1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tổng hợp vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

14 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng hợp vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Tổng hợp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 37,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MÔN HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CHƯƠNG BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 2 MỤC LỤC 1 Nêu và phân tích các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng 3 2 Phân loại thiệt hại trong BTTH ngoài hợp đồng và nêu ý nghĩa của việc phân loại thiệt hại 6 3 Phân biệt yếu tố lỗi trong trách nhiệm dân sự (TNDS) ngoài hợp đồng với lỗi trong trách nhiệm hình sự (TNHS) 7 4 Nêu các trường hợp gây thiệt hại không bị xác định là trái pháp luật 8 1 Nêu và phân tích các điều.

Trang 1

MÔN: HỢP ĐỒNG VÀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

NGOÀI HỢP ĐỒNG.

CHƯƠNG: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG

1

Trang 2

MỤC LỤC

1 Nêu và phân tích các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng 3

2 Phân loại thiệt hại trong BTTH ngoài hợp đồng và nêu ý nghĩa của việc phân loại thiệt hại 6

3 Phân biệt yếu tố lỗi trong trách nhiệm dân sự (TNDS) ngoài hợp đồng với lỗi trong trách nhiệm hình sự (TNHS) 7

4 Nêu các trường hợp gây thiệt hại không bị xác định là trái pháp luật 8

Trang 3

1 Nêu và phân tích các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.

Thứ nhất: Có thiệt hại xảy ra trên thực tế.

– Thiệt hại xảy ra là tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi được áp dụng là nhằm khôi phục tình trạng tài sản cho người bị thiệt hại nên thiệt hại là yếu tố không thể thiếu được trong việc áp dụng trách nhiệm này Chỉ có thiệt hại mới phải bồi thường, chỉ khi nào biết được thiệt hại là bao nhiêu mới có thể ấn định người gây thiệt hại phải bồi thường bao nhiêu

Vì vậy, muốn áp dụng trách nhiệm này thì việc đầu tiên là phải xem xét có thiệt hại xảy ra hay không và phải xác định được thiệt hại là bao nhiêu

Trong trách nhiệm hình sự đối với một số tội có cấu thành hình thức thì không đòi hỏi có hậu quả vật chất Ngay đối với một số tội có cấu thành vật chất thì trong một số trường hợp cá biệt, hậu quả chưa xảy ra nhưng do tính chất của hành vi nguy hiểm có khả năng gây ra hậu quả lớn cũng đã cấu thành tội phạm hoặc ngược lại, đối với một số tội như tội thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc vi phạm các quy định về an toàn giao thông thì phải có thiệt hại nghiêm trọng mới cấu thành tội phạm Nhưng trong trách nhiệm dân sự chỉ cần có thiệt hại dù không nghiêm trọng cũng phải bồi thường Vì thiệt hại là điều kiện bắt buộc phải có trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, không có thiệt hại thì không phải bồi thường

Xác định thế nào là thiệt hại dựa vào các nội dung sau:

– Thiệt hại về tài sản: biểu hiện cụ thể là mất tài sản, giảm sút tài sản, những chi phí để ngăn chăn, hạn chế, sửa chữa thay thế, những lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản Đây là những thiệt hại vật chất của người bị thiệt hại

– Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe làm phát sinh thiệt hại về vật chất: gồm chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khỏe

– Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm uy tín bị xâm hại: gồm chi phí hợp lí để ngăn chăn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại

– Tổn thất về tinh thần: có 2 trường hợp là tổn thất về tinh thần của cá nhân: hoan mang, lo lắng, hoảng sợ tột độ, ; hoặc tổn thất về tin thần của pháp nhân: mất doanh dự, uy tín, ảnh hưởng đến việc kinh doanh của pháp nhân

Vì vậy, thiệt hại là những tổn thất xảy ra được tính thành tiền bao gồm những mất mát, hư hỏng, huỷ hoại về tài sản, nguồn thu nhập bị mất, chi phí nhàm ngăn chặn, khắc phục những hậu quả xấu về tài sản, sức khoẻ, tính mạng, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tinh thần

Trang 4

– Có thể chia thành hai loại thiệt hại sau đây:

+ Thiệt hại trực tiếp: Là những thiệt hại đã xảy ra một cách khách quan, thực tế và

có cơ sở chắc chắn để xác định, bao gồm mất mát, hư hỏng về tài sản, các chi phí cho việc ngăn chặn, khắc phục các thiệt hại

+ Thiệt hại gián tiếp: Là những thiệt hại mà phải dựa trên sự suy đoán khoa học mới có thể xác định được thiệt hại Thiệt hại này còn được gọi là thu nhập thực tế

bị mất, bị giảm sút, lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất Đổi với loại thiệt hại này nếu chỉ mang tính giả định, không có cơ sở khoa học chắc chắn để xác định thì không được đưa vào khoản thiệt hại để áp dụng trách nhiệm bồi thường

Thứ hai: Hành vi gây ra thiệt hại là hành vi trái pháp luật.

Quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản là một quyền tuyệt đối của mọi công dân, tổ chức Mọi người đều phải tôn trọng những quyền đó của chủ thể khác, không được thực hiện bất cứ hành vi nào “xâm phạm” đến các quyền tuyệt đối đó

Điều 584 BLDS 2015 quy định“Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Điều luật này xuất phát từ nguyên tắc chung của pháp luật dân sự được quy định tại Điều 3 BLDS 2015 ” Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.”

Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với quy định của pháp luật.

- Trước nhất, hành vi được xem là trái pháp luật khi hành vi đó gây thiệt hại.

- Thứ hai, hành vi được xem là trái pháp luật khi nó trái những quy định được quy định trong luật

- Và hành vi trái pháp luật được thể hiện dưới 2 dạng:

+ Hành vi trái pháp luật thể hiện dưới dạng hành động thông qua những xử sự cụ thể của con người Ví dụ như hành vi đâm,chém,đốt, đánh,

+ Hành vi trái pháp luật thể hiện dưới dạng không hành động: ví dụ như hành vi không cứu giúp người trong tình thế nguy hiểm đến tính mạng,

Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, hành vi trái pháp luật

là những hành vi xâm hại tới tài sản, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm uy tín, quyền

và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác và đa phần được thể hiện dưới dạng hành động Chủ thể đã thực hiện hành vi mà đáng ra không được thực hiện các hành vi

Trang 5

Tuy nhiên, những hành vi gây thiệt hại do xâm phạm các yếu tố trên nhưng được thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật sẽ không bị coi là hành vi trái pháp luật và vì vậy, người thực hiện hành vi đó không phải bồi thường thiệt hại

- Những hành vi gây thiệt hại nhưng không bị coi là hành vi trái pháp luật

+ Hành vi gây thiệt hại do phòng vệ chính đáng

+ Hành vi gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết

+ Gây thiệt hại có sự đồng ý hợp pháp của người bị thiệt hại

+ Gây thiệt hại khi thi hành công vụ hoặc thực hiện chức trách nghề nghiệp

+ Những trường hợp khác do luật qui định

Ví dụ: có một căn nhà B trong hẻm bị cháy, muốn dập tắt được lửa của căn nhà B, người ta phải phá hủy rào cản của căn nhà A thì những người lính cứu hỏa mới vào được Trong trường hợp này, người gây thiệt hại không phải bồi thường

Thứ ba: Phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.

Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại

- Phân tích mối quan hệ nhân quả trong ví dụ : Trời mưa to, nên đường rất là trơn ướt, ông A đi trên đường, chạy xe phóng nhanh vượt ẩn nhưng do đường trơn nên ông A không làm chủ được tay lái mà tông vào ông B đang đi trên đường

+ Có thiệt hại xảy ra: ông B bị tông Đây là hậu quả xảy ra

+ Còn nguyên nhân: là do ông A phóng nhanh vượt ẩu chứ không phải do trời mưa + Nên ông A phải bồi thường cho ông B vì hành vi trái pháp luật của mình (là hành

vi phóng nhanh vượt ẩu và gây ra thiệt hại cho ông B

Thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật hay ngược lại Điều này được quy định tại Điều 584 BLDS dưới dạng ” người nào… xâm phạm mà gây thiệt hại” đến tính mạng, tài sản, là nguyên nhân và thiệt hại là hậu quả của hành

vi đó Tuy nhiên, xác định mối tương quan nhân quả là vấn đề phức tạp

Việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy

ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn Do đó, cần phải xem xét, phân tích, đánh giá tất cả các sự kiện liên quan một cách thận trọng, khách quan và toàn diện Từ

đó mới có thể rút ra được kết luận chính xác về nguyên nhân, xác định đúng trách nhiệm của người gây ra thiệt hại

Trang 6

* So với Bộ Luật dân sự 2005 thì Bộ Luật dân sự 2015 thì yếu tố lỗi không còn là điều kiện bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trừ trường hợp BLDS và luật khác có quy định

2 Phân loại thiệt hại trong BTTH ngoài hợp đồng và nêu ý nghĩa của việc phân loại thiệt hại.

- Thiệt hại trong BTTH ngoài hợp đồng gồm:

+ Thiệt hại về vật chất

+ Thiệt hại về tổn thất về tinh thần

Thiệt hại về vật chất

Điều 589 Thiệt hại do tài sản

bị xâm phạm

Tài sản bị mất, huỷ hoại, hư hỏng, lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại Thiệt hại khác do luật quy định Điều 590 Thiệt hại do sức

khoẻ bị xâm phạm

Chữa trị (chi phí bệnh viện, thuốc men) thu nhập thực tế bị mất

Điều 591 Thiệt hại do tính

mạng bị xâm phạm

Nằm viện (chưa chết) -> được bồi thường giống Điều 590

Nằm viện sau một thời gian thì chết -> Bồi thường chi phí mai táng

Điều 592 Thiệt hại do danh

dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm

phạm

Hình ảnh bị bôi nhọ ảnh hướng tới công việc Chi phí thu nhập bị mất hoặc giảm sút

Thiệt hại về tổn thất về tinh thần

Pháp nhân Chi phí bồi thương khi pháp nhân bị ảnh hưởng (ví

dụ như công ty bị bôi nhọ gây mất hình ảnh, mất các hợp đồng kí kết)

(Các Điều trên thuộc BLDS 2015)

- Ý nghĩa của việc phân loại thiệt hại

Việc phân loại tội phạm có ý nghĩa trong việc hoàn thiện và áp dụng các quy phạm pháp luật dân sự như: Mức độ tuổi chịu trách nhiệm; Nguyên tắc bồi thường thiệt hại; Trách nhiệm bồi thường khi nhiều người cùng gây ra thiệt hại và Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Trang 7

3 Phân biệt yếu tố lỗi trong trách nhiệm dân sự (TNDS) ngoài hợp đồng với lỗi trong trách nhiệm hình sự (TNHS).

Tiêu chí

Khái niệm

Lỗi là thái độ tâm lý của người gây thiệt hại, thể hiện nhận thức và mong muốn của mình đối với hành

vi gây thiệt hại và thiệt hại do hành

vi đó gây ra

Lỗi là thái độ tâm lý bên trong của người phạm tội đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra

Tính chất

quan trọng

Không là điều kiện bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trừ trường hợp BLDS và luật khác có quy định (Ví dụ Điều 363 BLDS quy định về BTTH trong trường hợp bên bị vi phạm có lỗi)

Để được xem là tội phạm và

bị truy cứu trách nhiệm hình

sự thì người phạm tội bắt buộc phải thỏa mãn yếu tố lỗi

Ý nghĩa

- Là căn cứ ấn định mức bồi thường thiệt hại

- Theo quy định tại BLDS 2015 thì đối với bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, nguyên tắc chung là dù người gây thiệt hại có lỗi vô ý hay

cố ý hay không có lỗi thì đều bồi thường thiệt hại như nhau cho người bị thiệt hại

Ví dụ: A điều khiển chiếc xe máy -nguồn nguy hiểm cao độ - bỗng nhiên chiếc xe bị đứt phanh và tông vào B đang đi qua đường đúng luật Trong trường hợp này A vẫn phải BTTH cho B mặc dù A không có lỗi (Điều 601 BLDS)

- Là căn cứ để xác định tội phạm trong mọi trường hợp

- Nếu không có lỗi thì không

bị truy cứu trách nhiệm hình

sự Ngoài ra, việc phân chia thành lỗi cố ý hay vô ý trong pháp luật hình sự có ý nghĩa

vô cùng quan trọng bởi yếu

tố lỗi là căn cứ ảnh hưởng trực tiếp tới việc xác định tội danh, hoặc có thể tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS

Ví dụ: Cùng gây ra hậu quả chết người nhưng người phạm tội với lỗi cố ý thì sẽ

bị truy cứu về Tội giết người (Điều 123 BLHS), nếu phạm tội với lỗi vô ý thì có thể bị truy cứu với Tội vô ý làm chết người (Điều 128 BLHS)

Trang 8

Hình thức

lỗi

Phân thành 02 hình thức lỗi gồm lỗi cố ý và lỗi vô ý:

- Lỗi cố ý: là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng vẫn để mặc hậu quả xảy ra

- Lỗi vô ý: là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được

Phân lỗi cố ý và vô ý thành

04 hình thức lỗi cụ thể:

-Lỗi cố ý trực tiếp: là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra

-Lỗi cố ý gián tiếp: là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra

-Lỗi vô ý vì quả tự tin là trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được

-Lỗi vô ý vì cẩu thả là trường hợp người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội mặc

dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó

-4 Nêu các trường hợp gây thiệt hại không bị xác định là trái pháp luật.

- Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật

Trang 9

- Những hành vi gây thiệt hại những không bị coi là hành vi trái pháp luật:

+ Hành vi gây thiệt hại do phòng vệ chính đáng.

 Theo Khoản 1 Điều 22 BLHS 2015: “Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.”

 Ví dụ: A đánh B, B đưa tay đỡ và gạc B khiến B bị gãy tay Mặc dù B bị thiệt hại về sức khỏe nhưng hành vi của A không được coi là trái pháp luật

Do đó, A không phải chịu trách nhiệm bồi thường

+ Hành vi gây thiệt hại do yêu cầu của tình thế cấp thiết.

 Theo BLHS quy định: “Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa

Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm”

 Ví dụ: Ông A đang chạy trên đường thì bé B bất ngờ chạy ra Ông A vì muốn bảo vệ tính mạng của bé B nên đã tông con chó gần đó Đây không phải là hành vi trái pháp luật Do đó, ông A không phải chịu trách nhiệm bồi thường

+ Gây thiệt hại có sự đồng ý hợp pháp của người bị thiệt hại.

Ví dụ: Ông A thuê Ông B tới đập phá bức tường của mình để xây dựng mới Mặc dù ông B gây thiệt hại về bức tường cho ông A nhưng đã được ông A đồng ý nên đây không được coi là hành vi trái pháp luật Do đó, ông A không phải chịu trách nhiệm bồi thường

+ Gây thiệt hại khi thi hành công vụ hoặc thực hiện chức trách nghề nghiệp.

Ví dụ: Sĩ quan công an B thực hiện hành vi tử hình đối với tử hình A bằng cách sử dụng súng làm cho A bị thiệt hại về tính mạng Nhưng đó không phải là hành vi trái pháp luật

+ Những trường hợp khác do luật qui định.

Vấn đề 1:

4 Trong Bản án số 189, việc Toà án công nhận hợp đồng không được công chứng, chứng thực có thuyết phục không ? Vì sao ?

Trang 10

Việc Tòa án công nhận hợp đồng không được công chứng, chứng thực thì thuyết phục

Vì theo khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 quy định: “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Toà án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực” Đối chiếu quy định này cho thấy chỉ cần các bên đã thực hiện

ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó mà không cần phải thực hiện tiếp việc công chứng, chứng thực Do đó, việc Tòa án công nhận Hợp đồng số 14 là hoàn toàn phù hợp

5 Việc Tòa án xác định hợp đồng chuyển nhượng vi phạm và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong bản án số 41 có thuyết phục

không ? Vì sao ?

Việc Tòa án xác định hợp đồng chuyển nhượng vi phạm về và hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong bản án số 41 là không thuyết phục

Vì hợp đồng chuyển nhương quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Đức Diêu và ông Bùi Quang Ngọc được ký ngày 27/10/200, mặc dù không đảm bảo về hình thức do không đươc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định nhận nhưng đến ngày 02/11/2009, ông Nguyễn Đức Thành mới có đơn khởi kiện để ngày 29/10/2009 yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu là đã quá 2 năm kể từ ngày hợp đồng được xác lập Theo quy định tại khoản 1 Điều 126 BLDS 2015, thời hiệu khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bộ hợp đồng vô hiệu đã hết Vì vậy, đến thời điểm ông Thành khởi kiện hợp đồng này không bị vô hiệu

6 Theo BLDS, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Cơ sở pháp lý: Điều 131 BLDS 2015

“Điều 131 Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1 Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa

vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập

2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận

Ngày đăng: 27/05/2022, 23:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức lỗi - Tổng hợp vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Hình th ức lỗi (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w