ nhiệm lớp 2A với số lượng học sinh 38 em Đa số đối tượng học sinh là thành phần dân tộc ít người
Trang 4Các em rất nhút nhát trong các hoạt động phong trào Kĩ năng diễn đạt, giao tiếp hạn chế, khả năng tư duy chậm
+ Chữ viết chưa đạt yêu cầu căn bản, như độ cao, độ rộng
+ Đặt dấu thanh chưa đúng vị trí, xa chữ, đặt không đúng âm chính
+ Cách cầm bút, tư thế ngồi chưa chuẩn
+ Các em viết còn sai chính tả
+ Không ghi nhớ được một số luật chính tả của lớp 1 công nghệ giáo dục + Chữ viết của giáo viên chưa thực sự đẹp
* Hiện trạng cụ thể
+ Trong quá trình viết, nối nét giữa các con chữ (ch, gh, kh, nh, ng, ngh,
ph, gi, th, tr) chưa đều, ngay ngắn
+ Khi viết sai các em hay gạch xoá, tẩy tuỳ tiện, tay tì lên giấy không đúng quy định nên vở viết thường rất bẩn, nhàu nát
+ Một số em dân tộc Thái viết nhầm l với đ; t với th (10/35 em)
- Vở viết, loại bút, loại mực của học sinh chưa đồng nhất Giấy, bút, mực kém chất lượng làm ảnh hưởng không tốt đến bài viết của các em
+ Các em dân tộc Dao còn ngọng trong khi viết như nhầm giữa (ôc với ông); giữa (ât với ân); (ơn với ân) … (14/35 em)
* Thuận lợi
- Trường nằm gần quốc lộ 32, cơ sở vật chất nhà trường đảm bảo đủ điều kiện
cho các em học tập, bàn ghế đúng qui cách, phòng học đủ ánh sáng
- Đơn vị nhà trường nhận được sự quan tâm sát xao của Đảng ủy chính
quyền địa phương, của Phòng Giáo dục
- Nhà trường đã quan tâm chăm lo chỉ đạo về phong trào “Giữ vở sạch - viết chữ đẹp” và có nhiều hình thức tuyên dương khen ngợi những học sinh có ý thức thực hiện tốt phong trào
- Nhiều gia đình đã có chuyển biến bước đầu về nhận thức việc học của
học sinh
- Không có sự phân biệt đối xử dân tộc, các em có tinh thần đoàn kết, biết giúp
đỡ lẫn nhau về mọi mặt, có ý thức kỉ luật tốt
Trang 5* Khó khăn
- Về phía giáo viên
+ Việc rèn chữ giáo viên không thường xuyên Chữ viết chưa thực sự đẹp
và ít chú trọng tới việc rèn luyện chữ viết hằng ngày
+ Giáo viên thiếu kinh nghiệm chuyên sâu trong việc rèn chữ viết cho học sinh
- Về phía học sinh
- Quá nhiều đối tượng học sinh trong một lớp (38 em) nên khó khăn cho việc rèn cho từng cá nhân
- Học sinh nhỏ tuổi, tính mải chơi, thiếu tính kiên trì trong những việc đòi hỏi sự tỉ mỉ
- Một số học sinh thiếu ý thức giữ gìn sách vở, đồ dùng và rèn chữ viết
- Do ảnh hưởng của ngôn ngữ địa phương, các em phát âm tiếng phổ thông không chuẩn nên khi nói, đọc, viết chưa đúng
* Nguyên nhân
- Giáo viên
+ Giáo viên ít quan tâm đến sách vở, chữ viết của học sinh.
+ Giáo viên thiếu linh hoạt trong việc tổ chức dạy học, áp dụng các
phương pháp tích cực vào việc rèn chữ viết cho học sinh
- Học sinh
+ Học sinh chưa nắm được các nét cơ bản và cấu tạo các con chữ, vần,
tiếng, dấu thanh
+ Quy trình viết chữ chưa đạt, cách nối các nét chữ trong một tiếng, chữ viết sai độ cao, độ rộng, các nét không đều
+ Các em ít được thầy cô hướng dẫn, uốn nắn một cách tỉ mỉ, kịp thời thường xuyên từ việc cầm bút,
+ Viết sai chính tả như dấu sắc và dấu ngã, giữa các vần với nhau (14/35 học sinh)
+ Các vần ưc thì viết thành vần ưng, vần ôc thì viết thành ông… (13/35
học sinh)
Trang 6+ Các em chưa nắm vững các luật chính tả của lớp 1 công nghệ giáo dục dẫn đến các em còn viết nhầm, sai nhiều
+ Học sinh thiếu ý thức, kiên trì giữ gìn sách vở và rèn luyện chữ viết, viết
cẩu thả
* Nguyên nhân khác:
+ Một số phụ huynh chưa có điều kiện mua trang thiết bị phục vụ đầy đủ cho học sinh Gia đình học sinh nhận thức rất hạn chế về việc rèn cho các em
viết chính tả ở nhà, luyện tính kiên trì cho các em.
+ Do ảnh hưởng của ngôn ngữ địa phương khi nói, đọc, viết
+ Đa số các em đều là con em dân tộc ít người, hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, bố mẹ thường xuyên đi lao động xa nhà nên không có thời gian nhiều để quan tâm và chăm sóc các em
* Giải pháp 1: Giáo viên trình bày bảng khoa học, cẩn thận.
+ Hằng ngày khi viết bảng tôi thường viết thật cẩn thận, viết đúng mẫu chữ
và cỡ chữ để học sinh học tập theo
+ Trong quá trình viết các bài chính tả tập chép giáo viên thường trình bày đúng thể thơ hoặc văn xuôi, với những bài viết thầy cô cũng hướng dẫn học sinh
tỉ mỉ để học sinh viết cẩn thận
+ Những lúc dạy học sinh giải toán có lời văn tôi cũng hướng dẫn và trình bày thật cẩn thận, đúng theo các bước
* Giải pháp 2: Dạy học sinh viết đúng các chữ hoa.
+ Để học sinh viết đúng các chữ viết hoa thì trong tiết tập viết giáo viên hướng dẫn tỉ mỉ từng chữ hoa và cho học sinh luyện viết nhiều lần
+ Với các bài chính tả cô giáo luôn nhắc nhở các em viết đúng các chữ hoa + Khi dạy ôn buổi 2 giáo viên chú trọng hướng dẫn các em viết các chữ hoa + Giải toán có lời văn cô giáo cũng hướng dẫn và nhắc nhở các em viết hoa đúng theo hướng dẫn
- Ưu điểm của các giải pháp trên:
+ Qua thời gian thực hiện, áp dụng các giải pháp trên Một số học sinh viết
các chữ hoa tương đối đúng mẫu và cỡ chữ, chữ viết tương đối đúng độ cao
Trang 7- Hạn chế của các giải pháp trên:
- Bên cạnh các ưu điểm, giải pháp trên tồn tại một số hạn chế sau.
+ Chữ viết của học sinh nhầm lẫn độ cao, độ rộng, điểm đặt bút, dừng bút + Chữ viết bị ngắt, chưa nối các con chữ trong một tiếng với nhau
+ Tư thế ngồi, cách cầm bút sai, ngồi cong vẹo,
+ Các em phát âm ngọng trong khi viết như nhầm giữa ôc với ông; giữa ât với ân, ơn với ân, … (9/35 em)
+ Một số em học sinh dân tộc Thái viết nhầm các tiếng có chữ t thành các tiếng có chữ th; các tiếng có chữ l thành các tiếng có chữ đ, … (10/35 em)
+ Các em hiểu sai luật chính tả e, ê, i, luật chính tả âm đệm, luật chính tả nguyên âm đôi, … (20/35 em)
+ Trình bày bài viết chưa khoa học, đảm bảo tính thẩm mĩ
* Kết quả khảo sát đầu năm như sau: (38 em – 3 HS khuyết tật)
Mức độ viết Giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
Chữ viết chưa đúng độ cao, độ
Chữ viết đúng độ cao, độ rộng của
Chữ viết đúng độ cao, độ rộng,
b Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến.
* Điểm mới và sự khác biệt giải pháp mới.
- Điểm mới.
+ Dựa trên thực tế của việc giảng dạy trên lớp hàng ngày và trao đổi với đồng nghiệp tôi tự rút ra biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh của lớp
+ Giúp học sinh nắm được cấu tạo các nét, các chữ viết
+ Học sinh nhận được sự hướng dẫn tỉ mỉ của cô giáo, các em được thực hành viết nhiều hơn và viết đúng chính tả
Trang 8+ Giáo viên là người hướng dẫn các em nắm được các luật chính tả, nắm được tư thế ngồi viết đúng và cách trình bày bài viết
+ Học sinh yêu thích việc rèn chữ viết
- Sự khác biệt giữa giải pháp mới so với giải pháp cũ
+ Đối với giải pháp cũ học sinh đã có ý thức viết các chữ hoa và trình bày bài viết tương đối đúng, tuy nhiên các em vẫn còn viết chưa đúng mẫu chữ, hiểu chưa đầy đủ các luật chính tả Còn đối với giải pháp mới tôi đưa ra các em viết đúng mẫu chữ, hiểu được luật chính tả, trình bày bài viết khoa học, chữ viết ngày càng đúng chính tả và đẹp Qua đó học sinh tự tin về bản thân, yêu thích môn học, tiếp thu bài nhanh, chủ động tích cực hơn
Qua việc tìm hiểu, phân tích lựa chọn các giải pháp phù hợp với đối tượng học sinh lớp 2A, tôi mạnh dạn đưa ra những giải pháp mới như sau
* Các giải pháp mới
Từ những hạn chế của các giải pháp trên, những nguyên nhân tôi đã đúc kết
và qua kết quả khảo sát trực tiếp trên lớp, để rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh lớp 2A Tôi đề ra “Một số biện pháp rèn kĩ năng viết đúng chính
tả cho học sinh lớp 2A trường Tiểu học số 2 xã Pắc Ta” như sau
Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh nắm được cấu tạo chữ viết và viết đúng các chữ cái.
- Mục tiêu:
+ Giúp giáo viên và học sinh nắm chắc kiến thức, viết tốt các nét, các chữ cái đúng mẫu quy định
+ Giúp giáo viên và học sinh viết đúng các nét, chữ cái và viết đẹp
- Nội dung và cách thực hiện:
Để giúp học sinh hệ thống được các nét cơ bản tôi đã lập bảng các nét chữ Tiếng Việt sau
+ Các nét thẳng: Điểm đặt bút trên đường kẻ ngang, với đường kẻ dưới + Nét cong hở: Điểm đặt bút ở dưới dòng kẻ trên vòng sang phải hoặc vòng sang trái
Trang 9+ Nét móc ngược: Điểm đặt bút từ đường kẻ ngang trên kéo thẳng xuống gần đường kẻ ngang dưới thì lượn cong nét bút chạm đường kẻ ngang dưới rồi đưa cong lên Độ rộng của nét cong bằng 1/3 đơn vị Điểm dừng bút cao hơn đường kẻ dưới một chút
+ Nét móc xuôi: Điểm đặt bút thấp hơn đường kẻ ngang một chút, lượn cong tròn nét móc sang phải, viết tiếp nét thẳng đến đường kẻ dưới thì dừng lại + Nét móc hai đầu: Nét này có phần nét móc xuôi phía trên rộng gấp đôi nét móc bình thường Đây là sự phối hợp của nét móc xuôi và nét móc ngược + Các nét khuyết: Dựa trên đường kẻ ngang làm chuẩn
Từ cấu tạo của các nét chữ như trên, tôi đưa ra biện pháp chia thành từng nhóm chữ và rèn luyện dứt điểm từng nhóm chữ để học sinh viết đúng độ cao,
độ rộng các chữ:
Nhóm 1: Nhóm chữ cái có nét cơ bản là nét cong: c, o, ô, ơ, e, ê, x
Nhóm 2: Nhóm chữ cái có nét cơ bản là nét cong phối hợp với nét móc (hoặc nét thẳng): a, ă, â, d, đ, g
Nhóm 3: Nhóm chữ cái có nét cơ bản là nét móc: i, t, u, ư, p, m, n
Nhóm 4: Nhóm các chữ cái có nét cơ bản là nét khuyết (hoặc nét cong phối hợp với nét móc): l, h, k, b, y, g
Nhóm 5: Nhóm chữ cái có nét móc phối hợp với nét thắt: r, v, s
Trong Tiếng Việt độ cao của chữ cái được chia ra gồm:
+ Các chữ có độ cao hai đơn vị: d, đ, p, q
+ Các chữ cái có độ cao 2,5 đơn vị: b, h, l, k, g, y
+ Các chữ cái có độ cao 1 đơn vị: a, ă, â, c, e, ê, i, m , n, o, ô, ơ, x, u, ư + Chữ có độ cao 1,5 đơn vị: t
+ Đây là biện pháp nhằm giúp các em viết đúng các nét cơ bản, cấu tạo chữ cái và đúng cỡ chữ, đúng độ cao các chữ Khi dạy giáo viên cần hướng dẫn tỉ mỉ cách viết từng nét, từng chữ để học sinh viết đúng và đẹp tạo tiền đề để học sinh viết đẹp hơn
Trang 10+Trong giờ tập viết giáo viên cần hướng dẫn tỉ mỉ từng nét chữ, độ cao các con chữ, điểm đặt bút, dừng bút, cách đặt dấu thanh để rèn cho học sinh viết đúng
Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh nắm được một số luật viết chính tả của lớp 1 Công nghệ giáo dục.
- Mục tiêu:
+ Giúp học sinh nghe cô giáo đọc để viết đúng các tiếng có luật chính tả viết nhầm
+ Nắm được các luật chính tả mình nhầm
+ Học sinh có kĩ năng viết đúng chính tả, viết đẹp
- Nội dung và cách thực hiện.
Sau khi rèn cho các em viết đúng, viết đẹp theo từng nhóm chữ cái đã nêu trên, thì tôi tiếp tục rèn cho các em một số luật chính tả mà các em hay viết nhầm sau
- Luật chính tả e, ê, i
+ Âm /cờ/ đi với e, ê, i được viết bằng con chữ k Ví dụ: kỉ, …
+ Âm /gờ/ đi với e, ê, i được viết bằng con chữ gh Ví dụ: ghi, …
+ Âm /ngờ/ đi với e, ê, i được viết bằng con chữ ngh Ví dụ: nghe, …
- Luật chính tả âm đệm
+ Khi đứng trước âm đệm, âm /cờ/ được viết bằng con chữ q và âm đệm phải ghi bằng chữ u Ví dụ: quả, …
+ Khi đứng sau âm đệm, âm /i/ được ghi bằng con chữ y (y dài) Ví dụ: huy, …
- Luật chính tả ghi nguyên âm đôi
+ Cách ghi nguyên âm đôi /uô/: Khi có âm cuối, nguyên âm đôi /uô/ được viết bằng con chữ uô Ví dụ: tuôn,….; Khi không có âm cuối, nguyên âm đôi /uô/ được viết bằng con chữ ua Ví dụ: cua, …
+ Cách ghi nguyên âm đôi /iê/: Khi có âm cuối nguyên âm đôi /iê/ được viết bằng con chữ iê Ví dụ: thiên, ….; Khi không có âm cuối, nguyên âm đôi /iê/ được viết bằng con chữ ia Ví dụ: mía, …